Địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Trong TTHS, người bị hại đóng vai trò quan trọng trong thành phần những người
tham gia tố tụng. Việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người bị hại khi tham gia tố
tụng là một yêu cầu đang được đặt ra. Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm
quyền tự do dân chủ của công dân đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 48 NQ/ TW
ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị và tiếp tục khẳng định tại Nghị quyết sô 49 NQ/ TW
ngày 2/6/2005 như: “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, “tạo điều kiện thuận lợi cho
người tham gia tố tụng”.
Người bị hại (NBH) là đối tượng bị tội phạm xâm hại trực tiếp về thể chất, tinh
thần, tài sản. Vì thế họ cần là đối tượng bảo vệ của PL. Bên cạnh đó, người bị hại đóng
vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin liên quan đến vụ án và lời khai của họ
là những chứng cứ quan trọng trong vụ án hình sự. Bởi những lý do đó, PL luôn coi
trọng việc hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị hại với vai trò là một
thành phần tham gia tố tụng.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của người bị
hại trong tố tụng hình sự” là bài tập lớn học kỳ lần này.
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận về người bị hại
1. Khái niệm về người bị hại:
Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể về người bị hại, tuy nhiên chúng ta có thể
nhìn nhận NBH dưới những góc độ sau:
Về góc độ xã hội, NBH là người chịu tác động tiêu cực của sự việc, hành vi phạm tội
hoặc bất kỳ sự tác động nào dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính
họ.Và những tác động đó đương nhiên là ngoài mong muốn và ý chí của họ, bởi vậy mà
người bị hại tiếp nhận một cách thụ động về những thiệt hại vật chất và phi vật chất.
Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý NBH là người bị thiệt hại về vật chất và tinh thần do
người phạm tội gây ra. NBH chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về
vật chất, tinh thần hoặc về tài sản chứ không phải là pháp nhân.
Xét về mặt pháp lý Khoản 1 Điều 51 Bộ luật TTHS: “Người bị hại là người bị thiệt
hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra.”
Từ cách định nghĩa đó chúng ta có thể nêu lên các dấu hiệu đặc trưng về người bị hại

Hiện nay số lượng các vụ án đang ngày càng gia tăng. Thực tiễn bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NBH chưa thật sự đạt được bảo đảm vì nhiều nguyên nhân. Thông
thường cơ quan tiến hành tố tụng chỉ quan tâm trừng trị kẻ phạm tội mà chưa chú trọng
tới quyền và lợi ích của NBH, phần nữa do nhận thức của người tiến hành tố tụng và
Page | 2
NBH còn nhiều hạn chế, trong khi đó NBH mới là người cần được bảo vệ quyền lợi đầu
tiên, việc tham gia tố tụng của họ sẽ đảm cung cấp những thông tin quan trọng trong
việc xác định sự thật ủa vụ án và góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng PL.
II. Địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự
1. Quyền của người bị hại:
Khoản 2 Điều 51 BLTTHS hiện hành quy định: “Người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền:
a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Được thông báo về kết quả điều tra;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
theo quy định của Bộ luật này;
d) Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;
đ) Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình;
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng
như về hình phạt đối với bị cáo”.
 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu:
Đây có thể nhận định là quyền cơ bản của NBH . Theo đó, NBH có quyền xuát trình
các tài liệu, đồ vật để chứng minh thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho mình như:
giấy khám chữa bệnh, hóa đơn tiền viện phí
Và họ có quyền yêu cầu mời thêm người làm chứng, yêu cầu giám định tỉ lệ thương tật.
Việc cung cấp các thông tin, yêu cầu của NBH hại đóng vai trò quan trọng trong việc
giải quyết đúng đắn hơn, đặc biệt là khi các chứng cứ do CQĐT thu thập được trong
quá trình điều tra không đầy đủ, chính xác và khách quan.

