ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** Nguyễn Thị Hường
Các nước đang phát triển và cơ chế giải
quyết tranh chấp thương mại của WTO
Chuyên ngành : Luật
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2.1 Vị thế của các nƣớc đang phát triển trong WTO 21
2.2 Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nƣớc đang phát triển theo quy định
của DSU . 23
2.2.1 Các ưu đãi chung 23
2.2.2 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong các giai đoạn tố tụng 25
2.3 Thực tế giải quyết tranh chấp của WTO liên quan đến các nƣớc đang phát triển 27
2.3.1 Thống kê chung 27
2.3.2 Những tranh chấp liên quan đến Trung Quốc và một số nước ASEAN 30
2.4 Một số vụ kiện điển hình 31
2.4.1 Vụ DS 122: Thái Lan - Thép rầm hình chữ H (Chống bán phá giá) 32
2.4.2 Vụ DS 207: Chilê -Hệ thống đai giá (Nông nghiệp) 39
2.4.3 Vụ DS231: Pê-ru - cá mòi (Các biện pháp thương mại liên quan đến xuất
khẩu) 45
2.4.4 Vụ DS 273: Hàn Quốc – tàu thương mại (Trợ cấp) 48
2.4.5 Vụ DS 309: Trung Quốc - mạch tích hợp (IC) (thuế) 55
2.5 Nhận xét về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO từ góc độ các nƣớc đang
phát triển 56
CHƢƠNG 3. VIỆT NAM VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG
MẠI CỦA WTO 64
3.1 Việt Nam trong các tranh chấp thƣơng mại quốc tế trƣớc khi vào WTO 64
3.2 Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO 69
3.3 Bài học kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp theo WTO 76
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DSB
WTO là một tổ chức quốc tế mà hoạt động của nó có ảnh hƣởng sâu sắc tới nền
kinh tế toàn cầu. Với số lƣợng thành viên cho đến thời điểm tháng 7 năm 2007
là 151 nƣớc tham gia, WTO xứng đáng là một tổ chức mang tính đại diện rộng
rãi nhất trong lĩnh vực kinh tế, thƣơng mại của thế giới. Thực hiện hai chức năng
cơ bản là tổ chức diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các thành viên về
thƣơng mại đa biên và hỗ trợ cho việc thực thi các Hiệp định thƣơng mại thông
qua cơ chế giải quyết tranh chấp đa phƣơng, WTO có thể mang lại cho bất kỳ
thành viên nào, dù là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển và kém
phát triển những lợi ích nhất định về kinh tế, thƣơng mại.
Hoạt động của WTO dựa trên nền tảng một hệ thống các quy định, các
cam kết do chính các thành viên xây dựng nên, trong đó, cơ chế giải quyết tranh
chấp đóng vai trò là một bộ phận trụ cột của các cam kết trong WTO, làm nền
tảng cho việc giải quyết các tranh chấp thƣơng mại quốc tế - một trong những
chức năng quan trọng của WTO, góp phần làm ổn định kinh tế thế giới.
Việt Nam, sau những nỗ lực vƣợt bậc đã trở thành thành viên chính thức
của WTO vào ngày 11/1/2007. Trở thành thành viên của WTO cũng đồng nghĩa
với việc Việt Nam, cùng với những thành viên khác trở thành đối tƣợng có khả
năng chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ các quy định về giải quyết tranh chấp thƣơng
mại của WTO. Hơn lúc nào hết, tìm hiểu về hệ thống các quy định của WTO nói
chung, các quy định về giải quyết tranh chấp thƣơng mại của WTO nói riêng là
một việc làm cần thiết.
