Địa vị pháp lý của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự - Pdf 31

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, chưa từng
công bố trong một công trình khoa học của người khác. Các tài liệu tham khảo
được trích dẫn một cách hợp pháp.
Ngƣời viết

Lê Thị Thanh Loan

2


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Luật học
Nguyễn Ngọc Khánh – Viện khoa học kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, người đã hướng dẫn khoa học và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn
thành Luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô
giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy, cô cộng tác viên
giảng dạy tại Khoa, những người đã tận tình dìu dắt và truyền đạt lại những
kiến thức khoa học pháp lý bổ ích cho tôi trong suốt khoá học.
Xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn đồng môn, đồng nghiệp
đã luôn ở bên cạnh động viên và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện Luận
văn này.

Lê Thị Thanh Loan

3


MỤC LỤC
Trang bìa

15
17
22
26

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1.Khái quát quá trình phát triển của pháp luật nước ta về địa
vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
2.1.1. Giai đoạn từ 1945 – 1959
2.1.2. Giai đoạn từ 1959 – 1989
2.1.3. Giai đoạn từ 1989 – 2002
2.1.4. Giai đoạn từ 2002 - trước khi ban hành Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004
2.2. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành
2.2.1. Vị trí, chức năng, phạm vi tham gia phiên toà của Viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự hiện hành
2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát trong
4

26
26
27
29
39
40
42
46

3.1.2. Hoàn thiện địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự trên cơ sở đòi hỏi từ thực tiễn cuộc sống
3.1.3. Hoàn thiện địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự trên cơ sở tham khảo có chọn lọc
kinh nghiệm nước ngoài
3.2. Những đề xuất cụ thể
3.2.1. Về thẩm quyền của Viện kiểm sát khi tham gia tố tụng
nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi
ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện
quyền dân sự và/hoặc không thể tự bảo vệ mình
3.2.2. Về thẩm quyền của Viện kiếm sát khi tham gia tố tụng
với vị trí là người bảo vệ luật pháp và lợi ích của luật

66

PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

91
93

5

66

68
72

84
85


PhÇn më ®Çu
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt nam qua các thời kỳ, Bộ máy
Nhà nước và hệ thống pháp luật của nước ta cũng không ngừng phát triển và
ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng
trong mỗi giai đoạn cụ thể. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách
mạng non trẻ, Viện công tố (tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân ngày nay)
đã được thành lập nằm trong hệ thống Toà án nhân dân với những chức năng,
nhiệm vụ hết sức quan trọng góp phần bảo vệ thành quả và chính quyền cách
mạng. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước và trong các
hoạt động tố tụng đã có nhiều thay đổi lớn lao cùng với sự thay đổi của đất
nước và đòi hỏi của xã hội. Nếu như quy định pháp luật về địa vị pháp lý của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự tương đối ổn định, dường như
không có thay đổi gì nhiều thì trong tố tụng dân sự lại có những chuyển biến
sâu sắc, tạo nên nét đặc sắc trong tổ chức và thực thi quyền lực của nước ta.
Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là một chế
định có từ sớm trong lịch sử lập pháp nước ta nhưng chưa thực sự đi vào cuộc
sống khi đất nước còn đang trong giai đoạn chiến tranh, lúc này nhiệm vụ trung
tâm là giải quyết các vụ án hình sự, cho nên các quy định của pháp luật về địa vị
pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự được quy định chặt
chẽ và đầy đủ hơn. Trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế mà nước ta đang tiến hành
hiện nay thì vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là
một nội dung rất quan trọng, một mắt xích quan trọng trong công cuộc cải cách
tư pháp. Do vậy, nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện về địa vị pháp lý của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là một việc làm cần thiết góp phần
thực hiện thành công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Việc xác định địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân
sự có ý nghĩa quan trọng, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn, bởi điều đó

chưa đi sâu nghiên cứu các nội dung cụ thể :
Trong thời gian qua, đã có nhiều văn bản Pháp luật mới được ban hành có
liên quan đến chế định Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự như Hiến
8


