ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH THÙY
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
THÔNG QUA HÒA GIẢI NGOÀI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI - 2014 Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Minh Thùy
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƢƠNG MẠI THÔNG QUA HÒA GIẢI NGOÀI
TÒA ÁN
6
1.1.
Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại
6
1.1.1.
Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại
6
1.1.2.
Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
8
1.2.
Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa
giải ngoài tòa án
14
1.2.1.
Khái niệm về giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ngoài
tòa án
14
1.2.2.
Bản chất pháp lý của việc giải quyết tranh chấp thương mại
thông qua hòa giải ngoài tòa án
17
1.2.3.
Đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại thông
qua hòa giải ngoài tòa án
19
1.2.4.
2.1.2.
Chủ thể và đối tượng của việc giải quyết tranh chấp thương
mại thông qua hòa giải ngoài tòa án tại Việt Nam
35
2.1.3.
Thủ tục tiến hành giải quyết tranh chấp thương mại thông qua
hòa giải ngoài tòa án tại Việt Nam
38
2.1.4.
Hiệu lực của thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại
thông qua hòa giải ngoài tòa án tại Việt Nam
40
2.2.
Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa
giải ngoài tòa án tại Hoa Kỳ
42
2.2.1.
Pháp luật điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp thương mại
thông qua hòa giải ngoài tòa án tại Hoa Kỳ
42
2.2.2.
Chủ thể và đối tượng của việc giải quyết tranh chấp thương
mại thông qua hòa giải ngoài tòa án tại Hoa Kỳ
47
2.2.3.
Nguyên tắc cơ bản của giải quyết tranh chấp thương mại
thông qua hòa giải ngoài tòa án tại Hoa Kỳ
53
2.2.4.
Phương thức và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại
chấp thương mại thông qua hòa giải ngoài tòa án
73
3.2.1.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại thông qua hòa giải ngoài tòa án
73
3.2.2.
Xây dựng mô hình giải quyết tranh chấp thương mại thông
qua hòa giải ngoài tòa án
82
3.2.3.
Xây dựng và sử dụng án lệ
83
3.2.4.
Các giải pháp bổ trợ
83
KẾT LUẬN
86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AAA
:
:
Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế
VIAC
:
Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam
WTO
:
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
2.1
Quy trình hòa giải tại VIAC
39 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc giải quyết tranh chấp thương mại có vai trò rất lớn trong việc
bảo đảm quyền lợi giữa các bên tham gia, góp phần tạo dựng môi trường
kinh doanh văn minh, lành mạnh. Giải quyết tranh chấp thương mại nhanh
gọn, hiệu quả, ít tốn kém có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia, nhất là
đối với Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển. Xuất phát từ thực tiễn đã
cũng như thực tiễn chế định hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế không
những mang tính thời sự đối với ngành tòa án mà còn đáp ứng những đòi hỏi
cấp thiết của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam. Từ đó, tác giả chọn vấn đề: "So sánh pháp luật Việt Nam và pháp
luật Hoa Kỳ về giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải ngoài
tòa án" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ.
Qua việc so sánh với hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, tác giả làm rõ những
nội dung, đặc điểm và bản chất của phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại thông qua hòa giải; phân tích, so sánh và tổng hợp những kiến thức lý
luận cũng như thực tiễn về hòa giải ở Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ; đề xuất
những phương hướng và biện pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải
quyết tranh chấp thương mại bằng phương pháp hòa giải. Từ đó đề xuất
những quy định cụ thể, chi tiết trong việc xây dựng chế định độc lập về hòa
giải ngoài tòa án ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay các công trình nghiên cứu công phu về vấn đề này chưa
nhiều, lác đác chỉ có một số bài viết, một số các nghiên cứu rải rác như:
- Đề tài "Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam"
(1999) thuộc dự án VIE/94/003 của Bộ Tư pháp;
- Bài viết "Hòa giải - một phương thức giải quyết tranh chấp thay
thế", ThS. Dương Quỳnh Hoa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2012;
- Bài viết "Về các phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu tại Việt
Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nước ngoài" (1999), Tác giả: Hoàng Thế
Liên - được in trong số chuyên đề về "Các phương thức giải quyết tranh chấp
kinh tế ở Việt Nam hiện nay", Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Nghiên cứu
Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp;
- Dự án điều tra cơ bản "Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và vai trò của các thiết
chế tư pháp, bổ trợ tư pháp" (2011), Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp).
