Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự - Pdf 26

Bài tập học kì luật Tố tụng hình sự
A – LỜI MỞ ĐẦU
Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là một vấn
đề đang được nhiều sự quan tâm. Trước kia, bị can, bị cáo mặc nhiên bị coi
là có tội và bị tước phần lớn quyền công dân. Hiện nay, pháp luật TTHS coi
bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên trong quá trình tố tụng họ có
những quyền nhất định cũng như nghĩa vụ phải thực hiện trước pháp luật.
Bài viết này sẽ đi vào tìm hiểu những quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo
trong pháp luật TTHS hiện hành, cũng như việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ đó trên thực tế, từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện pháp luật
nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong TTHS.
Chu Thùy Linh
1
Bài tập học kì luật Tố tụng hình sự
B – NỘI DUNG
1. Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự
1.1 Khái niệm bị can, bị cáo
Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
thì “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”. Khi một người bị khởi tố về
hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án, tuy nhiên điều
đó không có nghĩa xác định họ là người có tội. Đây là vấn đề có tính nguyên
tắc. Vì theo quy định tại Điều 72 Hiến pháp 1992 và Điều 9 BLTTHS 2003
thì: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị
can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định
khởi tố bị can. Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một
phần giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi
cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình
chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can hoặc Tòa án ra

năm 1988 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra “chứng cứ và những yêu cầu”.
còn theo quy định mới của BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra
“ tài liệu, đồ vật, yêu cầu”. Như vậy đã có sự thay đổi trong quy định của
Chu Thùy Linh
3
Bài tập học kì luật Tố tụng hình sự
pháp luật từ việc bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ thì nay chuyển
thành những tài liệu, đồ vật. Sự thay đổi này trong quy định của pháp luật là
hoàn toàn hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nước ta. Bởi
vì khi bị can, bị cáo cung cấp cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật thì
không phải mọi tài liệu đồ vật đó đều là chứng cứ trong vụ án. Khi Cơ quan
điều tra nhận được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải tiến hành kiểm tra, đánh
giá khách quan để xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ trong
vụ án hay không. Và chỉ khi các tài liệu đồ vật đó đáp ứng được các yêu cầu
theo quy định của pháp luật thì chúng mới trở thành chứng cứ trong vụ án.
Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch theo yêu cầu của Bộ luật này (BLTTHS): bị can, bị cáo có
quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể vô tư trong
khi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể
làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can, bị cáo.
Khi các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận được yêu cầu thay đổi người tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem
xét, giải quyết yêu cầu đó nếu thấy yêu cầu là có căn cứ theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự (quy định cụ thể tại Điều 42 BLTTHS về những
trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng). Đây là sự thể
hiện nguyên tắc cơ bản trong hoạt động TTHS: “bảo đảm sự vô tư của
những người tiến hành tố tụng” (Điều 14 BLTTHS).
Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: quyền bào chữa là
một tổng thể các quyền và những biện pháp tố tụng cần thiết đảm bảo cho bị

thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết khiếu nại
Chu Thùy Linh
5
Bài tập học kì luật Tố tụng hình sự
theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định. Kết quả xem xét, giải
quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can, bị cáo biết.
Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát: đây là nghĩa vụ cơ bản của bị can, bị cáo. Khi có giấy triệu tập của Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát mà bị can, bị cáo vắng mặt không có lý do
chính đáng thì có thể bị áp giải, còn nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Đây là một
trong các biện pháp ngăn chặn được pháp luật áp dụng nhằm đảm bảo tiến
trình tố tụng và ngăn chặn tội phạm.
b. Các quyền riêng của bị can
Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì: bị can cần phải biết tội danh
họ bị khởi tố để họ có thể tự bào chữa để gỡ tội cho mình. Nếu không biết
mình bị khởi tố về tội gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho
mình cùng những lời bào chữa, vì mục đích của việc tiến hành các trình tự tố
tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì
phải chịu hình phạt như thế nào. Bị can phải được giao nhận quyết định khởi
tố bị can, trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can
cũng phải thông báo cho bị can biết. Quyền được biết mình bị khởi tố về tội
gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt
nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa vói riêng.
Quyền được trình bày lời khai: là một quy định mới của BLTTHS
2003 về các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự. Theo quy
định này thì bị can có quyền trình bày lời khai về những vấn đề liên quan
đến vụ án mà họ bị khởi tố. Đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ của bị
can. Do vậy nhiều khi bị can đã sử dụng quyền này của mình để khai báo
Chu Thùy Linh
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status