Là một nƣớc đang phát triển, nằm trong nhóm các nƣớc có vị thế yếu hơn
trong WTO, Việt Nam cần phải có những chiến lƣợc và chính sách phù hợp để
chủ động ứng phó với các tranh chấp thƣơng mại quốc tế đang đƣợc xem là có
nguy cơ diễn ra theo chiều hƣớng ngày càng tăng. Những chiến lƣợc và chính
sách này có thể bắt đầu từ việc tìm hiểu về cơ chế giải quyết tranh chấp của 4
WTO. Lợi ích thiết thực từ việc tìm hiểu, nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh
Để triển khai đề tài, tôi đã sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu:
thống kê, phân tích - tổng hợp, phƣơng pháp diễn giải-quy nạp, phƣơng pháp đối
chiếu - so sánh và phƣơng pháp mô tả - khái quát, đặc biệt là phƣơng pháp
nghiên cứu theo trƣờng hợp điển hình (case study). Việc tiếp cận và xử lý các
trƣờng hợp điển hình về giải quyết tranh chấp thƣơng mại của WTO đƣợc lựa
chọn phù hợp từ góc độ các nƣớc đang phát triển giúp ngƣời viết rút ra đƣợc
những nhận định khách quan, xác thực theo đúng mục đích nghiên cứu đã đề ra.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chƣơng chính nhƣ sau:
Chƣơng 1 – Tổng quan về cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại của
WTO
Chƣơng 2 – Các nƣớc đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO - từ lý thuyết đến thực tế
Chƣơng 3 – Việt Nam và cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại của
WTO
Do thời gian và sự hiểu biết còn có hạn chế nên Luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các
Thầy giáo, Cô giáo và các học giả đi trƣớc để hoàn thiện thêm nghiên cứu của
mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Dƣơng Thị Thanh Mai đã tận tình
hƣớng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này. 6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI CỦA WTO
1.1 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – những vấn đề cơ bản
1.1.1 Lịch sử hình thành và nền tảng pháp lý
Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO đƣợc hình thành trên nền tảng pháp lý
1.1.2 Đối tƣợng và phạm vi áp dụng, các bên tham gia
Chủ thể của cơ chế giải quyết tranh chấp là các quốc gia thành viên của
WTO. Tranh chấp thuộc đối tƣợng điều chỉnh của DSU là các tranh chấp phát
sinh trong quan hệ thƣơng mại giữa các quốc gia thành viên WTO với nhau chứ
không phải là tranh chấp giữa các chủ thể là cá nhân công dân hoặc tổ chức
mang quốc tịch của các nƣớc thành viên WTO mặc dù họ chính là những đối
tƣợng trực tiếp thực hiện các giao dịch thƣơng mại quốc tế. Các quốc gia thành
viên của WTO là chủ thể duy nhất có thể tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp
WTO. Ban thƣ ký của WTO, các nƣớc chƣa phải là thành viên WTO, các tổ
chức quốc tế khác, các chính quyền địa phƣơng và khu vực, các cá nhân, pháp
nhân của mỗi quốc gia thành viên đều không đƣợc tham gia khởi kiện theo thủ
tục giải quyết tranh chấp WTO. Để đảm bảo quyền tham gia vào hệ thống này,
các quốc gia thành viên thƣờng quy định trong pháp luật nƣớc mình cho phép
các chủ thể là cá nhân, pháp nhân - những đối tƣợng chịu ảnh hƣởng trực tiếp
(với tƣ cách là những ngƣời xuất khẩu, nhập khẩu) bởi các hành vi đƣợc cho là
vi phạm Hiệp định WTO có thể đệ đơn lên Chính phủ của họ đề nghị đƣa tranh
chấp ra WTO.