Việc nghiên cứu đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những
quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với thực tiễn và là cơ sở pháp lý cho việc
áp dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, những kiến
nghị của đề tài này hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn
thiện các quy định pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải có sự nghiên cứu của chế định hòa giải
ngoài tòa án một cách toàn diện, đầy đủ, có cả lý luận và thực tiễn, nhằm nâng
cao hiệu quả của việc hòa giải. Do đó, luận văn góp phần luận giải những vấn
đề lý luận về việc giải quyết các tranh chấp kinh tế bằng phương thức hòa giải
ngoài tòa án ở Việt Nam, đồng thời làm sáng tỏ hình thức, điều kiện, thủ tục
hòa giải và hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự. Từ đó, luận văn góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
hòa giải tranh chấp kinh tế cũng như trong việc nghiên cứu về chế định hòa
giải các tranh chấp kinh tế tại Việt Nam.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt
Nam và pháp luật Hoa Kỳ về hòa giải ngoài tòa án trong việc giải quyết các
tranh chấp kinh tế.
Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về các phương pháp giải
quyết tranh chấp ngoài tòa án (hay còn gọi là "Các phương pháp giải quyết
tranh chấp thay thế" - ADR), trong đó đi sâu nghiên cứu các quy định của
pháp luật về chế định hoàn giải nhằm xây dựng cơ chế pháp lý để giải quyết
các tranh chấp KDTM.
Luận văn phân tích, xem xét các trường hợp tranh chấp KDTM thông
qua hòa giải, đồng thời so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật nước
ngoài, từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế và kiến nghị những giải pháp nhằm
hoàn thiện các qui định của pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
không thuộc về bên nào" [34, tr. 139]. Khi đề cập đến khái niệm tranh chấp
thương mại, người ta thường hiểu là những mâu thuẫn, xung đột hoặc bất
đồng giữa các chủ thể trong hoạt động thương mại. Bên cạnh thuật ngữ "tranh
chấp thương mại", các thuật ngữ khác cũng được sử dụng khá rộng rãi như
"tranh chấp kinh tế", "tranh chấp hợp đồng kinh tế", "tranh chấp kinh doanh
thương mại" Trên thực tế, pháp luật Việt Nam cũng đã có những khái niệm
khác nhau về loại tranh chấp này. Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế 1994 quy định, tranh chấp kinh tế là các tranh chấp về hợp đồng
kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với các nhân có đăng ký
kinh doanh; ii) Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa
các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể công ty; iii) Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
iv) Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật [32, Điều 12].
Đây là khái niệm "tranh chấp kinh tế" được giải thích theo hướng liệt kê, nên
không thể phản ánh hết những quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại
ngày càng thay đổi, đa dạng và phức tạp. Để khắc phục, Luật Thương mại
1997 lần đầu tiên đưa ra khái niệm "tranh chấp thương mại", theo đó, định
nghĩa "Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại" [16, Điều 238].
Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa tương thích với quan niệm phổ biến của
các nước trên thế giới về tranh chấp thương mại và có nội hàm rất hẹp. Cụ thể
tại Luật thương mại 1997 quy định hoạt động thương mại được hiểu là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến
thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách
kinh tế - xã hội [16, Điều 5]. Ngoài ra, khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại
2003 ra đời, đã quy định hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi;
trọng là quyền tự định đoạt của các bên, theo đó, các bên có thể lựa chọn việc
giải quyết tranh chấp thương mại thông qua các phương thức như: Thương
lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án.
1.1.2.1. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng là biện pháp các
bên sử dụng để trao đổi bàn bạc và đi đến thống nhất chung cho việc giải
quyết các vướng mắc, mâu thuẫn. Các bên có thể trao đổi, tiến hành thương
lượng thông qua đại diện của mỗi bên, có thể là người đại diện theo pháp luật,
người được ủy quyền trên cơ sở các buổi làm việc trực tiếp hoặc trao đổi
thông tin bằng văn bản. Trong hình thức thương lượng, các bên có quyền tự
do ý trí, bình đẳng, cùng nhau xem xét vấn đề toàn bộ tranh chấp thương mại
trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành. Nếu các bên đạt được sự
thoả thuận thì coi như tranh chấp được giải quyết. Biện pháp được coi là biện
pháp giải quyết tranh chấp thương mại đơn giản, tiết kiệm được thời gian và
chi phí đối với mỗi bên. Việc thương lượng còn thể hiện sự thiện chí thương
lượng của các bên trong việc giải quyết tranh chấp, bởi sau khi đã thoả thuận
thống nhất các bên vẫn giữ được mối quan hệ tốt với nhau cũng như giữ được
uy tín và bảo mật được giao dịch tín dụng. Tuy vậy biện pháp thương lượng
chỉ thật sự hiệu quả và thành công khi các bên cùng có thiện chí trong việc
giải quyết tranh chấp thương mại.
