TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT – BỘ MÔN THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa 30 (Niên khóa 2004 – 2008) Đề tài:
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ VÀ VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
3.4. Chào hàng, chấp nhận chào hàng 19
3.4.1. Chào hàng 19
3.4.2. Chấp nhận chào hàng 21
3.4.3. Vấn đề trách nhiệm trong thực hiện hợp đồng 22
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 24
I. Thương lượng 26
1.1. Khái niệm, ý nghĩa 26
1.2. Một số loại khiếu nại phổ biến 28
1.2.1. Khiếu nại người bán hàng 28
1.2.2. Khiếu nại người bảo hiểm hàng hóa 31
II. Hòa giải 32
2.1. Khái niệm 32
2.2. Những ưu điểm và hạn chế của hòa giải 36
2.3. Thủ tục tiến hành hòa giải 37
2.3.1. Đề xuất hòa giải 37
2.3.2. Quá trình hòa giải 38
2.4. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải theo quy chế
hòa giải của UNCITRAL 39
III. Trọng tài thương mại 40
3.1. Khái niệm, đặc điểm của trọng tài thương mại 40
3.1.1. Khái niệm 40
3.1.2. Đặc điểm 41
3.2. Các loại trọng tài thương mại 43
3.3. Thỏa thuận trọng tài 46
3.3.1. Khái niệm 46
3.3.2. Nội dung của thỏa thuận trọng tài 49
3.4. Tố tụng trọng tài 51
3.4.1. Thủ tục khởi kiện tại trọng tài 51
3.4.2. Thủ tục thành lập trọng tài 53
Kết luận 104 Nhận Xét Của Giáo Viên Phản Biện
WWW XXX
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
xảy ra họ cũng không biết phải lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào
cho thỏa đáng, đặc biệt là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
bằng trọng tài thương mại, một hình thức còn khá mới mẽ ở Việt Nam. Nói đến
thương mại quốc tế không thể không đề cập đến tranh chấp thương mại quốc tế,
tranh chấp thương mại quốc tế được xem như một kiến thức cơ bản mà bất cứ ai
tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế đều phải trang bị cho mình. Đặc
biệt, khi Việt Nam đã gia nhập “sân chơi lớn” – tổ chức thương mại thế giới
WTO.
-1-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
Vì những lí do ấy, người viết đã chọn đề tài: “Cơ chế giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế và việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”.
Giới hạn đề tài: Vì tranh chấp thương mại quốc tế là một vấn đề khá rộng
lớn, nó bao gồm nhiều lĩnh vực như: độc quyền, kinh doanh không lành mạnh, sở
hữu trí tuệ…, vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ thương mại quốc tế cũng khá
nhiều loại như: vi phạm nghĩa vụ trong các Hiệp định thương mại song phương,
đa phương, vi phạm nghĩa vụ trong các hợp đồng thương mại cụ thể Cho nên,
vì thời gian không cho phép cũng như lượng kiến thức có hạn nên người viết chỉ
tập trung vào bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cơ bản
là: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án dưới góc độ của các
tranh chấp phát sinh trong hợp đồng thương mại cụ thể. Trong đó, người viết tập
trung vào hai phương thức chủ yếu là trọng tài và Tòa án cũng như đề xuất hoàn
thiện cho hai phương thức giải quyết tranh chấp này.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, trình bày đề tài
người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như so sánh, phân tích phát
triển, phân tích tổng hợp, thống kê nhằm làm nổi bật nội dung chính của đề tài,
Sinh viên thực hiện
Phan Trần Nguyên Huy
-3-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
CHƯƠNG 1
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I. Khái Quát Về Tranh Chấp Thương Mại Quốc Tế
Thương mại quốc tế là hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
vụ thương mại giữa các thương nhân có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở
thương mại tại các nước khác nhau nhằm mục đích thu lợi nhuận. Thương mại
quốc tế là tổng hòa các hoạt động mậu dịch đối ngoại của các nước.
Hoạt động thương mại quốc tế là một hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều
quốc gia, nhiều chủ thể ở nhiều quốc gia khác nhau. Do đó trong hoạt động
thương mại quốc tế thường xuyên xáy ra tranh chấp.
Theo từ điển luật học Black do West Pub Co xuất bản năm 1991 (Black’s
Law Dictionary) tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi),
sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi
từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay một lập luận trái ngược của bên kia.
