người bào chữa và địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS. - Pdf 29

I – Khái quát chung về người bào chữa và địa vị pháp lí của người bào
chữa trong TTHS.
1 - Tại sao lại có quy định về NBC.
Giải quyết vụ án HS là một quá trình phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến quyền
con người, quyền tự do của công dân với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức
và cá nhân. Vì vậy pháp luật TTHS quy định quá trình này phải được tiến hành
trên cơ sở pháp lí chung, đảm bảo không xét xử oan sai đối với người vô tội, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. BLTTHS thể hiện cách xử sự của Nhà
nước đối với NBTG, BCBC, họ vẫn có quyền như mọi công dân khác tự do trừ
một số quyền tạm thời bị pháp luật TTHS hạn chế hoặc tước bỏ. Khi một công
dân trở thành đối tượng bị Nhà nước nghi là thực hiện tội phạm và buộc phải
tham gia vào quan hệ TTHS với các cơ quan Nhà nước, đang trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử người đó có thể bị Nhà nước truy cứu TNHS, bị chịu biện
pháp nghiêm khắc nhất là hình phạt, có thể bị tước bỏ nhiều quyền cơ bản của
công dân như quyền tự do về thân thể…và thậm chí tước bỏ cả quyền sống. Vì
vậy pháp luật quy định những người này có quyền biện minh cho bản thân mình
nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của Nhà nước, quyền đó là
quyền bào chữa. Quyền bào chữa có thể coi như quyền đối trọng với quyền buộc
tội của Nhà nước. Tuy nhiên khi tham gia vào TTHS, chủ thể của quyền bào chữa
thường có trạng thái căng thẳng, tự mình không nhận thức được hết những tình
tiết có lợi để bào chữa cho mình. Phần đông NBTG, BCBC không có kinh
nghiệm hi va chạm, tiếp xúc với cơ quan TTHS, người tiến hành tố tụng NTHTT
và hơn nữa pháp luật ngày càng phát triển, càng phức tạp nên không phải ai cũng
hiểu hết các quy định của pháp luật mà tự bào chữa cho mình, điều này dẫn tới
một nhu cầu khách quan trong xã hội là phải có những người hiểu biết chuyên
sâu, có chuyên môn về pháp luật để giúp BCBC bào chữa cho mình – đó chính là
những người bào chữa. Và pháp luật TTHS cũng có những quy định hết sức cụ
thể, chi tiết về chủ thể này. Khi người bào chữa tham gia vào TTHS thì pháp luật
phải quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ, những quy định này sẽ tạo
thành địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS.
2 - Khái niệm về người bào chữa trong tố tụng hình sự

đào tạo nghề luật sư, qua thời gian tập sự, được cấp chứng chỉ hành nghề...), và
được NBTG, BCBC hay người đại diện hợp pháp yêu cầu hoặc được CQTHTT
chỉ định tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NBTG, BCBC.
Luật sư tham gia bào chữa trong trường hợp sau:
. Theo hợp đồng dịch vụ pháp lí
. Theo yeu cầu của CQTHTT
+ Người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC.
BLTTHS không quy định rõ khái niệm “ người đại diện hợp pháp của
NBTG, BCBC. Tuy nhiên dựa trên quy định tại BLDS 2005 về người đại diện
theo pháp luật thì theo quan điểm này, người đại diện hợp pháp của NBTG,
BCBC là cha mẹ hoặc người giám hộ đương nhiên của NBTG, BCBC chưa thành
niên hoặc người có nhược điểm về tinh thần hay thể chất. Người giám hộ có thể
là giám hộ đương nhiên hoặc giám hộ được cử.
+ Bào chữa viên nhân dân: Xem xét khoản 2 và khoản 3 điều 57 BLTTHS
năm 2003 có thể hiều bào chữa viên nhân dân là người được mặt trận Tổ quốc
VN, tổ chức thành viên của mặt trận cử để bào chữa cho NBTG, BCBC là thành
viên của tổ chức mình.
Bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng trong 2 trường hợp:
. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng ( khoản 2 điều 57)
. Ủy ban mặt trận tổ quốc VN , tổ chức thành viên của mặt trận tự cử bào
chữa viên nhân dân tham gia TTHS ( khoản 3 điều 57).
Như vậy có thể thấy bào chữa viên nhân dân phải là thành viên của mặt trận
tổ quốc VN hoặc tổ chức thành viên của mặt trận, tham gia vào TTHS để bào
chữa cho thành viên tổ chức mình .
Tóm lại: người bào chữa là người tham gia TTHS với trách nhiệm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, BCBC. Việc tham gia tố tụng của người
bào chữa phải do NBTG, BCBC hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời, hay
đươc CQTHTT yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư hoặc đề nghị
Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt nam, tổ chức thành viên mặt trận cử. Người bào
chữa có quyền do luật định để làm rõ sự thật vụ án, phát hiện và làm sáng tỏ các

- quy định về địa vị pháp lí của người bào chữa trong TTHS góp phần bảo
vệ quyền , lợi ích hợp pháp của công dân.
- Góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa trong sự
nghiệp Đôỉ mới đất nước.
b- Ý nghĩa xã hội:
- thể hiện tính nhân đạo trong TTHS
- góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người tham gia tố tụng, cũng như
quần chúng nhân dân.
c- Ý nghĩa pháp lí:
- đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản của LTTHS ( nguyên tắc tại điều
11- BLTTHS)
- Góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án. ( thoogn qua tranh luận)
4- KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT TTHS VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA NGƯỜI
BÀO CHỮA TRƯỚC KHI BAN HÀNH BLTTHS 2003
Lịch sử nước ta đã thừa nhận rất sớm về quyền và nghĩa vụ của người bào
chữa nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử, ở chế độ khác nhau thì có
quan điểm khác nhau về địa vị pháp lí của người bào chữa.
Trong giai đoạn 1945 – 1954 từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
nhà nước ta đã ban hành nhiều sắc lệnh quy định về địa vị pháp lý của người bào
chữa như: sắc lệnh về việc thành lập Tòa án quân sự; sắc lệnh số 13/SL ngày
24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán; sau đó là sắc lệnh số 21
ngày 14/2/1946 về tổ chức các Tòa án quân sự; Nnghị định 01/ NĐ ngày
02/01/1950 của Bộ tư pháp…Những quy định trên là cơ sở pháp lý đầu tiên quy
định về quyền bào chữa, đồng thời chỉ ra được thành phần của người bào chữa.
Tuy nhiên do trình độ còn nhiều hạn chế và hoàn cảnh lịch sử của đất nước còn
nhiều khó khăn, trong các văn bản pháp lí đã quy định về địa vị pháp lí của người
bào chữa tuy chưa đầy đủ nhưng ngày càng được bổ sung hoàn thiện.
- Thời kì 1954 – 1988.
Với sự ra đời của thông tư số 22 – HCTP ngày 18/12/1957 của Bộ tư pháp
và đặc biệt sau khi các bản hiến pháp năm 1959 và 1980 ra đời đã quy định về

- NBC tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, trong trường hợp bắt
người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã ( điều 81), bắt người trong trường
hợp khẩn cấp ( điều 82 )
Từ khi kết thúc điều tra trong những trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối
với tội xâm phạm an ninh quốc gia, theo quyết định của VTVKS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status