1.1.2.2. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hoà giải là hình thức giải
quyết tranh chấp thương mại giữa các bên thông qua một người thứ ba gọi là
hoà giải viên. Hoà giải viên được các bên lựa chọn để tạo điều kiện giúp các
bên đạt được giải pháp điều hoà lợi ích, giúp xử lý những mâu thuẫn, bất
đồng đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Khi giải quyết tranh chấp
thương mại, hoà giải viên có thể tổ chức họp kín với riêng từng bên hoặc họp
chung với các bên có tranh chấp để tìm hiểu kỹ nội dung tranh chấp, đưa ra
những lý giải, phân tích cho các bên. Qua đó giúp các bên thấy rõ lợi ích của
cũng đã ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, bức tranh về trọng tài thương
mại tại Việt Nam vẫn chưa thật sự khởi sắc khi phương thức này chỉ giải
quyết khoảng 11% tổng số tranh chấp thương mại [27, tr. 1]. Nguyên nhân là
do những quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều thiếu sót, chồng chéo,
chưa rõ ràng cụ thể. Bên cạnh đó, thói quen, tập quán của thương nhân Việt
Nam tin tưởng tòa án hơn trọng tài. Trên thực tế, việc thi hành quyết định
trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản
án, quyết định của tòa án, nên việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài vẫn được sử dụng thường xuyên và phổ biến. Hơn nữa, chi phí giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại còn cao cũng là một rào cản làm
cho trọng tài thương mại chưa phát huy hết hiệu quả.
1.1.2.4. Giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục Toà án
Toà án được coi là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét
xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục
nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án, quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu
không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh
cưỡng chế nhà nước. Nếu như việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng,
hòa giải và trọng tài mang đặc điểm tôn trọng quyền thỏa thuận hay ý chí của
các bên tham gia để đưa ra phán quyết thì đặc trưng cơ bản của thủ tục giải
quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và
nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ
thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Do là cơ quan xét xử của Nhà nước
nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao, nên khi một trong các bên
không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án sẽ bị cưỡng chế.
Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự thì những tranh chấp thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận. Theo quy định của pháp luật hiện hành, về thẩm
thể kéo dài đến 1 năm. Ngoài ra, ngay cả khi đã có phán quyết cuối cùng của
Tòa án cấp phúc thẩm thì phán quyết đó vẫn có thể bị xem xét lại theo cấp
giám đốc thẩm do sự suy xét của Tòa án cấp tối cao. Tiếp theo đó là những
khó khăn của quá trình thi hành án liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm. Ngoài
ra, việc lựa chọn phương thức này cũng có những nhược điểm nhất định vì
thủ tục tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó.
Trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam
chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống tòa án và trung tâm trọng tài. Thực
tế, hệ thống tòa án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ án tồn đọng,
không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong năm 2012 (tính từ 01/10/2011-30/9/2012), tòa án các
cấp xét xử 332.868 vụ án các loại trong tổng số 360.941 vụ án đã thụ lý (đạt
92%) [27, tr. 2]. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao (tháng 3/2013),
trong tổng số gần 400 vụ án cần được xét xử giám đốc thẩm của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhưng Hội đồng này chỉ họp toàn thể để
xét xử được hơn 200 vụ. Tình hình đó ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, gây
áp lực cao đối với các thẩm phán, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các
doanh nghiệp về mức độ an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương
mại [27, tr. 3].
Như vậy, thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại đang đặt ra yêu
cầu đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án để giảm tải
gánh nặng cho hệ thống tòa án, qua đó góp phần lành mạnh hóa hoạt động
kinh doanh thương mại [27, tr. 2]. Một trong những phương thức phổ biến
trên thế giới hiện nay là giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ngoài tòa án
hay hòa giải thương mại. Trong vòng vài thập kỷ gần đây, việc phát triển
mạnh mẽ của hệ thống giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải,
trọng tài đã khiến các nhà lập pháp nhìn nhận lại vai trò tuyệt đối của tòa án.