Trong thực tiễn ngoại giao, thuật ngữ “tranh chấp quốc tế” được hiểu theo
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tranh chấp quốc tế bao hàm không chỉ
tranh chấp mà còn cả các tình thế (trạng thái xung đột giữa các quốc gia). Theo
nghĩa hẹp, tranh chấp quốc tế chỉ bao gồm các quan hệ xung đột giữa các quốc
gia được biểu hiện qua các bên tham gia cụ thể đối với các đối tượng tranh chấp
cụ thể.
Tóm lại, tranh chấp trong thương mại quốc tế là những bất đồng xảy ra trong
quá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế mà chủ yếu là khi thực
tấn chuối kho và lạc nhân. Trong quá trình vận chuyển, công ty của Nam Phi đã
không tính đến việc bao bì đóng gói, dùng container không có cửa thông gió để
vận chuyển. Khi tới cảng thì toàn bộ số chuối sấy khô và lạc nhân đã bị ẩm mốc
và hư toàn bộ, phải tiến hành chế biến lại với chi phí là 420 triệu VND. Bên mua
là công ty của Nam Phi đã yêu cầu Vegetexco chịu một nửa chi phí tái chế lại.
Công ty Nam Phi đã lập luận rằng vì người mua mới nhập hàng lần đầu tiên và
là bạn hàng mới nên Vegetexco phải chịu một nửa. Rõ ràng điều này là không
thỏa đáng và Vegetexco chỉ chấp nhận trả 50 triệu cho phía Nam Phi và nói rõ
rằng đây không phải là khoản tiền bồi thường mà là khoản hỗ trợ của Vegetexco
cho sự thiệt hại này. Bên công ty Nam Phi cũng chấp nhận thỏa thuận này.
Những yếu tố trên đã gây ra không ít tranh chấp, mặt khác các mối quan hệ
trong tranh chấp thương mại quốc tế ngày càng trở nên phức tạp, rối rắm, các bên
đều mong muốn đem lại nhiều lợi nhuận và ít chịu phí tổn nhất, và vì vậy các
tranh chấp thương mại quốc tế ngày càng phức tạp hơn.
-5-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
Hơn nữa, trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên còn gặp phải những
khó khăn, mâu thuẫn, trong quá trình quản lí, hoạt động thương mại của các bên.
Hệ thống pháp luật của các nước chính là trở ngại lớn nhất, bởi lẽ pháp luật của
các nước khác nhau có những quy định rất khác nhau, khác nhau về hình thức
hoạt động, nội dung hoạt động, khác nhau trong việc quy định địa vị pháp lí của
các bên tham gia, thậm chí thẩm quyền xét xử cũng có sự khác nhau.
Xung đột pháp luật là hiện tượng không thể tránh khỏi khi áp dụng pháp luật
của hai hay nhiều quốc gia. Về mặt lí luận, một quan hệ pháp luật có liên quan
đến bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu hệ thống pháp luật có thể được dẫn chiếu
đến trong việc giải quyết quan hệ đó. Trên thực tế, nội dung pháp luật của các
các bên.
II. Nguồn luật áp dụng
2.1. Điều ước quốc tế:
Điều 2 Pháp lệnh về kí kết và thực hiện điều ước quốc tế ngày 24/08/1998
của ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 20/08/1998 định nghĩa: “Điều
ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được kí kết giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể
khác của luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi như: Công ước, Hiệp ước,
Định ước, Công hàm thư, Nghị định thư…” Pháp lệnh này cũng đưa ra một số
cách phân loại dựa vào:
-Tên gọi và danh nghĩa điều ước quốc tế được các bên kí kết thỏa thuận
xác định tùy thuộc vào tính chất nội dung của văn bản.
- Điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Nhà nước là điều ước:
+ Về hòa bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia
+ Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp
+ Về các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng
+ Do các bên kí kết thỏa thuận
- Điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa chính phủ:
+ Để thực hiện điều ước quốc tế đã kí kết với danh nghĩa Nhà nước
+ Về các lĩnh vực không quy định tại khoản 2, Điều 4 của Pháp lệnh
+ Về các tổ chức quốc tế và các tổ chức khu vực khác
+ Do các bên kí kết thỏa thuận nhưng không trái với khoàn 2, điều 4 Pháp
lệnh
-7-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
- Điều ước quốc tế do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
+ Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế, được kí kết ngày 01/01/1980
với 11 quốc gia thành viên. Phạm vi áp dụng:
* Công ước Viên chỉ áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Công ước được áp dụng nếu hai nước tham gia kí kết hợp đồng đều là quốc gia
thành viên công ước
* Trong trường hợp chỉ có một bên thuộc nước phê chuẩn công ước, nhưng
xung đột tranh chấp về luật điều chỉnh đã dẫn tới việc áp dụng luật của nước này
* Áp dụng đối với hợp đồng đã kí kết giữa các bên không thuộc nước phê
chuẩn nhưng lại thỏa thuận áp dụng nó
* Công ước cũng quy định các bên có thể không áp dụng hoàn toàn hoặc bất
kì một điều khoản nào của công ước, trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng
* Công ước Viên không áp dụng đối với mua bán hàng hoá tiêu dùng, mua
bán tàu thủy, máy bay điện năng…
Việt Nam chưa phải là thành viên của Công ước Viên, nhưng công ước này
có thể được các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn làm luật điều chỉnh mối quan
hệ mua bán của mình với các nước ngoài nếu việc lựa chọn đó không trái với quy
định của Việt Nam.
