Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người thông qua chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------

NGUYỄN ĐÔNG KHÁNH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
THÔNG QUA CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------

NGUYỄN ĐÔNG KHÁNH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
THÔNG QUA CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Luật hình sự

Mã số

7

Khái niệm về ngƣời quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con
ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam ……………………

7

Khái niệm về ngƣời bào chữa và chế định ngƣời bào chữa
trong tố tụng hình sự Việt Nam ……………………………

13

Khái niệm về bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định
ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam …………

18

Vị trí, vai trò của chế định ngƣời bào chữa trong tố tụng
hình sự Việt Nam …………………………………………

22

1.2.1

Vị trí của ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam…

22

1.2.2


1.1
1.1.1
1.1.2
1.1.3
1.2

Chƣơng 2

2.1
2.1.1
2.1.2
2.2

Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con ngƣời thông


qua chế định ngƣời bào chữa ……………………………….

58

2.2.1

Một số kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân ………………….

58

2.2.2

Một số hạn chế và nguyên nhân ……………………………


3.2.2

Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật tố tụng hình sự về
trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành
tố tụng trong việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa…….

95

3.2.3

Hoàn thiện các quy định pháp luật khác ……………………

97

3.3

Các kiến nghị khác …………………………………………

99

Kết luận …………………………………………………….

104

Danh mục tài liệu tham khảo ……………………………….

107

Chƣơng 3


HĐXX

: Hội đồng xét xử

HLPL

: Hiệu lực pháp luật

KSV

: Kiểm sát viên

NBC

: Ngƣời bào chữa

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

THTT

: Tiến hành tố tụng

TNHS

chính trị “Về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” khẳng định: “Đòi
hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tƣ pháp ngày càng cao; các cơ
quan tƣ pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý,
quyền con ngƣời, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp
chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi
phạm”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đặt ra nhiệm vụ
“Xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, quyền con ngƣời”; Cƣơng lĩnh Đại hội lần thứ XI của Đảng mới đây
cũng đã chỉ rõ: “Con ngƣời là trung tâm của chiến lƣợc phát triển, đồng thời
là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, gắn quyền con
ngƣời với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nƣớc và quyền làm chủ của
nhân dân” và “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020,
xây dựng hệ thống tƣ pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng
và bảo vệ quyền con ngƣời”. [7, tr. 76]
Đảm bảo quyền con ngƣời trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự nói chung và
hoạt động tố tụng hình sự nói riêng luôn là vấn đề quan trọng và phức tạp.
Bởi các hoạt động đó trực tiếp ảnh hƣởng đến các quyền dân chủ của công
dân. Đó là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình
giam giữ, quản lý, giáo dục ngƣời chịu án phạt tù, bảo đảm rằng mọi hành vi
1


phạm tội đều đƣợc phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, không đƣợc làm
oan ngƣời vô tội. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm quyền con ngƣời
trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự trong thời gian qua cho thấy tình
trạng vi phạm các quyền tố tụng của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, xử oan
ngƣời vô tội, xét xử sai,… vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Một số ngƣời THTT
vẫn chƣa nhận thức hết đƣợc việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công

Việt Nam”; Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Hoàng Huy: “Bảo
đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay”; Một số
công trình nghiên cứu nhƣ: Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia năm 2006
do các tác giả GS.TSKH. Lê Văn Cảm, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS.
Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì: “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam”; Báo cáo của PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc tại Hội thảo về
Quyền con ngƣời trong TTHS (do VKSNDTC và Ủy ban nhân quyền
Australia tổ chức tháng 3/2010): “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng
hình sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”; Bài viết của GS.TSKH. Lê Văn Cảm “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình
sự”; Bài viết của TS. Nguyễn Văn Tuân trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số
11/2008 “Địa vị pháp lý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự”.
Mỗi công trình nghiên cứu, bài viết khoa học đều có một cách tiếp cận
khác nhau khi viết về bảo vệ quyền con ngƣời trong TTHS. Có tác giả thì
nghiên cứu về việc đảm bảo quyền con ngƣời trong các nguyên tắc tố tụng;
Có tác giả thì đi sâu vào nghiên cứu quyền cụ thể là quyền bào chữa của bị
3