Theo đó, xuất hiện sự phân biệt phương thức đại diện cho quyền lực công - Tòa
án và một bên là các phương thức lựa chọn bởi các chủ thể - Phương thức giải
Hòa giải là một trình tự được hiểu là trình tự hòa giải, trung
gian hoặc một thể hiện tương tự mà các bên yêu cầu bên thứ ba
(hòa giải viên) trợ giúp các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh
chấp; hòa giải viên không có thẩm quyền ép các bên tuân theo một
giải pháp nào [62].
Còn Trung tâm Giải quyết tranh chấp hiệu quả (CEDR) của Anh, một
trong những tổ chức cung cấp dịch vụ ADR hàng đầu trên thế giới đã định
nghĩa hòa giải là một quá trình linh hoạt được tiến hành không công khai mà
trong đó một người trung gian sẽ hỗ trợ các bên một cách tích cực trong việc
đạt được thỏa thuận thương lượng về một sự khác biệt hay tranh chấp, các bên
nắm quyền kiểm soát chính về quyết đi
̣
nh giải quyết tranh chấp và các quy định
về giải quyết tranh chấp [39]. Trên thực tế hòa giải là hành vi thuyết phục các
bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa [46, tr. 67].
Ngoài ra, hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều
bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham
gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp) [51, tr. 91]. Tại Điều 317
Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng quy định hòa giải giữa các
bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận làm trung
gian hòa giải [18]. Từ các định nghĩa này, có thể thấy, hòa giải là phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại, các định nghĩa về hòa giải đều thừa nhận vai
trò của hòa giải viên như là một thành phần trung gian hỗ trợ tích cực cho quá
trình hòa giải.
Như vậy, hòa giải được hiểu là một biện pháp giải quyết tranh chấp,
theo đó, với sự giúp đỡ của một bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các
bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy
định pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Hòa giải thương mại ngoài tòa án
được hiểu là một thủ tục trong đó một người hay một nhóm người (hòa giải
Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh hoặc giữa các bên liên doanh cũng như các tranh chấp giữa
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp
đồng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam trước hết
phải được giải quyết thông qua hòa giải [15, Điều 24].
Khi Luật Thương mại 1997 ra đời, tiếp tục khẳng định hòa giải là một
trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. Lần đầu tiên, luật
đã ghi nhận các bước của quá trình giải quyết tranh chấp thương mại và hòa giải
viên có thể là tổ chức, cá nhân cụ thể: "Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chọn
một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân làm trung gian hòa giải " [16, Điều 239].
Với sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của các tranh chấp
KDTM, các bên nhận thấy rằng cần phải tìm một cơ chế thích hợp để giải
quyết để đảm bảo các bên cùng thành công trong việc giải quyết tranh chấp
(cơ chế win-win). Đây chính là sự manh nha phát triển của hệ thống hòa giải
chuyên nghiệp ở Việt Nam. Chỉ đến khi VIAC xây dựng và ban hành Quy tắc
hòa giải, thì lần đầu tiên hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết
tranh chấp độc lập mới được ghi nhận chính thức. Đây là một nỗ lực lớn của
VIAC trong việc định hướng cho các bên lựa chọn hòa giải viên và khuyến
nghị trình tự, thủ tục cho các bên lựa chọn làm căn cứ cho quá trình hòa giải
ngoài toà án. Đối với hòa giải tại VIAC, các quy định về hòa giải tuy có chi
tiết và quy mô, song nhìn chung vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để tính
chất trung gian hòa giải. Như vậy, có thể thấy sự phát triển của chế định hòa
giải tại Việt Nam không thống nhất, quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp
luật khác nhau. Nhìn chung các quy định bước đầu mới chỉ giới hạn phạm vi
của hòa giải ở các tranh chấp thương mại, hoạt động thương mại theo nghĩa
hẹp, chưa đưa ra được những vấn đề cơ bản của hòa giải. Các văn bản pháp
luật này cũng không có những quy định cụ thể, chi tiết hướng dẫn về phương
thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải.
1.2.2. Bản chất pháp lý của việc giải quyết tranh chấp thương mại