Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự - Pdf 33

MỤC LỤC
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TTHS
1.1 Khái niệm người bào chữa
1.2 Phân loại người bào chữa
1.3. Vai trò của người bào chữa trong TTHS
2. ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1. Quyền của người bào chữa
2.2. Nghĩa vụ của người bào chữa
3. Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH ĐỊNH VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
3.1 Ý nghĩa pháp lí
3.2 Ý nghĩa chính trị xã hội
4. THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỊA
VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
4.1. Thực tiễn thực hiện những quy định về địa vị pháp lý của người bào chữa
4.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
4.3. Kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa


Quyền bào chữa có thể coi như là quyền đối trọng với quyền buộc tội của Nhà
nước. BLTTHS đang đứng trước yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung, nhất là những quy định
về người bào chữa trong tố tụng hình sự (TTHS). Việc xác định đúng đắn quyền, nghĩa
vụ của người bào chữa trong TTHS sẽ góp phần rất quan trọng đối với hiệu quả hoạt
động TTHS và công cuộc cải cách tư pháp nói chung. Khi người bào chữa đã tham gia
vào TTHS thì pháp luật phải quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ; những quy
định này sẽ tạo thành địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS. Việc người bào
chữa tham gia vào các giai đoạn TTHS đã ít nhiều làm cho các cơ quan tiến hành tố
tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, góp phần khắc phục tình trạng oan, sai đem
lại một nền tư pháp công bằng, dân chủ, văn minh. Để hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ
của người bào chữa, em xin chọn đề tài “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố
tụng hình sự”.


sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.
Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố
tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức đó theo quy định của pháp luật. Hoạt động bào chữa của luật sư có tính chất
chuyên nghiệp. Để được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện
(Điều 10 và Điều 11 luật Luật sư năm 2006). Luật sư được lựa chọn hình thức để hành
nghề theo một trong hai hình thức là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành
nghề với tư cách cá nhân (Điều 23 luật Luật sư năm 2006). Luật sư tham gia bào chữa
trong trường hợp sau: Theo hợp đồng dịch vụ pháp lí; Theo yêu cầu của CQTHTT.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ
nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị
can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị
cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố tụng
với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào
chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa. Người đại diện hợp pháp
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm
thần; có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người
không có quốc tịch hoặc người Việt Nam ở nước ngoài. Bào chữa viên nhân dân tham gia
tố tụng trong 2 trường hợp: Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng ( khoản 2 điều
57) . Ủy ban mặt trận tổ quốc VN , tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào chữa viên
nhân dân tham gia TTHS ( khoản 3 điều 57).
Bào chữa viên nhân dân: là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa
cho bị cáo. Hiện nay chưa có quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trong thực tế
hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống. Theo


khoản 3 Điều 57 của BLTTHS năm 2003 thì: " Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người

và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi
phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. Như vậy,
có thể thấy, sự tham gia của người bào chữa góp phần nâng cao chất lượng điều tra, xét xử,
đảm bảo công bằng và dân chủ trong pháp luật TTHS Việt Nam. BLTTHS năm 2003 quy
định cho người bào chữa quyền này là hoàn toàn hợp lý.
Thứ hai, Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị
can để có mặt khi hỏi cung bị can.


Đây là quyền mới quy định cho người bào chữa được ghi nhận trong BLTTHS năm 2003.
Quy định này thể hiện tính minh bạch, dân chủ trong hoạt động của CQĐT. Quyền này sẽ
tạo cho người bào chữa sự chủ động bố trí, sắp xếp công việc để tham gia vào các buổi hỏi
cung, tạo đều kiện thuận lợi cho người bào chữa có thêm cơ hội thu thập chứng cứ đồng
thời cũng theo dõi quá trình hỏi cung bị can xem có mớm cung, bức cung không, có sự vi
phạm các thủ tục tố tụng không. Việc người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can phải có
sự chủ động từ cả hai phía. Khi có đề nghị của người bào chữa thì CQĐT sắp xếp để họ
tham gia vào buổi hỏi cung, như vậy vừa đảm bảo quyền của người bào chữa vừa không
gây trở ngại cho công tác điều tra.
Thứ ba, Theo điều 43 và điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có
quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có
căn cứ theo Điều 42 BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến
hành tố tụng, và nếu xét thấy việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể
làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa. Đối
với người giám định, họ phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong
những trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 60 BLTTHS năm 2003. Thay đổi người
phiên dịch quy định tại Điều 61 BLTTHS năm 2003.
Với mục đích bảo đảm sự công bằng khách quan của quá trình giải quyết vụ án,. Một trong
những chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng khác là người bào chữa.
Thứ tư, Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ

CQTHTT phải trả lời cho người bào chữa biết về vệc giải quyết những yếu cầu của người
bào chữa. Quy định này đảm bảo cho quyền đưa ra yêu cầu của người bào chữa được tôn
trọng và thực hiện bởi CQĐT và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra hình sự.
Thứ sáu Quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Việc gặp gỡ thường xuyên,
trao đổi vơi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo giúp cho người bào chữa biết rõ tình tiết của vụ
án, các đặc điểm nhân thân, cũng như diễn biến tâm lý của người được bào chữa và những
tâm tư, nguyện vọng của họ. Điều đó cho thấy, quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là một quyền có ý nghĩa rất lớn đối với người bào chữa. Những thông tin mà người bào
chữa nhận được từ những lần gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể xác minh lại
những chứng cứ buộc tội của cơ quan điều tra, hoặc tìm ra những tình tiết gỡ tội cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Bên cạnh đó, về mặt tâm lý, khi thực hiện quyền này, người bào chữa sẽ tạo được lòng tin
từ phía người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, và họ dễ dàng cung cấp những thông tin về sự thật
vụ án. Với sự tin tương đó, người bào chữa có thể động viên để người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo khai báo thành khẩn với cơ quan điều tra, từ đó được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Qua đây, người bào chữa có thể phát hiện kịp thời những sai phạm nếu có trong quá trình
giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, và hiểu rõ quyền của mình khi tham gia tố
tụng là một trong những điều kiện đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo từ đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ thân chủ của mình.


Thứ bảy, Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến
việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật. Qua việc đọc và ghi
chép hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng
cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên cơ sở đó người bào chữa
chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Người bào chữa có đọc hồ sơ
vụ án mới biết bị can phạm tội gì, theo điều, khoản nào để chuẩn bị tài liệu bào chữa cho bị
can, bị cáo tại phiên tòa. Qua việc đọc hồ sơ, tài liệu vụ án, người bào chữa cũng có điều
kiện để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên
cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền.

định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn được đặt
trong sự giám sát kiểm tra. Có như vậy hoạt động tố tụng luôn mang tính khách quan và
toàn diện, tránh những sai sót, vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào
chữa.
Thứ mười, Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành
niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại Điểm b Khoản 2
Điều 57 của BLTTHS năm 2003. Điều 231 BLTTHS quy định những người có quyền
kháng cáo trong đó: “Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” Đây là quyền độc
lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng
như đại diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của người bào chữa phải theo hướng có lợi
cho bị cáo. Người bào chữa phải kháng cáo theo hướng có lợi cho bị cáo. Việc quy định
quyền kháng cáo cho người bào chữa không loại trừ quyền kháng cáo của bị cáo chưa
thành niên. Tại điểm b Mục 1 Phần II Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004
hướng dẫn: “Trường hợp trong các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị cáo, người đại
diện hợp pháp của họ đã nhờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục nhờ người đó bào chữa
thì… cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó”.
Như vậy, giấy chứng nhận người bào chữa chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng
nhất định. Khi được CQTHTT cấp giấy chứng nhận người bào chữa mới có tư cách người
bào chữa và địa vị pháp lý của họ mới được xác lập. Bị cáo chưa thành niên và người đại
diện hợp pháp của họ có nhiều lý do để không mời người đã bào chữa cho bị cáo ở giai
đoạn xét xử sơ thẩm tiếp tục bào chữa ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Vì vậy, địa vị pháp lý
của người của người bào chữa ở giai đoạn phúc thâmmr và kháng cáo của họ liệu có còn
giá trị pháp lý không? Điều này cần được giải thích, hướng dẫn cụ thể hơn.
2.2. Nghĩa vụ của người bào chữa
Ngoài các quyền mà pháp luật đã quy định, trong khi thực hiện việc bào chữa của
mình người bào chữa cho bị can, bị cáo còn phải tuân thủ những quy định về nghĩa vụ do
pháp luật quy định. Người bào chữa trong TTHS có những nghĩa vụ nhất định, Khoản 3
Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định cho người bào chữa các nghĩa vụ sau:


pháp.
Tuy nhiên, người bào chữa có thể từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003 về những
trường hợp không được bào chữa:


“- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang
tiến hành tố tụng trong vụ án đó;
- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc
người phiên dịch.”
Thuộc một trong những trường hợp trên được xem là có lí do chính đáng để người
bào chữa từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Việc từ chối này hoàn toàn
nhằm mục đích bảo đảm sự khách quan vô tư của những người tiến hành tố tụng và tham
gia tố tụng, cũng là một phương thức bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.
Thứ tư, Nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật; nghĩa vụ không được mua chuộc,
cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Hiện
nay có nhiều quan điểm khác nhau về nghĩa vụ của người bào chữa. Có quan điểm cho
rằng người bào chữa phải đặt lợi ích của bị can, bị cáo mà mình bảo vệ lên trên hết vì
người bào chữa tham gia tố tụng xuất phát từ ý chí của bị can, bị cáo hoặc do người đại
diện hợp pháp của họ mời hoặc CQTHTT chỉ định. Ngược lại với quan điểm trên, có quan
điểm lạ cho rằng người bào chữa phải đặt lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội lên trên
hết sau đó mới đến lợi ích của người mà họ bào chữa. Tuy nhiên, dù đang tham gia TTHS
với vai trò người bào chữa nhưng bản thân người bào chữa không thể không thực hiện
trách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân trong đó có trách nhiệm bảo vệ pháp chế, đấu
tranh với tội phạm. Hai nhiệm vụ trên không hề mâu thuẫn nhau, mục tiêu đều là việc điều
tra, truy tố, xét xử được tiến hành khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ có hiệu quả lợi ích
của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, không nên đặt
nhiệm vụ nào cao hơn nhiệm vụ nào. Ý thức được nghĩa vụ này, người bào chữa không
được muc chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu

3. Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH ĐỊNH VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA
3.1 Ý nghĩa pháp lí
Về mặt pháp lý việc quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa có một ý nghĩa
rất quan trọng: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tham gia vào quá trình giải
quyết vụ án để giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can bị cáo. Qua đó sự
tham gia của người bào chữa cũng góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án được đúng
đắn, không để bị can, bị cáo bị buộc tội oan sai. Nâng cao hiệu quả hoạt động của của quá
trình tiến hành tố tụng. Đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể có thẩm
quyền phải thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật. Người bào chữa tìm các chứng
cứ, chứng minh nhằm gỡ tội, giảm tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đó.
Giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể có
quyền. Do đó các cơ quan và chủ thể này phải cẩn thận trong các hoạt động thực thi pháp
luật của mình. Dựa vào các quyền mà pháp luật trao cho người bào chữa trong quá tình tố
tụng từ khi khởi tố vụ án, hay trong các trường hợp bắt người cho đến khi thi hành
án...người bào chữa tham gia vào qua trình đó sẽ khiến cho các tình tiết vụ án được công
khai và minh bạch...


3.2 Ý nghĩa chính trị xã hội
Quy định này là cách đảm bảo tốt nhất quyền bào chữa của công dân, phù hợp với
nguyên tắc Hiến định. Nó thể hiện tính dân chủ của LTTHS và tạo điều kiện cho TTHS đạt
được mục đích đặt ra đó là bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc tham gia của người bào
chữa sẽ làm cho các CQTHTT không lạm dụng quyền lực của mình, cùng với CQTHTT
giải quyết vụ án đúng pháp luật, đúng người đúng tội, tạo lòng tin trong dân chúng vào
Đảng và Nhà nước.
Việc quy định địa vị pháp lý của người bào chữa thể hiện tính nhân đạo của chế độ.
Pháp luật quy định quyền bào chữa tạo điều kiện tối đa cho bị can, bị cáo bảo vệ mình
trước pháp luật. Người bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo
chính là đảm bảo cho trạng thái xã hội – nhà nước cân bằng, củng cố nền pháp chế dân chủ.