“2.2. Người thân thích của đương sự là người có quan hệ sau đây với đương sự:
a. Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương sự
b. Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của đương sự;
c. Là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự;
d. Là cháu ruột của đương sự, mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại,
bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
2.3. Có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là
ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 của BLTTDS thì
trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ
công tác, quan hệ kinh tế ) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội
1
Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự
Page | 4
thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ví
dụ: Hội thẩm nhân dân là anh em kết nghĩa của nguyên đơn; Thẩm phán là con rể của
bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Thủ trưởng cơ quan nơi vợ của Thẩm
phán làm việc mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối
quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế
Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên toà xét xử vụ án dân sự Kiểm sát viên, Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án là người thân thích với nhau hoặc nếu Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên được phân công xét xử phúc thẩm vụ án dân
sự có người thân thích là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên đã tham gia
xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án đó.”
2
BLTTHS quy định cụ thể các trường hợp mà NBH có thể yêu cầu thay đổi: như
Thay đổi Điều tra viên; Thay đổi Kiểm sát viên; Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm;
Thay đổi Thư ký Tòa án. Ngoài các căn cứ quy định tại Điều 42 thì NBH có thể yêu
cầu thay đổi những thành phần THTT trên thì có thêm quy định trong trường hợp
họ đã tham gia tố tụng tư cách là người tiến hành tố tụng khác (Thẩm phán, Hội

giám định, người phiên dịch; quyền đưa đồ vật tài liệu, yêu cầu; trình bày ý kiến tham
gia tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc thực hiện quyền này một mặt thể hiện tính dân chủ trong tố tụng, mặt khác giúp
tòa đưa ra phán quyết của mình trên cơ sở phản biện của các bên. Nếu không có NBH
một số vụ án phải hoãn phiên tòa xét xử: “Điều 191. Sự có mặt của người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hoặc người đại diện hợp pháp của họ
1. Nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy
trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét
xử.
2. Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở
ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc
bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.”
 Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường
cũng như về hình phạt đối với bị cáo.”(Điểm e Khoản 2 Điều 51 BLTTHS )
Theo thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày
10/8/2005 quy định: “Khiếu nại trong tố tụng hình sự" là việc cá nhân, cơ quan, tổ
chức, theo thủ tục quy định tại Chương XXXV của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị cơ
quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn
cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình”
3
3
Tiểu mục 2.1 mục 2 thông tư
Page | 6
Đối tượng bị khiếu nại: kết luận điều tra của CQĐT, VKS, TA và các hành vi
tố tụng của người THTT. Khiếu nại là quyền của NBH, phải được cơ quan có thẩm
quyền kiểm tra, xem xét, kịp thời sửa chữa sai sót và trả lời cho người bị hại.

 Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình:
Theo Khoản 1 Điều 59 BLTTHS: “Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư,
4
Khoản 1 Điều 234 BLTTHS
Page | 7
bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà
án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình.”
Quy định này xuất phát từ nhận tức và trình độ của NBH trong thực tế còn
nhiều hạn chế, cộng thêm sự bất ổn về tinh thần do bị xâm hại về thể chất, tinh
thần và tài sản bởi tội phạm. Do đó, khi ra trước tòa người bị hại khó có khả năng
tự bào chữa và bảo vệ hợp lý quyền lợi của mình.
 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự:
Theo quy định về quyền khởi tố vụ án theo yêu cầu của NBH:
“Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các
điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự
chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp
pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất…”
Theo đó, các vụ án mà NBH có quyề yêu cầu Cơ quan Điều tra khởi tố bao gồm
các loại tội phạm sau: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người
khác theo Khoản 1 Điều 104 BLHS; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho người khác từ 31% đến 60% nhưng trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh do hành vi trái PL gây ra; tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứ khỏe người khác; tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác do vi phạm nguyên tắc
nghề ngiệp hoặc nguyên tắc hành chính; hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng

Quy định này phản ánh tâm tư của NBH, thái độ và sự phán xét của NBH trong việc bày
tỏ thái độ đối với người đã xâm phạm tới lợi ích của họ. Qua đó, Hội đồng xét xử và
những người tham gia tố tụng có thể nhìn nhận một cách toàn diện moij góc độ và toàn
diện vụ án hơn, qua đó có kết luận vụ án cho phù hợp.
Tuy nhiên trong thực tế PL không quy định rõ đây là quyền hay nghĩa vụ của NBH
nên trong thực tế có nhiều lí giải khác nhau và áp dụng không thống nhất.
2. Nghĩa vụ của người bị hại:
NBH có những nghĩa vụ nhất định:
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 51 BLTTHSquy định NBH có hai nghĩa vụ cơ
bản sau: “Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu
trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự.”
- Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Toà án:
Để đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, NBH có quyền vừa có nghĩa vụ tham
gia theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tại cơ quan tiến hành tố tụng, NBH
sẽ được giải thích về quyền và nghĩa vụ từ đó, giúp họ thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ
của mình.
Page | 9
Về hình thức: cơ quan tiến hành tố tụng phải triệu tập NBH thông qua giấy triệu tập
thông qua đường bưu điện hoặc thông qua Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của NBH. Sự
có mặt của NBH là rất quan trọng, đối với những vụ án mà quyền yêu cầu khởi tố của
NBH thì nếu người đó hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên tòa thì
phiên tòa phải được hoãn. Trong tòa phúc thẩm, nếu NBH kháng cáo hoặc có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan thì được triệu tập. Trong trường hợp NBH vắng mặt không có lí do
chính đáng thì Tòa sẽ xem xét hoãn phiên tòa hay không. Nhưng trong trường hợp
không hoãn phiên tòa thì Tòa không đực ra phán quyết bất lợi cho NBH.
Quy định sự có mặt của NBH mang tính bắt buộc là quy địn phù hợp của pháp luật,
thông qua đó, NBH sẽ tự bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình, giúp cho
cơ quan tiến hành tố tụng xác minh các chứng cứ, tài liệu còn nghi ngờ hoặc mâu thuẫn

Theo quy định tại Khỏan 1 Điều 105 về tội mà NBH sẽ yêu cầu khởi tố vụ án. Tuy
nhiên dối với tội cố ý gây thương tích, để có thể xác định có thuôc Khoản 1 hay 2 Điều
104 thì phải căn cứ vào kết luật giám định. Có như vậy thì mới xác định được ai mới có
quyề khởi tố vụ án, quy định rất kho thực thi trong thực tế, đôi khi có trường hợp vụ án
bước sang giai đoạn điều tra mới xác minh được thẩm quyền khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại.
Trong thực tế có rất nhiều trường hợp NBH từ chối tiến hành giám định thương tật.
Ví dụ: Võ Văn T. và Đoàn Văn D. là bạn cùng xóm. Do nghi ngờ vợ mình ngoại tình với
D. nên sau khi uống rượu T. lấy con dao yếm tìm chém D. khi D. đang ngủ trong mùng.
T. giơ dao lên nhắm vào đầu D. chém xuống, vì D. nằm gác tay lên trán nên dao trúng
vào bàn tay trái làm đứt gân các ngón trỏ, giữa, áp út.
Sau khi nhận tin báo, cơ quan điều tra đã tạm giữ T. để điều tra, đồng thời đưa D. đi
giám định làm căn cứ khởi tố vụ án. Thế nhưng sau khi gây án, gia đình T. đã lo tiền
cho D., yêu cầu D. từ chối đi giám định. Bởi D. từ chối giám định nên không có căn cứ
khởi tố T. về tội “cố ý gây thương tích”, cơ quan điều tra đã ra quyết định trả tự do cho
Võ Văn T
6

