ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HOÀNG PHƢƠNG
§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA NG¦êI BÞ H¹I TRONG Tè TôNG H×NH Sù
(¸P DôNG TRONG THùC TIÔN Tè TôNG H×NH Sù
TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HOÀNG PHƢƠNG
§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA NG¦êI BÞ H¹I TRONG Tè TôNG H×NH Sù
(¸P DôNG TRONG THùC TIÔN Tè TôNG H×NH Sù
TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
HÀ NỘI - 2015
của người bị hại .................................................................................... 7
1.1.2. Vai trò của người bi ̣ha ̣i trong tố tu ̣ng hiǹ h sự ................................... 11
1.2.
Nô ̣i dung điạ vi pha
̣ ́ p lý của ngƣời bi ha
̣ ̣i trongốttụng hình sự..... 15
1.2.1. Quyền của người bị hại ...................................................................... 15
1.2.2. Nghĩa vụ của người bị hại .................................................................. 18
1.3.
Địa vị pháp lý của ngƣời bi ha
̣ ̣i trong Luâ ̣t tố tu ̣ng hin
̀ h sƣ̣
mô ̣t số nƣớc trên thế giới ................................................................. 19
Tiể u kế t chƣơng 1 .......................................................................................... 27
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA NGƢỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ
THƢ̣C TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊ A BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI ............................................................................................. 28
2.1.
Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của ngƣời bị hại .......... 28
2.1.1. Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ..................... 28
2.1.2. Từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến nay ............. 32
2.2.
3.2.3. Nâng cao chất lượng của đội ngũ Luật sư .......................................... 86
3.2.4. Thực hiện tốt sự phân công, chỉ đạo, phối hợp trong giải quyết
án hình sự ........................................................................................... 87
3.2.5. Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng phân
định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng ..... 88
Tiể u kế t chƣơng 3 .......................................................................................... 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 93
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 99
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX
Hội đồng xét xử
KSV
Kiểm sát viên
TAND
Thể chế hoá chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, ngày 17/12/2003,
Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm2003 với nhiề u quy
đinh
̣ mới so với Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự năm 1988. Bộ luật đã dành chương IV
tại phần thứ nhất (Những quy định chung) quy định về người bị hại với tính
chất là một loại người tham gia tố tụng đặc biệt trong tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý vẫn còn nhiều vấn đề về lý
luận và thực tiễn áp dụng trong tố tụng hình sự cần được tiếp tục nghiên cứu
và làm sáng tỏ hơn. Luật tố tụng hình sự nước ta chỉ coi người bị hại là công
dân. Pháp nhân hay tổ chức xã hội không được coi là người bị hại. Thiệt hại
mà người bị hại phải chịu là thiệt hại thực tế, nếu thể chất, tinh thần, tài sản
của một người chưa bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì người đó không
được coi là người bị hại.
Xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do
tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong tố tụng hình sự khi họ được
cơ quan có thẩm quyền công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập
họ đến khai báo với tư cách là người bị hại. Việc nghiên cứu những vấn đề lý
1
luận và thực tiễn về người bị hại trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay
cũng như thực trạng về người bị hại ở từng địa phương (nhất là địa bàn thành
phố Hà Nội) để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này
trong thực tế, góp phần xử lý kịp thời, khách quan nhằm bảo vệ tốt hơn các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội là
một nhu cầu khách quan và cần thiết.
Trước yêu cầu cải cách tư pháp thì các vấn đề đảm bảo quyền dân chủ
và nhân quyền, đặc biệt là các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong
tố tụng hình sự luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết
phiên tòa hình sự phúc thẩm, Tạp chí Tòa án. Tòa án nhân dân tối cao số
5/2004, Tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự tại phiên tòa
phúc thẩm, Tạp chí Tòa án. Tòa án nhân dân tối cao số 4/2008, Việc quy định
những người tham gia tố tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự, Tập san Tòa án
nhân dân số 4/2000, Xác định tư cách người tham gia tố tụng hình sự, Tập
san Tòa án số 12/1999…
Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã phân tích, giải quyết và làm
rõ được một số vấn đề lý luận về chế định quyền và nghĩa vụ của người bị hại
trong tố tụng hình sự Việt Nam như: khái niệm về người bị hại, ý nghĩa của
việc tìm hiểu chế định về người bị hại, các kiến nghị về hoàn thiện các quy
định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại, việc áp dụng quy định
khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại.... Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề về
lý luận và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu trên chưa đề cập đầy đủ,
phương pháp tiếp cận còn chưa phù hợp, chưa có nghiên cứu về áp dụng thực
tiễn tố tụng hình sự của từng địa phương, đặc biệt là trên địa bàn Thủ đô Hà
Nội sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời. Do hầu hết các công
trình trên đều đề cập và nghiên cứu vấn đề trước khi Bộ luật ra đời nên việc
đánh giá tình hình chưa có cơ sở thực tiễn.