can, bị cáo; Cũng có tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu về địa vị pháp lý của NBC
thông qua việc tập trung phân tích về quyền, nghĩa vụ của NBC đƣợc quy
định trong pháp luật hiện hành. Chƣa có công trình nghiên cứu nào tập trung
vào vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định NBC trong TTHS.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
a. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chế định NBC trong TTHS
Việt Nam và nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật TTHS về

khoa học của triết học Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm,
đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, về công cuộc cải cách tƣ pháp và đảm bảo quyền con ngƣời trong
TTHS.
Các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp
nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần rõ thêm nhiều vấn đề lý luận
về chế định NBC trong TTHS nói chung và bảo vệ quyền con ngƣời thông
qua chế định NBC trong TTHS nói riêng.
Trên cơ sở phân tích có hệ thống và tƣơng đối toàn diện các quy định
của BLTTHS, đánh giá việc áp dụng các quy định đó vào thực tiễn, từ đó tìm
ra những hạn chế, bất cập trong bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định
NBC trong TTHS và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế.

5


Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là một tài liệu tham khảo trong công
tác nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tiễn cho những ai quan tâm đến vấn
đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế
định ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo vệ
quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa và thực tiễn áp dụng.
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ
quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự

(entilements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con ngƣời [44,
tr.1].

7


Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác về quyền con ngƣời
mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên là: “quyền con người là
những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại,
không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội...; đều có ngay từ
khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.” [25, tr. 37].
Hay một cách ngắn gọn nhất theo Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia)
thì: Nhân quyền, hay Quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là những
quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ
chính thể nào [45].
Thuật ngữ “Human Rights” trong tiếng Anh đƣợc dịch sang tiếng Việt
là “quyền con người” (theo tiếng thuần Việt) hoặc “nhân quyền” (theo Hán –
Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con
người” [42, tr. 1239].
Trong một cuộc khảo sát gần đây do CNN (một trong các cơ quan
truyền thông nổi tiếng nhất thế giới) tiến hành, Nhân quyền đƣợc xem là một
trong mƣời sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm
học, thuyết tƣơng đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng,
số không, và lực hấp dẫn. [43].
Theo quan điểm của các nhà triết học thế kỷ 17 và 18 thì các quyền
không thể tƣớc bỏ đƣợc là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các
quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự đƣợc thiết lập và không một xã
hội hay một Chính phủ nào có thể “xóa bỏ” hoặc “chuyển nhƣợng” các quyền
này. Các quyền không thể tƣớc bỏ bao gồm: Quyền đƣợc sống; Quyền tự do
(quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do lập hội,…);

lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị,
9


kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trƣớc pháp luật; quyền tham gia quản lý
công việc của Nhà nƣớc và xã hội; quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; quyền tự
do đi lại và cƣ trú trên đất nƣớc Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền
lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe,... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn
giáo. Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền
này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.
Quyền con ngƣời là một giá trị thiêng liêng bất khả tƣớc đoạt. Nó hiện
hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự.
Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ nhƣ các
lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trƣờng..., nhƣng có thể nói, quyền con
ngƣời trong TTHS là quyền dễ bị xâm phạm và tổn thƣơng nhất và hậu quả để
lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền đƣợc sống, quyền tự
do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, TTHS với tƣ cách là quá
trình Nhà nƣớc đƣa một ngƣời ra xử lý trƣớc pháp luật khi họ bị coi là tội
phạm, quá trình này luôn thể hiện đậm nét tính quyền lực nhà nƣớc với sức
mạnh cƣỡng chế nhà nƣớc, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên
tham gia quan hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những ngƣời bị buộc tội.
Chính vì vậy, hoạt động TTHS, trong bất cứ Nhà nƣớc nào đều đƣợc xếp vào
“nhóm nguy cơ cao” khi ngƣời ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời [9].
Bảo vệ quyền con ngƣời trong TTHS, đó là trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, quản lý, giáo dục ngƣời
chịu án phạt tù, bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều đƣợc phát hiện kịp
thời và xử lý nghiêm minh, không đƣợc làm oan ngƣời vô tội. Ngƣời phạm tội
phải bị đƣa ra xét xử, chịu hình phạt tƣơng ứng với hành vi phạm tội. Mục
đích của hình phạt không chỉ là trừng trị mà còn chủ yếu là để giáo dục, cải
tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm



khi nghiên cứu về quyền con ngƣời trong TTHS, chúng ta hay ít chú ý đó là
quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của ngƣời làm chứng
và những ngƣời liên quan khác, quyền con ngƣời của những ngƣời THTT nhƣ
điều tra viên, công tố viên và thẩm phán. Những ngƣời này họ cũng có quyền
con ngƣời của họ nhƣ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân
phẩm, quyền đƣợc bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng
con đƣờng TTHS.
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả
hai phƣơng diện lập pháp và thực tiễn các văn kiện về quyền con ngƣời. Điều
đó đƣợc thể hiện trong Bộ luật TTHS của nƣớc CHXHCN Việt Nam ở mức
độ khác nhau: có thể trang trọng quy định là nguyên tắc cơ bản, có thể thấp
thoáng trong các quy định cụ thể. Bộ luật TTHS hiện hành có các nguyên tắc
nhƣ: Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự, tôn trọng
và bảo vệ quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về
tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, suy đoán vô tội (tuy còn chƣa
rõ), quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan… Nghiên cứu quyền
con ngƣời trong TTHS không thể không đƣa ra định nghĩa về nó. Hiện nay,
có một số khái niệm về quyền con ngƣời trong TTHS đã đƣợc đƣa ra nhƣng
chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền của ngƣời bị buộc tội mà chƣa chú ý đến
quyền của những ngƣời khác tham gia TTHS.
Đồng quan điểm với tác giả đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền của người
bị buộc tội”, Ths. Đinh Thế Hƣng, Viện Nhà nƣớc và pháp luật – Viện
KHXH Việt Nam. Khái niệm do Ths. Đinh Thế Hƣng đƣa ra về quyền con
ngƣời trong TTHS nhƣ sau: “Quyền con người trong TTHS là những giá trị
thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật TTHS
mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo
đảm thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại.” [9].
12


Văn phòng luật cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức
thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo
nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý” [11,
tr.17].
Cùng chung quan điểm với tác giả Đinh Văn Quế (quan điểm thứ ba),
trên cơ sở phân tích các dấu hiệu đặc trƣng của NBC theo qui định của
BLTTHS hiện hành có thể đƣa ra một định nghĩa khái quát về chế định NBC
trong TTHS nhƣ sau:
“Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ
những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội
hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
giúp họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi
được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ mời
hoặc được CQTHTT yêu cầu và được CQTHTT chứng nhận”.
Để có thể đƣa ra khái niệm về chế định NBC nhƣ trên, là kết quả của
việc xác định các dấu hiệu của NBC trên cơ sở các qui định của BLTTHS
Việt Nam hiện hành. Các dấu hiệu đặc trƣng của NBC đó là:
Một là, NBC là ngƣời tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên
quan đến vụ án. Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp cho ngƣời bị buộc tội. NBC không phải là ngƣời THTT mà chỉ là
ngƣời tham gia tố tụng. Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của NBC.
“Ngƣời tham gia” chỉ là ngƣời góp phần hoạt động của mình vào một hoạt
động chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành.
Hơn nữa, NBC không phải là ngƣời đƣợc nhân danh quyền lực nhà nƣớc và
không đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc nhƣ những ngƣời THTT.
14



tin tố giác tội phạm, họ đƣợc quyền mời luật sƣ tham gia tƣ vấn, trợ giúp về
pháp lý ngay từ đầu. Xuất phát từ thực trạng phổ biến việc CQĐT các cấp
thƣờng từ chối sự có mặt của luật sƣ trong các hoạt động “tiền tố tụng”, gây
ra sự lo lắng và quan ngại cho những ngƣời bị triệu tập, bị câu lƣu nhƣng có
đơn “tự nguyện hợp tác với CQĐT”, bị thu giữ hộ chiếu, hạn chế đi lại,... Lý
do thƣờng đƣợc đƣa ra là vụ án chƣa khởi tố, ngƣời bị tình nghi chƣa có tƣ
cách là ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên không chấp nhận cho luật sƣ tham
gia. Vì vậy, đối tƣợng bảo vệ của NBC bao gồm cả ngƣời bị tình nghi phạm
tội, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử [36].
Ba là, NBC chỉ có thể tham gia tố tụng khi đáp ứng đủ các điều kiện do
pháp luật qui định. Không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia TTHS với tƣ
cách là NBC vì theo qui định của BLTTHS hiện hành NBC chỉ có thể là Luật
sƣ; Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa
viên nhân dân. Đồng thời phải đáp ứng các điều kiện do BLTTHS quy định
nhƣ sau:
- Phải đƣợc ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; ngƣời đại diện hợp pháp của
ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời hoặc đƣợc CQTHTT yêu cầu Đoàn luật
sƣ phân công Văn phòng luật sƣ cử hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho bị can, bị cáo
(trong một số trƣờng hợp).
- Không thuộc một trong những trƣờng hợp những ngƣời không đƣợc
bào chữa.
Ngoài ra NBC còn phải đáp ứng các điều kiện khác do các văn bản pháp
luật khác qui định, chẳng hạn Luật sƣ phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật
về Luật sƣ qui định; Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị
16