+ Quy tắc Lahay ngày 15/06/1955 về luật áp dụng vào hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế
+ Công ước Roma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
kí kết vào ngày 19/06/1980 tại Roma
+ Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế, được kí kết
tại Mehico City ngày 17/05/1994
+ Hiệp định mua bán hàng dệt may Việt Nam - liên minh châu Âu
Hiệp định thương mại này chứa đựng những điều khoản liên quan đến
xuất xứ hàng hóa, điều khoản liên quan đến hạn ngạch (quota) và danh mục mặt
-9-
luật nước mình.
Tuy nhiên, quyền lợi tối huệ quốc này không áp dụng đối với quyền lợi và
quyền ưu đãi dành cho các nước láng giềng về mậu dịch biên giới.
+ Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
-10-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
Ngày 13/07/2000, tại Washington, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã
chính thức được kí kết giữa Bộ trưởng thương mại Việt Nam và đại diện thương
mại Hoa Kỳ, kết thúc 4 năm đàm phán. Hiệp định đã được Tổng thống Hoa Kỳ
kí kết ngày 16/10/2001. Ngày 28/01/2001, Quốc hội Việt Nam đã thông qua
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định. Ngày 11/12/2001 Bộ trưởng thương mại Việt
Nam và Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ đã trao đổi công hàm thư phê chuẩn Hiệp
định. Như vậy theo quy định tại khoản 1, điều 8, chương VII Hiệp định chính
thức có hiệu lực vào ngày 10/12/2001. Cho đến nay đây là Hiệp định song
phương mang tính tổng thể và bao quát nhất giữa việt Nam và Hoa Kỳ, nó không
chỉ quy định về thương mại hàng hoá mà còn có những điều khoản về thương
mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ.
Việc áp dụng điều ước quốc tế cần lưu ý một số vấn đề sau:
¾ Đối với điều ước quốc tế mà Nhà nước ta tham gia kí kết hoặc công nhận
thì các quy phạm của điều ước quốc tế đó có giá trị pháp lý cao hơn các quy
phạm pháp lý khác. Nếu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được ký kết dựa
trên một điều ước quốc tế thì điều ước quốc tế đó có thể đảm bảo cho quan hệ
hợp đồng được bảo đảm, duy trì thay đổi hợp đồng hoặc hủy bỏ một điều khoản
nào đó của hợp đồng nếu trái với những quy định của điều ước quốc tế đó. Tuy
nhiên, các điều ước quốc tế cũng có những quy phạm tùy ý và các bên đương sự
được phép tự thỏa thuận trong khuôn khổ quy phạm tùy ý đó đề cập.
làm luật điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp một doanh nghiệp Việt Nam kí
kết hợp đồng với một doanh nghiệp Pháp.
- Trường hợp 2: Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc
tế được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan thì luật quốc gia đương
nhiên trở thành luật áp dụng cho hợp đồng đó. Ví dụ như tại điều 42, điểm b
Công ước Viên về mua bán hàng hoá quốc tế có đoạn ghi: “Chiếu theo luật của
quốc gia có trụ sở thương mại của người mua”.
Trong hợp đồng thương mại quốc tế, luật quốc gia áp dụng thông thường
là luật của nước bên bán nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua, có thể là
luật của nước thứ ba, luật nơi kí kết hợp đồng, luật nơi thực hiện nghĩa vụ…
a) Luật của nước bên bán (lexvenditoris):
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, các bên đương sự hợp đồng có xu
hướng áp dụng luật nước ngoài để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên trong thực tiễn rất đa dạng:
- Các bên có thể áp dụng luật của nước người bán.