Bên cạnh đó, Luận văn thạc sỹ Luật học: Người bị hại trong tố tụng hình
sự Việt Nam - Thịnh Quang Thắng (2010) đã đề cập tương đối đầy đủ các luận
3
cứ khoa học như: bản chất, ý nghĩa, mục đích của việc nghiên cứu về người bị
hại, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Tuy nhiên, các dẫn chứng số liệu đều
được lấy ở một địa bàn nhỏ hẹp là huyện Đông Anh – một huyện ngoại thành
Hà Nội nên việc nghiên cứu đánh giá còn nhiều hạn chế, chưa làm bật lên
những đặc điểm đặc thù của Thủ đô Hà Nội để đưa ra những giải pháp, kiến
nghị cho phù hợp nhằm áp dụng chế định về địa vị pháp lý của người bị hại
trong tố tụng hình sự chặt chẽ và sát với thực tế của Thủ đô Hà Nội.
bị hại trong TTHS , đánh giá v iê ̣c áp du ̣ng các quy đinh
̣ này trên điạ bàn Hà
Nô ̣i, đưa ra một số giải pháp thực hiê ̣n có hiê ̣u quả các quy định về người bị
hại trong thực tiễn điề u tra , truy tố , xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ như sau:
- Nêu cơ sở lý luận về ng ười bị hại và địa vị pháp lý của người bị hại
trong tố tụng hình sự.
- Đánh giá khái quát thực trạng thực hiê ̣n các quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về địa
vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ ra những bất
cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và nguyên nhân.
- Đề xuấ t các giải pháp thực hiê ̣n có hiê ̣u quả các quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về
địa vị pháp lý của người bị hại từ thực tiễn của Hà Nô ̣i
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu điạ vi ̣pháp lý của ng ười bị hại trong tố tụng hình
sự, viê ̣c áp dụng các quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự năm 2003 về điạ vi ̣
pháp lý của ng ười bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các cơ quan tiến
hành tố tụng hin
̀ h sự trong Quân đội nhân dân không thuô ̣c pha ̣m vi nghiên
cứu của đề tài.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với yêu cầu của từng vấn đề nghiên cứu
5
phố Hà Nội.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƢỜI BỊ HẠI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của ngƣời bị hại trong tố tụng hình sự
1.1.1. Quan niệm về ngƣời bị hại – Cơ sở để xác định địa vị pháp lý
của ngƣời bị hại
Để nghiên cứu về điạ vi ̣pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự,
trước hế t cầ n làm rõ khái niê ̣m điạ vi ̣pháp lý . Trong khoa ho ̣c pháp lý , khái
niê ̣m “điạ vi ̣” cũng như khái niê ̣m “điạ vi ̣ pháp lý ” thường đươ ̣c nh ắc đến
trong giáo trình các môn luâ ̣t , trong các bài viế t v à công trình nghiên cứu
nhưng chưa có mô ̣t đinh
̣ nghiã hoàn chỉnh mang tính chính thố ng. Trước hế t ,
khái niệm “địa vị” được nhắc đến trong Từ điển tiếng Việt, đó là vị trí cá nhân
trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi
trọng ít hay nhiều…; vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò,
tác dụng mà có còn pháp lý là căn cứ, cơ sở của pháp luật [27]. Địa vị của
một cá nhân là vị trí của cá nhân đó trong vai trò xã hội của mình, thể hiện
năng lực, trình độ, vai trò của cá nhân đó trong mối quan hệ tương quan với
các cá nhân khác trong xã hội. Địa vị này có thể do cá nhân tạo lập nên hoặc
do thừa hưởng từ cá nhân khác. Khái niệm “ địa vị” thường được dùng đi kèm
bổ ngữ, tạo thành khái niệm mang tiń h tâ ̣p hơ ̣p , ví dụ: “điạ vi ̣xã hô ̣i”, “điạ vi ̣
pháp lý”... Khái niệm “địa vị pháp lý” được giả i thích trong Từ điển luật học,
đó là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể khác