cáo phải đáp ứng các qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 về đại diện. Và
một điều kiện không thể thiếu nữa là phải đƣợc CQTHTT chấp nhận bằng

khác trong hệ thống pháp luật [45].
Từ những phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm về Chế định ngƣời bào
chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam nhƣ sau: “Chế định người bào chữa
trong tố tụng hình sự là nhóm các quy phạm pháp luật được quy định trong
pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa với vai
trò là người tham gia tố tụng hình sự nhằm mục đích làm sáng tỏ những tình
tiết liên quan đến sự thật của vụ án để chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
1.1.3. Khái niệm về bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định NBC
trong TTHS Việt Nam
Tố tụng hình sự là hoạt động đặc biệt liên quan đến việc khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi
nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định là tội phạm và xử phạt ngƣời phạm tội.
Vì vậy, để đạt đƣợc mục đích của tố tụng hình sự, pháp luật TTHS của bất kỳ
một quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cƣỡng chế tố tụng,
các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân.
Hay nói cách khác, cƣỡng chế tố tụng hình sự, khả năng ảnh hƣởng của hoạt
động tố tụng hình sự tới các quyền con ngƣời của công dân là tất yếu.
Trong TTHS, nhiệm vụ không để lọt tội phạm phải đi liền với không
làm oan ngƣời không có tội; Nhiệm vụ phát hiện xử lý tội phạm phải đi liền
với việc đảm bảo quyền con ngƣời. Hoạt động TTHS phải đƣợc thực hiện trên
cơ sở coi trọng các yếu tố đó. Bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác
nói trên đều ảnh hƣởng nghiêm trọng đến việc đạt đƣợc mục đích tố tụng.
18


Nếu muốn chứng minh tội phạm và xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ
dẫn đến vi phạm quyền con ngƣời. Ngƣợc lại, nếu quá chú ý đến việc đảm
bảo quyền con ngƣời thái quá mà không áp dụng các biện pháp cƣỡng chế tố
tụng để phát hiện, chứng minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng thiếu

Quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền Hiến
định (Điều 132 Hiến pháp năm 1992), đƣợc cụ thể hóa bằng nguyên tắc cơ
bản của BLTTHS và đƣợc quy định chi tiết thông qua các điều luật về quyền,
nghĩa vụ của NBC và các điều luật khác của BLTTHS. Bào chữa là một trong
những chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình giải quyết VAHS
nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy vậy,
trong thực tiễn, vì những lý do khác nhau nên không phải bất cứ ngƣời bị tạm
giữ, bị can, bị cáo nào cũng có khả năng tự bào chữa một cách có hiệu quả.
Do đó, pháp luật tạo điều kiện để họ thực hiện quyền bào chữa của mình bằng
việc có thể nhờ ngƣời khác bào chữa. Nhờ ngƣời khác bào chữa là một hình
thức thực hiện quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có hiệu
quả và góp phần không nhỏ vào việc giúp CQTHTT giải quyết vụ án đƣợc
khách quan. Đồng thời, pháp luật quy định các CQTHTT phải áp dụng tất cả
các biện pháp cần thiết để tạo điều kiện cho ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo
thực hiện quyền bào chữa của họ.
Bảo vệ quyền con ngƣời thông qua chế định ngƣời bào chữa trong
TTHS chính là bảo vệ quyền đƣợc bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, đối tƣợng quan trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS. Đảm bảo quyền bào
chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là đảm bảo một trong những quyền
cơ bản của công dân.

20


Trích đoạn Hoàn thiện các quy định pháp luật khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status