Tranh chấp thuộc đối tƣợng điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO xuất hiện khi một nƣớc thành viên WTO cho rằng một nƣớc thành
viên khác đã vi phạm các quy định của WTO làm ảnh hƣởng đến lợi ích của họ
hoặc ảnh hƣởng đến việc thực hiện các mục tiêu của các cam kết WTO. Hành vi
vi phạm của một nƣớc thành viên có thể là việc không thực hiện nghĩa vụ đã
cam kết, hoặc việc áp dụng bất kỳ biện pháp nào bất kể biện pháp đó có vi phạm
quy định của Hiệp định hay không, hoặc việc tồn tại của bất kỳ tình huống nào
khác gây ra hậu quả nêu trên. Theo đó, nếu một nƣớc thành viên cho rằng nƣớc
thành viên khác không thực hiện nghĩa vụ hoặc cam kết theo Hiệp định thì có 8
thể áp dụng DSU để giải quyết. Nếu cơ quan giải quyết tranh chấp cho rằng
đƣợc xem nhƣ là phán quyết của DSB về vụ khiếu kiện và có giá trị ràng buộc
thi hành đối với các bên.
Để đảm bảo cho Ban hội thẩm có thể làm việc một cách linh hoạt, hiệu
quả và nhanh chóng, DSU quy định cụ thể về thời gian cho từng giai đoạn tố
tụng cũng nhƣ thời gian làm việc cụ thể của Ban hội thẩm nhằm tránh tình trạng
trì trệ trong giải quyết tranh chấp có thể làm ảnh hƣởng đến lợi ích của các bên.
Một thời gian biểu chi tiết cho lịch làm việc của Ban hội thẩm đƣợc quy định
trong Phụ lục 3 mục 12 của DSU. Trong quá trình xem xét vụ việc, Ban hội
thẩm có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trƣng cầu ý kiến giám định
của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật.
Cơ quan phúc thẩm là một cơ quan thƣờng trực của WTO gồm 7 thành
viên là những ngƣời có uy tín đƣợc công nhận, có kinh nghiệm chuyên môn đã
đƣợc chứng minh về pháp luật, thƣơng mại quốc tế và những nội dung của các
Hiệp định có liên quan nói chung. Cơ quan phúc thẩm có nhiệm vụ rà soát
kháng cáo về các vấn đề luật đã đƣợc Ban hội thẩm giải quyết. Cơ quan phúc
thẩm cũng có một ban thƣ ký để hỗ trợ về hành chính và pháp lý. Ban thƣ ký
này hoàn toàn tách biệt với Ban thƣ ký của WTO ngoại trừ các liên hệ về hành
chính.
Tổng Giám đốc WTO có vai trò hỗ trợ thiện chí, hòa giải hoặc trung
gian, bổ nhiệm Hội thẩm viên, bổ nhiệm trọng tài.
Ban Thƣ ký WTO đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO, chịu trách nhiệm trợ giúp về mặt thủ tục, lịch sử, pháp lý
cho Ban hội thẩm. Một trong những vai trò đặc biệt quan trọng của Ban thƣ ký
WTO là ghi nhớ các vụ việc để tạo ra sự liên tục và nhất quán giữa các Ban hội
thẩm qua các vụ việc đƣợc giải quyết. Nhờ vai trò này của Ban Thƣ ký, DSU có
thể đảm bảo đƣợc mục tiêu là tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán trƣớc đối
với hệ thống thƣơng mại đa biên. Do đƣợc thƣờng xuyên cọ sát trong các vụ giải
quyết tranh chấp, Ban thƣ ký đã tích luỹ đƣợc chuyên môn thậm chí chuyên sâu
hơn thành viên Ban hội thẩm [12].
11
đƣa ra đƣợc các lý do đề nghị, xác định các vấn đề gây tranh cãi và chỉ ra các cơ
sở pháp lý của bên khiếu kiện.