-12-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
- Các bên có thể áp dụng giải pháp hợp lí trong trường hợp cụ thể (dưới dạng
thông lệ). Ở dây vấn đề kĩ thuật tố tụng được đặt ra. Nếu người mua hàng thấy rõ
việc áp dụng luật của nước người bán có thể bất lợi thì có thể chọn trọng tài mà
thường áp dụng giải pháp hợp lí, nhưng điều này phụ thuộc vào sự đồng ý của
bên kia.
b) Luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus):
Theo nguyên tắc này, việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ thương
mại có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo pháp luật nước nơi thực hiện hành
vi. Nguyên tắc Lex loci actus được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế và
hiểu pháp luật nơi đó và chấp nhận áp dụng luật nước đó. Hình thức này được áp
dụng phổ biến ở Cộng hòa liên bang Đức. Việc áp dụng quy phạm xung đột này
rất phức tạp vì cùng một lúc có thể áp dụng luật của nhiều nước cho hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế. Ví dụ người bán giao hàng xấu thì phải chịu trách
nhiệm thế nào do luật nước người bán quy định, người mua trả tiền chậm thì có
trách nhiệm gì do luật nước người mua quy định.
¾
Luật nơi thực hiện hợp đồng (Lex loci regitactum):
Nếu hợp đồng không xác định được nơi kí kết hợp đồng thì có thể áp dụng
của nước nơi thực hiện hợp đồng để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vụ, nơi
thực hiện hợp đồng tại Việt Nam thì áp dụng luật Việt Nam để giải quyết .
c) Luật quốc tịch (Lex nationalist):
Việc xác định năng lực pháp lí và năng lực hành vi của các thể nhân và
pháp nhân ở các nước khác nhau là rất khác nhau. Điều quan trọng cần xác định
là quốc tịch của pháp nhân. Đối với thể nhân, năng lực pháp luật của họ thông
thường được xác định dựa trên pháp luật luật nơi cư trú. Còn năng lực hành vi thì
mỗi nước lại có quy định khác nhau. Có nước quy định năng lực hành vi dựa vào
pháp luật của nước nơi họ là công dân, bất kể họ có quốc tịch ở đâu (như Pháp,
Balan, Italia ), nhưng có nước lại quy định phải áp dụng luật nước nơi cư trú của
đương sự để xây dựng năng lực hành vi (Anh, Hồng Kông…) bất kể họ mang
quốc tịch nào.
Đối với pháp nhân thì pháp luật của các nước đều quy định nguyên tắc
xây dựng quốc tịch của pháp nhân. Theo pháp luật của Pháp, Đức và một số nước
khác, pháp nhân đặt trung tâm quản lí ở nước nào thì mang quốc tịch của nước
đó, bất kể nơi đăng ký hoạt động ở đâu. Một số nước khác lại cho rằng quốc tịch
của pháp nhân được xác định dựa vào nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi
thành lập…Tuy nhiên đối với pháp nhân xuyên quốc gia thì cách xác định quốc
tịch có nét khác biệt. Trong trường hợp này có thể:
- Căn cứ vào nơi đăng ký điều lệ mặc dù có trụ sở ở nơi khác. Công ước
Lahay năm 1956 về việc công nhận quyền của pháp nhân nước ngoài để giải
e) Luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật (Lex loci delecti
commiss):
Loại hình quy phạm này thường được áp dụng trong quan hệ trái vụ ngoài
hợp đồng có yếu tố nước ngoài người nhằm xác định trách nhiệm của các bên có
hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho bên khác. Tuy nhiên, trên thực tế việc
xác định nơi xảy ra thiệt hại rất phức tạp vì có trường hợp thiệt hại xảy ra có liên
-15-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
quan đến nhiều nước. Chẳng hạn như khi vận chuyển hàng từ một cảng nước này
đến một cảng nước khác. Việc kiểm tra hàng hóa được tiến hành ở cảng nước bên
kia cho thấy hàng hoá trong tình trạng tốt, nhưng khi kiểm tra hàng hoá ở cảng
đến hàng hóa lại bị hư hỏng. Trong trường hợp này rất khó xác định nơi nào là
nơi xảy ra tổn thất, bên nào là bên có lỗi.
2.3. Tập quán thương mại quốc tế:
Các tập quán được hình thành lâu đời trong quan hệ thương mại quốc tế,
khi được các chủ thể kí kết hợp đồng mua bán quốc tế công nhận, sẽ trở thành
nguồn luật điều chỉnh đối với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau. Trong
quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, thương mại quốc tế đóng một vai trò quan
trọng, vì tuy có thể không được đề cập chính thức trong các văn bản giao dịch,
nhưng trong thực tiễn mỗi khi có tranh chấp các tập quán thương mại quốc tế
thường được dẫn chiếu để áp dụng.