pháp năm 1992 sủa đổi năm 2002, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân, và đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự
ngày 15/06/2004 có hiệu lực ngày 01/01/2005 theo đó, địa vị pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự có sự thay đổi cơ bản về chất và một số
vấn đề pháp lý liên quan đến chế định này đã được làm rõ. Tuy nhiên, tính
thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản Pháp luật với Bộ luật tố tụng dân sự
vẫn chưa được đảm bảo, do vậy vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu xây dựng các
quy định về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự để
đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản Pháp luật.
Mặt khác, trong thực tiễn hoạt động kiểm sát đã gặp phải không ít những
vướng mắc, khó khăn khi áp dụng các quy định về địa vị pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ngay cả việc ban hành Bộ luật tố tụng
dân sự cũng chưa giải quyết được triệt để. Bộ luật tố tụng dân sự đã có hiệu
lực gần một năm với rất nhiều những thay đổi quan trọng về địa vị pháp lý của
Viện kiểm sát nhân dân nhưng những văn bản hướng dẫn thực hiện những quy
định này vẫn chưa đủ do vậy cũng gây khó khăn trong quá trình điều chỉnh
Pháp luật và áp dụng Pháp luật nên cần nghiên cứu, hoàn thiện làm tiền đề
cho việc xây dựng các văn bản hướng dẫn một cách đầy đủ, toàn diện và thống
nhất.
Các luận điểm nêu trên chính là cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
"Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự" mà tác giả
lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong thời gian qua, số lượng đề tài nghiên cứu về “Địa vị pháp lý của

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận, chỉ ra những điểm bất cập, thiếu sót về
mặt xây dựng pháp luật tố tụng dân sự, từ đó đóng góp hoàn thiện quy định về
địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, dựa trên nền
tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận văn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, chứng minh, so
sánh đối chiếu; phương pháp đánh giá, khái quát hoá và hệ thống hóa vấn đề
và một số phương pháp nghiên cứu khác.
10


5. Bố cục của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân
dân trong tố tụng dân sự.
Chƣơng 2: Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng.
Chƣơng 3: Hoàn thiện địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự.

11


CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.
1.1. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY
NHÀ NƢỚC.


để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lực chức năng, nhiệm vụ của mình. Theo Hiến
pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 của
Quốc hội (sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992 sửa đổi) thì bộ máy Nhà nước ta
gồm 4 hệ thống cơ quan: các cơ quan quyền lực (Quốc hội và Hội đồng nhân
dân địa phương), các cơ quan quản lý (Chính phủ và Uỷ ban nhân dân địa
phương), các cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân
địa phương) và các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát nhân dân địa phương). Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ
thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy Nhà nước ta, là một trong 4 cơ
quan cấu thành bộ máy Nhà nước.
Theo quy định của Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Viện kiểm
sát nhân dân có 2 chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Với quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi cho
phép nhận thức rằng, so với Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992, chức năng
của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Hiến pháp năm 1992 sửa đổi về
cơ bản là không thay đổi, vẫn là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật1. Bởi lẽ đó, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi vẫn giữ nguyên tên gọi
cũng như vị trí của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đáng lưu ý là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 sửa đổi và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đều có

Căn cứ vào nội dung Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) chúng ta thấy sự điều chỉnh chức năng của
Viện kiểm sát chỉ có hệ quả là phạm vi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hệ thống cơ
quan này bị thu hẹp lại chứ bản thân hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật vẫn tiếp
tục được duy trì. Cụ thể là: Theo Hiến pháp năm 1992 Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trên các lĩnh vực: hành chính, kinh tế, xã hội, điều tra, xét xử, thi hành án, giam giữ và
cải tạo. Nay, theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Viện kiểm sát nhân dan chỉ kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong các hoạt động tư pháp (điều tra, xét xử, thi hành án, giam, giữ và cải tạo), không kiểm sát việc

giải thích chính thức về các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp, nhưng căn
cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và trên cơ sở các tài
liệu mà chúng ta có được về hoạt động này thì có thể hiểu một cách khái quát
nhất rằng các hoạt động tư pháp là các hoạt động tố tụng (tố tụng hình sự, tố
tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng lao động, tố tụng kinh tế). Và như vậy,
kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ
trong hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng. Mục đích của hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp là nhằm
14


bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng
được thực hiện trên cơ sở và theo quy định của pháp luật. Nội dung các quyền
của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
đối với các hoạt động tư pháp là tất cả các quyền năng pháp lý do pháp luật
quy định mà Viện kiểm sát nhân dân được sử dụng để phát hiện vi phạm và
yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và những
người tham gia tố tụng, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
1.2. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ.