Những trường hợp như trên thường xuyên xảy ra. Chưa có quy định nào để đưa
người bị hại đi giám định làm cơ sở khởi tố đối tượng gây thương tích, vô tình chúng ta
đã dân sự hóa hình sự trong những trường hợp thương tích nặng.
Về quyền rút yêu cầu khổi tố: Theo quy định của luật thì người bị hại có quyền và
cũng chỉ có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án kể từ thời điểm xảy ra vụ án cho đến trước
ngày mở phiên toà sơ thẩm, khi đó thì vụ án mới được (hoặc phải) đình chỉ. Tuy nhiên
việc nhà làm luật quy định như vậy là hạn chế quyền tự định đoạt, thỏa thuận giữa bị
can (bị cáo) với người bị hại. Bởi lẽ: trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau (bị cáo khó
khăn, ăn năn hối cải, người bị hại thay đổi suy nghĩ của mình…) nên có nhiều trường
hợp đến tận ngày mở phiên toà (nhưng trước thời điểm khai mạc phiên toà) hoặc khi
phiên toà đang diễn ra thì người bị hại mới quyết định rút yêu cầu khởi tố vụ án. Khi đó,
theo quy định tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS thì quyền rút yêu cầu của người bị hại đã

bản án như: phần dân sự cũng như vấn đề liên quan đến tội danh, đến khung hình
phạt nếu không đồng tình với bản án và quyết định của Tòa án thì người bị hại không
có quyền kháng cáo. Trong khi đó tại Điều 231 Bộ luậtTTHS lại quy định: Người bị hại
và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Tòa
án. Như vậy theo quy định này thì người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc
quyết định sơ thẩm. Điều luật không thể hiện bất cứ sự giới hạn nào như tinh thần của
Điều 51 Bộ luật TTHS. Như vậy phải chăng nội dung hai điều luật lại mâu thuẫn với
nhau và khi gặp trường hợp trên Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Cho đến nay chưa có
văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng hai điều luật trên, vì vậy
mỗi nơi áp theo cách hiểu riêng của mình.
Page | 12
2. Về thực thi nghĩa vụ của NBH:
Theo quy định của luật, NBH phải có mặt theo giấy tiệu tập của CQĐT, VKS,
TA. Tuy nhiên việc áp dụng quy định này trong thực tế là khá khó khăn, do luật chưa
quy định NBH được tham gia tố tụng ở giai đoạnh nào, trình tự, thủ tục nào? Việc cơ
quan tiến hành tố tụng gửi giấy triệu tập ra sao?việc quy định có nhiều bất cập như vậy
nên việc áp dụng rong thực tế là rất khó khăn, cách hiểu cũng khác nhau và không có sự
thống nhất. Trong thực tiễn hiện nay, việc triệu tập thường được gửi qua đường bưu
điện hoặc gửi về Ủy ban nhân dân xã nơi NBH cư trú. Tuy nhiên trong thực tế cơ nhiều
trường hợp NBH được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt. điều này gây
cản trở cho quá trình tiến hành tố tụng. Phải chăng công tác xử lí chưa thật sự nghiêm
minh hay quá trình giải thích pháp luật chưa đầy đủ, do đó NBH chưa ý thức được trách
nhiệm của mình, họ nghĩ mình là bên bị hại càn được pháp luật bảo vệ, hỉ có quyền chứ
không có nghĩa vụ?
Bên cạnh đó, Pháp luật có quy định nghĩa vụ khai báo của NBH, theo đó khi
được hỏi và triệu tập thì NBH phải tham gia khai báo trung thực, đầy đủ những gì mình
biết. Tuy nhiên trong thực tế, hiện tượng bất hợp tác với CQĐT, VKS, TA của NBH là
rất phổ biến, tuy nhiên để truy cứu rách nhiệm của NBH theo Điều 308 BLHS về tội Tội
từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu là phải có các
căn cứ pháp luật rõ ràng. Trong khi đó, thái độ bất hợp tác của NBH dễ dàng nhận thấy