trên cơ sở các quy định pháp luật; địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể
hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó
, cầ n xác đinh
̣ đươ ̣c khái
niê ̣m người bi ̣ha ̣i. Khái niệm người bị hại đã xuất hiện từ rất sớm, khi bắ t đầ u
có thủ tục tố tụng hình sự . Sau này , do ngành khoa ho ̣c nghiên cứu về na ̣n
nhân ho ̣c trên thế giới phát triể n ma ̣nh vào thế kỷ XX , khái niệm người bị hại
đươ ̣c các nhà nghiên cứu về tô ̣i pha ̣m ho ̣c đưa vào ứng du ̣ng trong viê ̣c xác
đinh
̣ những mấ t mát , tổ n thương do tô ̣i pha ̣m gây ra từ khiá ca ̣nh của tô ̣i pha ̣m
học. Đối với Việt Nam , người bị hại là khái niệm quen thuộc trong tố tụng
8
hình sự. Tuy nhiên thế nào là người bị hại? Địa vị pháp lý của người bị hại là
gì? Phạm vi quyề n ha ̣n và nghiã vu ̣ của người bị hại ra sao… thì đến nay vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Vì
vậy, để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại và địa
vị pháp lý của người bị hại cần phải tiếp cận khái niệm này dưới những góc
độ khác nhau.
Trong khoa ho ̣c luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự, khái niệm n gười bị hại được hiểu
dưới nhiều góc độ khác nhau với những phương pháp tiếp cận khác nhau.
Viê ̣c coi người bi ̣ha ̣i là mô ̣t cá nhân (thể nhân) thì trong các ngành khoa ho ̣c
pháp lý liên quan đến tư pháp hình sự như luật hình sự , tô ̣i pha ̣m ho ̣c, luâ ̣t tố
tụng hình sự, khoa ho ̣c điề u tra tô ̣i pha ̣m hầ u như không có sự tranh luâ ̣n. Vấn
đề tranh luâ ̣n nhiề u nhấ t trong lý thuyế t và trong thực tiễn là trong tr ường hợp
cơ quan, tổ chức (pháp nhân) bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì họ có phải
là bị hại không thì có nhiều ý kiế n khác nhau.
Ý kiến thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ là thể nhân, một con người cụ
với tư cách gì?
Thứ hai, dưới góc độ quyền và nghĩa vụ, có thể thấy người bị hại không
chỉ là người bị tội phạm gây thiệt hại mà họ còn là chủ thể của quan hệ pháp
luật tố tụng hình sự, là chủ thể của quyền con người trong tư pháp hình sự. Do
vậy, khái niệm người bị hại cũng cần phải được xem xét trên cơ sở quyền và
nghĩa vụ pháp lý [22].
Như vâ ̣y , nếu không coi cơ quan, tổ chức là người bị hại sẽ vi phạm
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án và nguyên tắc tranh tụng.
Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa cá nhân và cơ quan, tổ chức, vì cơ
quan, tổ chức phải có đơn yêu cầu mới được tham gia tố tụng mà tham gia với
tư cách là nguyên đơn dân sự và nguyên đơn dân sự thì lại không có quyền
kháng cáo về hình phạt, chỉ có quyền kháng cáo về bồi thường. Điều này còn
tạo nên sự khác biệt và bất bình đẳng đối với bị cáo và đối tượng được bảo vệ.
Phải chăng có sự không công bằng trong việc bảo vệ tài sản của cá nhân và cơ
10
quan, tổ chức. Có sự không công bằng giữa bị cáo gây thiệt hại cho cá nhân
và pháp nhân , tổ chức. Cầ n coi ngư ời bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị
thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra, được cơ quan có
thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật, có quyền và nghĩa vụ
pháp lý được pháp luật bảo đảm thực hiện, từ đó xác đinh
̣ đúng điạ vi ̣phá p lý
của họ trong tố tụng hình sự.
1.1.2. Vai trò của ngƣời bi ̣haị trong tố tụng hình sƣ̣
Cũng cần nhấn mạnh rằng , vai trò của người bị hại trong tố tụng hình
sự không phải là thu ̣ đô ̣ng , mà trái lại , có sự chủ động nh ất đinh.