gặp trong 1 giờ. Điều này là không phù hợp.
Sau khi kết thúc điều tra, NBC có quyền đọc, ghi chép và sao chụp hồ sơ vụ án có
liên quan…tuy nhiên ở nhiều địa phương, để thực hiện được quyền này thì NBC còn phải
phụ thuộc vào thái độ đồng ý của KSV. Trình tự xét hỏi ở phiên tòa cũng có nhiều điểm bất
cập. Trên thực tế hầu hết chỉ có Thẩm phán, Hội thẩm, VKS được đặt câu hỏi. Phần hỏi
của NBC thường bị chủ tọa cắt ngang với lý do “ nội dung này đã nói rồi”.
Ngoài ra tại phần tranh luận NBC vẫn có thể bị chủ tọa hạn chế thời gian phát biểu.
Bản chất của tranh tụng cũng chưa được thực hiện triệt để, Hội đồng xét xử nghiêng nhiều
về phía VKS, không bắt VKS phải đối đáp đầy đủ theo pháp luật. Những thực trạng trên
khiến luật sư cảm thấy mình không được tôn trọng xứng đáng từ các cơ quan, người tiến
hành tố tụng.
Trong thực tiễn tham gia tranh tụng, tồn tại tình trạng NBC tham gia tranh tụng còn
lúng túng khi bào chữa. Có luật sư khi tham gia bào chữa còn thay quyền công tố kết tội bị
cáo khác để làm lợi cho thân chủ mình. Lại có luật sư và thân chủ không hiểu nhau nên
mâu thuẫn trong phần bào chữa. Luật quy định NBC có quyền kháng cáo, khiếu nại trong
một số trường hợp nhưng thực tế NBC còn chưa sử dụng quyền này. Vẫn còn tồn tại nhiều
trường hợp NBC coi trọng vật chất, lợi dụng sự am hiểu pháp luật của mình để vi phạm
pháp luật, không thực hiện đúng nghĩa vụ luật định như cố tình làm sai lệch vụ án hay chạy
án. Những điều này làm cho uy tín NBC bị suy giảm, vì vậy cần có chế tài xử lý thích đáng
đối với NBC vi phạm
4.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
Pháp luật quy định cho người bào chữa những quyền năng tố tụng cơ bản nhưng lại
không quy định cụ thể các cơ chế bảo đảm cho người bào chữa thực hiện những quyền đó.
Ngoài trường hợp một số người tiến hành tố tụng có trình độ thấp hơn luật sư nên mặc cảm
rằng luật sư vào là “lắm điều nhiều lẽ” còn có trường hợp người tiến hành tố tụng không
nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ tố tụng của mình là phải tạo điều kiện thuận lợi cho bị can, bị
cáo, người bị tạm giữ thực hiện quyền bào chữa


Hạn chế do số lượng, chất lượng người bào chữa. Hạn chế do ý thức của người bào

khi không có sự tham gia của luật sư bào chữa. Do đó theo em nên sửa đổi bổ sung về
quyền thu thập, sử dụng, đánh giá tài liệu chứng cứ của luật sư theo hướng luật sư có thể
lựa chọn thời điểm đưa ra các tài liệu, chứng cứ mà mình thu thập được để phục vụ cho


việc tiến hành tố tụng và yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng thẩm định tính chân thực
của các tài liệu chứng cứ đó. Xem xét lại khoản 4 của Điều 58, Sửa đổi khoản 4 Điều 56:
CQĐT, VKS, Chánh án Tòa án hoặc hội đồng xét xử phải xem xét cấp giấy chứng nhận
người bào chữa. Nên sớm xây dựng quy trình cấp giấy chứng nhận bào chữa, với thủ tục
đơn giản hóa về mặt giấy tờ. Sửa đổi điểm g Khoản 2 Điều 58: Pháp luật nên quy định cụ
thể những tài liệu nào người bào chữa được ghi chép, sao chụp. Nên mở rộng tất cả các tài
liệu có trong hồ sơ vụ án, trừ tài liệu thuộc an ninh quốc gia, bí mật nhà nước để người bào
chữa có đầy đủ thông tin để bào chữa.
Về đào tạo, bồi dưỡng người bào chữa: Cần phải chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa
đội ngũ những người bào chữa có trình độ pháp lý cao hơn hoặc ít ra cũng tương xứng với
nhau về trình độ hiểu biết pháp luật, bảo đảm tính “đối trọng” của phía gỡ tội với phía buộc
tội trong TTHS. Nâng cao địa vi pháp lý cho người bào chữa trong TTHS chính là một
trong những phương thức tránh oan sai và bảo đảm sự công bằng, khách quan đối với việc
giải quyết các vụ án hình sự.

Việc người bào chữa xuất hiện và tham gia vào quá trình TTHS là một đòi hỏi
khách quan và hết sức tự nhiên của xã hội loài người tiên tiến. Qua các giai đoạn phát
triển của tố tụng nước ta, tùy thuộc vào từng điều kiện lịch sử cụ thể, những quy định
của hiến pháp và pháp luật về địa vị pháp lí của người bào chữa ngày càng được kế
thừa, nâng cao và hoàn thiện. BLTTHS 2003 đã mở rộng quyền của người bào chữa
đây là một bổ sung rất quan trọng, giúp cho người bào chữa khả năng thực hiện tốt
nhiệm vụ bào chữa của mình, đảm bảo cho việc buộc tội của Viện kiểm sát khách quan,
không phiến diện, một chiều nhưng những quy định đảm bảo cho các quyền ấy được
thực hiện trên thực tế vẫn chỉ là lý thuyết nên việc bổ sung và hoàn thiện các quy định
của BLTTHS là một yêu cầu tất yếu. Việc tìm hiểu vấn đề qua bài viết trên đây sẽ góp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status