chiếm đoạt tài sản,tội cố ý làm hư hỏng tài sản…cạc tội chỉ thuần túy về mặt tài sản; các
tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm và tội đe dọa giết người, gây tốn hại cho sức khỏe
người khác khi thi hành không vụ; chỉ áp dụng đối với các tội ít nghiêm trọng. Và tội
hiếp dâm thì nên bỏ
7
Hai là, Để khắc phục sự mâu thuẫn, đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp
dụng, cũng như để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người bị hại nên cần phải sửa lại
nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS theo hướng cho phép người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định của tòa án cấp sơ
thẩm.
Ba là, cần kiến nghị sửa đổi ĐIều 105 về thời hạn rút yêu cầu khởi tố của
người bị hại. Điều đó sẽ mở rộng hơn quyền của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án
trong pháp luật hình sự và cũng là quyền lợi của người bị khởi tố trong vụ án được khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại. Tuy nhiên, cũng phải giới hạn thời hạn chấm dứt
quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại để tránh tình trạng “tự do thái quá” sẽ làm
“nhờn” pháp luật; gây mất thời gian, làm tốn công sức, tiền bạc của các cơ quan hay
những người tiến hành tố tụng. Do đó, nhà làm luật nên quy định thời hạn thực hiện
quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án là “đến
trước khi chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử”
Bên cạnh đó, Cần quy định cụ thể thủ tục tố tụng riêng cho trường hợp khởi tố
theo yêu cầu của người bị hại. Theo đó thủ tục này nên quy định theo hướng chỉ có
người bị hại mới có quyền đưa một người ra xét xử tại phiên tòa, và tất nhiên ở đây
quyền công tố không còn nữa. Sự tham gia phiên tòa của viện kiểm sát lúc này chỉ thực
hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật chứ không thực hiện chức năng buộc
7
“một số vướng mắc trong tực tiễn áp dụng chế định khởi tố VAHS theo yêu cầu của người bị hại”, Tạp chí
kiểm sát 9/2009
Page | 14
tội. Tòa án đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở đề nghị của người bị hại. Tại phiên tòa kiểm
sát viên không đọc bản cáo trạng mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ

KẾT LUẬN
Tóm lại, từ các phân tích trên đây chúng ta có thể thấy NBH đóng vai trò rát quan
trọng trong quá trình tố tụng, có ý nghĩa lớn trong việc giúp cơ quan tiến hành tố tụng
giải quyết đúng người, đúng tội và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật. tuy nhiên
trong thực tế thực thi quyền và nghĩa vụ của NBH còn chưa triệt để, thiết nghĩ trong
8
Người bị hại trong tố tụng hình sự, TH.S Lê Tiến Châu, ĐHL TP. Hồ Chí Minh, hcmulaw.edu.vn
Page | 15
thời gian tới PL cần chú trọng hơn nữa hoàn thiện quy định về NBH một cách đầy đủ
hơn đồng thời công tác giáo dục pháp luật cần được đẩy mạnh. Có như vậy quyền và
nghĩa vụ của NBH mới đảm bảo thực thi hiệu quả trong thực tế.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Bộ luật tố tụng hình sự 2003;
2) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2006
3) Nghị quyết 01/2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần “những quy định chung” của BLTTHS
4) Nghị quyết số 48 NQ/ TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị;
5) Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày
10/8/2005
6) Người bị hại trong tố tụng hình sự, TH.S Lê Tiến Châu, ĐHL TP. Hồ Chí Minh,
http: hcmulaw.edu.vn
7) “Một số vướng mắc trong tực tiễn áp dụng chế định khởi tố VAHS theo yêu cầu
của người bị hại”, Tạp chí kiểm sát 9/2009;
8) PGS. TS Võ Khánh Vinh, Bình luận khoa học BLTTHS, NXB Công an nhân
dân, 2007;
Page | 16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status