̣ Xét theo
chức năng của tố tu ̣ng hin
tố. Bởi lẽ chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự là chức năng của Viện
kiểm sát thay mặt Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội, nhưng quyền buộc tội cá nhân vẫn được tôn trọng ở mức độ nhất định.
Như vậy, không giống quyền công tố, với quyền tư tố, pháp luật cho phép sự
thể hiện ý chí cá nhân của người bị hại trong việc tự giải quyết các sự việc
gây thiệt hại cho chính mình trong giới hạn nhất định mà xã hội và cộng đồng
có thể chấp nhận được. Đó là sự tự định đoạt của người bị hại đối với người
đã gây ra thiệt hại cho mình, nói cách khác họ có thể thoả thuận, hoà giải với
nhau xem có nên đưa vụ án ra toà để giải quyết hay không.
Hai là, vai trò của người bị hại trong việc xác định sự thật khách quan
của vụ án. Ngoài vai trò buộc tội, người bị hại còn có vai trò tích cực trong
việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Điều này thể hiện ở việc khai báo
những tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự…; vai trò bảo vệ
lợi ích cá nhân trong vụ án hình sự thông qua quyền yêu cầu khởi kiện dân sự
trong vụ án hình sự. Việc người bị hại khai báo những tình tiết liên quan giúp
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, khám phá tội phạm, thu thập
chứng cứ để làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh nhằm giải quyết đúng
đắn vụ án hình sự.
Để tìm hiể u điạ vi ̣pháp lý của người bi ̣ha ̣i, cầ n xem xét đế n mố i tương
quan giữa người bi ̣ha ̣i với các c hủ thể tham gia tố tụng hình sự bao gồm
nhiều tư cách tố tụng khác nhau và được phân thành các nhóm như cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; cơ quan có thẩm quyền tiến hành
12
một số hoạt động điều tra…; người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý liên
quan (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án); người bào
chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự; và người tham gia tố tụng không
sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa…
Nhóm chủ thể thứ ba là Tòa án, Chánh án, Phó Chánh án tòa án, Thẩm
phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án có nhiệm vụ giải quyết vụ án (Hội đồng xét
xử), tức là có vị trí trọng tài nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan và
công bằng.
Ngoài ra, còn một nhóm chủ thể nữa là những người tham gia tố tụng
nhằm hỗ trợ và giúp cơ quan có thẩm quyền làm rõ chứng cứ và xác định sự
thật khách quan của vụ án như người làm chứng, người giám định, người
phiên dịch. Khác với những nhóm trên, các chủ thể trong nhóm này không có
quyền và lợi ích liên quan đến vụ án. Với cách tiếp cận này người bị hại có
vi trí độc lập với nhóm chủ thể bị buộc tội và bị đơn dân sự. Người bị hại
có thể được coi là chủ thể cùng bên với cơ quan điều tra, viện kiểm sát
nhưng lại có địa vị tố tụng độc lập. Trong quan hệ với Tòa án, người bị hại
được coi là một trong những bên tranh tụng thực hiện quyền buộc tội, yêu
cầu bồi thường thiệt hại [41, tr.58].
Với tư cách là người tham gia tố tu ̣ng hìn h sự, điạ vi ̣pháp lý của người
bị hại bị chi phối bởi nhiều yếu tố như : như đă ̣c điể m của mô hình tố tu ̣ng
hình sự thẩ m vấ n hay tranh tu ̣ng , kế t hơ ̣p giữa mô hình thẩ m vấ n và mô hình
tranh tu ̣ng ; quan niê ̣m về người bi ̣ha ̣i trong tố tu ̣ng hình sự (cá nhân h oặc
pháp nhân , cả pháp nhân và cá nhân ); mố i tương quan giữa người bi ̣ha ̣i và
các chủ thể khác tham gia tố tụng hình sự ; hê ̣ thố ng quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về t ố
tụng hình sự hiện hành ... . Sự tác động của các yếu tố nói trên dẫn đến sự
khác biệt giữa địa vị pháp lý của với địa vị pháp lý của người bi ̣ha ̣i với những
người tham gia tố tu ̣ng khác như bi ̣can, bị cáo, người có quyề n và lơ ̣i ić h liên
14
quan đế n vu ̣ án , luâ ̣t sư , người bà o chữa , và lại càng khác với các chủ thể
15
Là người bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại, người bị hại phải gánh chịu
những hậu quả do tội phạm gây ra mà họ hoàn toàn không mong muốn. Tuy
nhiên, người bị hại chỉ tham gia tố tụng trong trường hợp được cơ quan có
thẩm quyền thừa nhận bằng một quyết định tố tụng dưới các hình thức khác
nhau tùy theo mỗi quốc gia.