Tập quán thương mại phải là thói quen được công nhận. Thói quen thương
mại được công nhận khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Là một thói quen thương mại phổ biến, được áp dụng thường xuyên, có tính
ổn định
- Về từng vấn đề và từng khu vực, đó là thói quen thương mại duy nhất
bản Incoterm cũ vẫn còn hiệu lực chứ không phải bị mất hiệu lực như các văn
bản quy phạm pháp luật khác. Do đó các bên có quyền tự do lựa chọn bất kì
Incoterm nào trong 7 bản Incoterm trên miễn là thích hợp
Tập quán thương mại mang tính khu vực giống như tập quán thương mại
chung nhưng có phạm vi áp dụng nhỏ hẹp trong khu vực, vùng nhất định
2.4. Tiền lệ pháp về thương mại (án lệ):
Các quy tắc pháp luật được hình thành từ thực tiễn xét xử của Tòa án được
gọi là tiền lệ pháp. Tại các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, trong quá trình xét
xử các thẩm phán có thể sử dụng những phán quyết của Tòa án trước đó để làm
cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp tương tự. Trong lĩnh vực thương mại quốc
tế, công nhận và sử dụng các phán quyết của Tòa án cũng như thừa nhận vai trò
tích cực của các án lệ này ngày càng có xu hướng gia tăng tại các nước có hệ
thống pháp luật khác nhau. Các cơ quan xét xử sử dụng án lệ như một công cụ
làm giảm nhẹ những khó khăn, phức tạp trong việc tra cứu về những vấn đề tranh
chấp thương mại có tính tương đồng.
-17-
Luận văn tốt nghiệp Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam GVHD: Phạm Mai Phương SVTH: Phan Trần Nguyên Huy
III. Một số vấn đề về hợp đồng mua bán ngoại thương
3.1. Chủ thể:
Hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương là hợp đồng dược kí kết giữa
các cá nhân mang quốc tịch khác nhau hoặc giữa các pháp nhân có trụ sở tại
các quốc gia khác nhau nhằm mục đích sinh lợi.
3.2. Điều kiện cơ bản của một hợp đồng:
Trong mua bán quốc tế, một hợp đồng coi như chưa kết lập nếu thiếu các
điều kiện cơ bản, đó là những điều khoản chủ yếu. Pháp luật của các nước khác
cũng dược coi là hợp pháp. Điều 11 Công ước quy định: “Hợp đồng mua bán
không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một
yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh
bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhân chứng”. Quy định này tỏ ra rất
“thoáng” chính vì vậy rất dễ phát sinh tranh chấp, do ở mỗi nước lại có một quy
định rất khác nhau về cách xác định hình thức của hợp đồng và nếu chiếu theo
quy định của điều này thì hình thức ở mỗi nơi đều có thể là hợp pháp nhưng cũng
có thể là bất hợp pháp khi mà các quy phạm về hình thức ở mỗi nước lại xung
đột với nhau. Tuy nhiên, điều 96 Công ước quy định: “Nếu luật của một quốc gia
thành viên quy định hợp đồng mua bán phải được kí kết hay xác nhận bằng văn
bản thì quốc gia có thể bất cứ lúc nào tuyên bố chiếu theo Điều 11, 29 hoặc của
phần thứ hai Công ước này cho phép một hình thức khác với hình thức văn bản
cho việc kí kết, sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng mua bán, hay cho mọi chào hàng,
chấp nhận chào hàng hay sự thể hiện ý định nào khác sẽ không áp dụng nếu như
chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia”. Theo đó nếu luật
một quốc gia thành viên nào quy định hợp đồng mua bán phải được kí kết bằng
hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý thì yêu cầu hợp đồng phải được thể hiện
dưới hình thức văn bản phải được tôn trọng (kể cả trong trường hợp chỉ cần một
trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải
được thể hiện dưới hình thức văn bản). Như vậy, với quy định này Công ước đã
mở ra một hướng mới cho các quốc gia thành viên công ước khi muốn xác định
rõ hình thức hợp đồng thế nào là hợp pháp, hạn chế các tranh chấp về hình thức
hợp đồng.
3.4. Chào hàng và chấp nhận chào hàng:
3.4.1. Chào hàng:
a) Khái niệm: Chào hàng là môt đề nghị rõ ràng về việc kí hợp đồng của một
người gửi hay cho một hay nhiều người xác định. Trong đó người đề nghị bày tỏ
ý chí sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận lời đề nghị
đó. Như vậy, nếu một đề nghị được gửi cho một hay nhiều người không xác định
-19-
lúc với chào hàng (Điều 15, khoản 2 - CISG).
Trên thực tế có nhiều trường hợp ngay sau khi gửi chào hàng, vì nhiều lí do,
người chào hàng muốn rút những lời đề nghị của mình trong chào hàng bằng
-20-