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự.
Địa vị pháp lý nói chung theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông
dụng là “Tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho
một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập"2
Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân và của cơ quan Nhà nước nói
chung được xác định bởi vị trí, vai trò của nó trong hệ thống các cơ quan nhà
nước, tính chất quyền lực và chức năng nhà nước mà cơ quan đó được giao,

tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự giữa Toà án, cơ quan tiến
hành tố tụng và những người tham gia tố tụng.
Từ đó có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự được phản ánh và thể hiện ở những phương diện:
- Các quy định của pháp luật về vị trí, chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự.
- Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
Cũng như nhiều chế định pháp lý khác ở nước ta, địa vị pháp lý của Viện
kiểm sát nhân dân nói chung, trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự nói
riêng được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trước
hết phải nói đến là Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều
137 Hiến pháp 1992 sửa đổi quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát
nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”.

16


Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002 đã quy định một cách khái quát về vị trí, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự (Điều 20 – 25
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002). Sau khi Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 ra đời, địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự được quy định rất cụ thể trong Bộ luật này và có nhiều nội dung mới
mà các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân chưa thay đổi kịp
cho phù hợp. Sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự đánh dấu một bước pháp
điển hoá cao trong kỹ thuật lập pháp của nước ta, phần nào đã tập trung được

vừa nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên, vừa đảm bảo sự can thiệp
từ phía nhà nước trong trường hợp cần thiết. Các nước theo truyền thống luật
án lệ (Common law) thì cho rằng trong quan hệ dân sự càng ít sự can thiệp của
công quyền càng tốt và vì thế, Viện công tố những nước này hầu như không
tham gia vào tố tụng dân sự.
Đối với các nước theo truyền thống luật dân sự, khi tham gia vào tố tụng
dân sự, thông thường, Viện công tố có ba vị trí khác nhau: là nguyên đơn, là
người giám sát và là bị đơn. Tương ứng với mỗi vị trí đó, Viện công tố có
những nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. Khi khởi kiện vì lợi ích công, Viện
công tố là một bên trong tố tụng dân sự, có quyền và nghĩa vụ tố tụng như
nguyên đơn khác, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ nộp án phí và chi phí tố tụng.
Khi tham gia tố tụng dân sự với vai trò giám sát (thường trong các vụ án mà
một bên là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm
thần hoặc các trường hợp tuyên bố chết, tuyên bố mất tích, tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự …), Viện công tố có trách nhiệm giám sát việc áp dụng
pháp luật và có nghĩa vụ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Sự
tham gia của Viện công tố trong hai trường hợp này xuất phát từ nhu cầu bảo
vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ lợi ích công cộng và đảm bảo công bằng xã hội.
Viện công tố không có một lợi ích vật chất nào liên quan tới vụ án cũng như
không bị ràng buộc chỉ vì lợi ích từ phía các đương sự. Thậm chí, ngay cả
trong trường hợp quyền của người chưa thành niên, người bị nhược điểm về
thể chất hoặc tâm thần bị xâm phạm thì việc Viện công tố tham gia tố tụng
cũng không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân cho họ mà trước hết là bởi bản
chất những vụ việc này có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội. Còn khi là
18


bị đơn (pháp luật một số nước quy định: khi Nhà nước hoặc các pháp nhân
công pháp bị kiện thì Viện công tố sẽ tham gia với tư cách bị đơn), Viện công
tố có quyền và nghĩa vụ như bị đơn.

công đưa vụ kiện ra tòa. Còn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thể
hiện bằng thẩm quyền khởi tố, đó là việc nhân danh quyền lực công đưa vụ
kiện ra toà. Còn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thể hiện bằng các
thẩm quyền còn lại. Mặc dù là hai chức năng riêng biệt trong tố tụng dân sự
nhưng chúng có quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, đan xen, không tách rời,
chức năng này làm tiền đề, tạo điều kiện và hỗ trợ cho chức năng kia và đảo
ngược lại. Theo quan điểm này, không thể tách bạch hai chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, và vì vậy nhiệm vụ và
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự đều xuất phát từ
hai chức năng này.
Quan điểm thứ ba lại cho rằng: trong tố tụng dân sự Viện kiểm sát chỉ
có một chức năng duy nhất là kiểm sát các hoạt động tư pháp. Chức năng thực
hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự vì quyền công tố là quyền
của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người đã thực hiện
hành vi tội phạm. Đối tượng của quyền công tố không có trong lĩnh vực dân sự
mà chỉ có thể là tội phạm và người phạm tội. Vì vậy, mọi thẩm quyền của Viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự đều xuất phát từ chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp.
Các quan điểm trên, theo chúng tôi, phần lớn đều dựa trên cơ sở các quy
định của pháp luật. Quan điểm thứ nhất dựa trên các quy định của Hiến pháp
năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Quan điểm thứ
hai dựa vào các quy định của Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 1981. Quan điểm thứ ba dựa vào các quy định của Hiến pháp
năm 1992 sửa đổi và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Chính vì
dựa trên các quy định của pháp luật nên khi pháp luật thay đổi, các quan điểm
về Viện kiểm sát nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng cũng thay đổi
theo. Nhưng không lẽ vì vậy mà vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự cũng thay đổi, khi thì thuộc chức năng này, khi thì chuyển sang thuộc
chức năng khác? Hơn nữa, thật khó khi phải tin rằng quyền công tố xuất phát
từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, là một nội dung của chức năng

hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì không giải thích được tại
sao Viện kiểm sát – Viện Công tố một số nước có chức năng thực hành quyền
công tố nhưng lại không có thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự hoặc cũng như tại
21


sao Viện kiểm sát – Viện công tố một số nước không có chức năng kiểm sát
các hoạt động tư pháp nhưng lại có thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự). Điều đó
có nghĩa là ngoài nhiệm vụ chính (mà nếu không có nhiệm vụ này thì không
còn là cơ quan công tố nữa) là truy tố và buộc tội kẻ phạm tội trước toà, Viện
kiểm sát hoặc Viện công tố còn có thể được giao những nhiệm vụ khác nữa mà
ở mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, những nhiệm vụ này là
rất khác nhau.

1.2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự.
Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự có thể xác
định trên hai phương diện:
Phương diện thứ nhất, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra và được quy định
trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp
luật khác mà Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện bằng những hình thức ,
biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự. Từ quy định
của Điều 2 về nhiệm vụ chung của toàn ngành kiểm sát nhân dân (Viện kiểm
sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính
mạng, sức khoả, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm
để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật) và quy định của
Điều 20 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 về mục đích hoạt

Căn cứ vào các giai đoạn tố tụng dân sự có thể phân nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự thành:
-

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn xét xử
sơ thẩm,

- Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn xét xử
phúc thẩm,
- Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn giám
đốc thẩm, tái thẩm,
23


-

Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn tố tụng
đặc biệt là công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết
định dân sự của Toà án, trọng tài nước ngoài.

Căn cứ vào tính chất, nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự có thể phân loại thành:
- Quyền tham gia một số phiên toà (theo quy định tại Điều 21
BLTTDS năm 2004), phiên họp việc dân sự sơ thẩm, một số phiên
toà xét xử phúc thẩm (phiên toà Viện kiểm sát nhân dân tham gia ở
phiên toà sơ thẩm hoặc phiên toà do Viện kiểm sát nhân dân kháng
nghị phúc thẩm), phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Quyền kháng nghị các bản án, quyết định dân sự của Toà án theo thủ
tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Quyền yêu cầu, kiến nghị Toà án, đương sự và những người tham gia

quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự… ở Liên bang Nga cũng vậy, nhiệm vụ
quyền hạn của Viện kiểm sát Liên bang Nga trong tố tụng dân sự được ghi nhận
trong Luật tổ chức Viện kiểm sát Liên bang, trong Bộ luật dân sự, trong Bộ luật
tố tụng dân sự, trong Luật về môi trường…
Nói tóm lại, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự là nhiệm vụ quyền hạn do pháp luật quy định. Nhiệm vụ, quyền
hạn này được xác định trên cơ sở vị trí, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác nhau,
nhưng chủ yếu là trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004.

25


CHƢƠNG 2.
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT NƢỚC TA VỀ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.

2.1.1 Giai đoạn từ 1945 – 1959
Pháp luật của Nhà nước ta quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của
công tố viên trong tố tụng dân sự như sau:
- Sắc lệnh số 13 về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán quy định:
“Mỗi tuần lễ ít ra cũng phải có hai phiên toà công khai, một phiên hộ và một
phiên hình. Tại phiên toà, chánh án ngồi xử, biện lý ngồi ghế công tố viên”.
Sau đó ít lâu Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946 ấn định quyền
của các toà án và sự phân công giữa các nhân viên tư pháp. Trong Sắc lệnh, vị
trí, chức năng và nhiệm vụ của Viện công tố được quy định khá rõ ràng. Điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status