Một là, quyền buộc tội, quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự: Buộc tội
là hoạt động tố tụng hướng đến việc xác định có tội phạm xảy ra, người thực
hiện hành vi phạm tội và lỗi của họ trong việc thực hiện hành vi phạm tội,
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt được áp dụng… Trong tố
tụng hình sự, quyền buộc tội thuộc về Nhà nước (quyền truy cứu trách nhiệm
hình sự) nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với cá nhân khi tội phạm
xảy ra qua đó bảo vệ lợi ích của nhà nước bị xâm hại. Ở một số nước trên thế
giới quyền buộc tội còn thuộc về người bị hại hay còn gọi là tư tố. Là người
bị thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra nên người bị hại có quyền buộc tội
nhân danh cá nhân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ở Việt
Nam, BLTTHS năm 2003 không quy định quyền buộc tội của người bị hại
nhưng có quy định quyền này trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu
cầu của người bị hại, đó là quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì quyền buộc
tội của người bị hại trước hết là quyền yêu cầu (hoặc rút yêu cầu) khởi tố vụ
án hình sự và quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Đối với các vụ án
không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì cơ quan có
thẩm quyền nhân danh nhà nước có vai trò chính trong hoạt động buộc tội,
nhưng không phải vì thế mà người bị hại không có quyền buộc tội. Quyền
kháng cáo về hình phạt đối với bị cáo của người bị hại theo chúng tôi ở một
góc độ nào đó cũng là quyền buộc tội. Như vậy, về mặt khoa học, chúng tôi
hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng, người bị hại tham gia thực hiện
lực pháp luật của tòa án, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng… khi
17
không đồng ý hoặc cho rằng quyết định, hành vi tố tụng của những người tiến
hành tố tụng hoặc bản án, quyết định của Tòa án là không có căn cứ.
1.2.2. Nghĩa vụ của ngƣời bị hại
Quyền và nghĩa vụ của người bị hại là bộ phận hợp thành địa vị pháp lý
của người bị hại trong tố tụng hình sự. Việc thực hiện quyền luôn luôn gắn liền
với thực hiện nghĩa vụ. Nghĩa vụ của người bị hại là cách xử sự mà người bị
hại buộc phải thực hiện khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nhằm
đáp ứng việc thực hiện quyền của các chủ thể khác. Việc buộc người bị hại
phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm đáp ứng cho việc thực hiện trách nhiệm
và quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này thể hiện nguyên tắc
thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.
Nhà nước tạo mọi khả năng để người bị hại bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, đồng thời cũng đòi hỏi người bị hại thực hiện một số nghĩa vụ
nhất định nhằm bảo đảm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án.
Cùng với việc tham gia tố tụng với tư cách là chủ thể có quyền nhất
định để thỏa mãn ý chí, lợi ích cá nhân, thì người bị hại còn là chủ thể tham
gia tố tụng có nghĩa vụ nhất định. Đó là nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nếu từ chối khai báo mà không
có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Với nghĩa vụ này
người bị hại có vai trò gần như người làm chứng. Lời khai của người bị hại là
một trong những nguồn chứng cứ quan trọng giúp cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án để đưa ra cách giải quyết
vụ án chính xác. Việc người bị hại có nghĩa vụ khai báo xuất phát từ thực
tiễn, họ là người có thể biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án.
Những thông tin do người bị hại trình bày sẽ trở thành chứng cứ quan trọng
của họ đơn thuần chỉ là nguyên đơn kiện bồi thường các thiệt hại về dân sự.
Địa vị pháp lý của người bị hại đã được cải thiện một cách đáng kể với sự ra
đời của Luật bảo vệ nạn nhân năm 1986 mà theo đó luật tố tụng hình sự cũng
đã sửa đổi. Sự tham gia của người bị hại trong tiến trình tố tụng được quy
19