Trừ trƣờng hợp có các thỏa thuận khác, bên bị khiếu kiện phải trả lời đề
nghị tham vấn trong vòng 10 ngày và phải tiến hành tham vấn với thiện chí
trong khoảng thời gian không quá 30 ngày sau ngày nhận đƣợc đề nghị tham
vấn. Nếu bên bị khiếu kiện không đáp ứng thời hạn trên, bên khiếu kiện ngay lập
tức có thể tiến hành các bƣớc để có thể xét xử giải quyết tranh chấp và đề nghị
thành lập một Ban hội thẩm (Điều 4.3 của DSU). Ngay cả trong trƣờng hợp bên
bị khiếu kiện cam kết tham vấn thì bên khiếu kiện vẫn có thể tiến hành đề nghị
thành lập một Ban hội thẩm trong khoảng thời gian sớm nhất là 60 ngày kể từ
ngày nhận đƣợc đề nghị tham vấn, với điều kiện là vẫn chƣa tìm đƣợc một giải
pháp thỏa đáng nào trong quá trình tham vấn. Tuy nhiên, bƣớc tham vấn có thể
kết thúc sớm hơn nếu các bên cũng cân nhắc thấy rằng các cuộc tham vấn không
giải quyết đƣợc tranh chấp (Điều 4.7 của DSU). Trong thực tế, các tranh chấp
thƣờng cho phép các bên có một khoảng thời gian đáng kể dài hơn mức tối thiểu
là 60 ngày. Trong trƣờng hợp khẩn cấp bao gồm các vấn đề liên quan tới hàng
hóa dễ hƣ hỏng, các thành viên phải tham gia vào tham vấn trong khoảng thời
gian không quá 10 ngày sau ngày nhận đƣợc đề nghị tham vấn. Nếu các cuộc
tham vấn không giải quyết đƣợc tranh chấp trong khoảng thời gian 20 ngày kể
từ ngày nhận đƣợc đề nghị thì bên khiếu kiện có thể đề nghị thành lập một Ban
hội thẩm (Điều 4.8 của DSU). Một thành viên của WTO không phải là bên
khiếu kiện, không phải là bên bị khiếu kiện có thể quan tâm đến vấn đề mà các
bên tranh chấp đang thảo luận trong các cuộc tham vấn của họ. Trong trƣờng
hợp đó, thành viên nói trên đƣợc coi là bên thứ ba trong các cuộc tham vấn.
Thành viên đó có thể đề nghị tham gia các cuộc tham vấn nếu thấy lợi ích của họ
bị tác động bởi các cuộc tham vấn này.
Với mục tiêu xuyên suốt là giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng,
dụng. Trƣờng hợp có nhiều thành viên cùng đề nghị lập Ban hội thẩm và một vụ
tranh chấp liên quan đến quyền lợi của nhiều thành viên, một Ban hội thẩm có
thể xem xét tranh chấp của nhiều bên khiếu nại, và các bên thứ ba có quyền lợi
cũng có quyền đƣợc trình bày với Ban hội thẩm. 13
Ban hội thẩm làm việc theo một thời gian biểu chặt chẽ đƣợc quy định cụ
thể tại Phụ lục 3 của DSU, thông thƣờng không quá 6 tháng (3 tháng trong
trƣờng hợp khẩn cấp). Ban hội thẩm sẽ xem xét các giải trình bằng văn bản cũng
nhƣ họp để nghe trình bày của các bên tranh chấp và các bên thứ ba. Ban hội
thẩm có thể tìm kiếm thông tin và tƣ vấn kỹ thuật từ các nguồn thích hợp hoặc
có thể yêu cầu báo cáo tƣ vấn của Nhóm Rà soát Chuyên môn để lập dự thảo
báo cáo. Dự thảo báo cáo sẽ đƣợc gửi cho các bên tranh chấp lấy ý kiến. Sau khi
các bên có ý kiến, Ban hội thẩm chuẩn bị một báo cáo tạm thời gồm có các số
liệu, trích dẫn điều luật. Báo cáo tạm thời đƣợc gửi cho các bên và các bên có
thể yêu cầu triệu tập cuộc họp với Ban hội thẩm để thảo luận các vấn đề nêu ra.
Tại giai đoạn cuối của quá trình rà soát tạm thời, Ban hội thẩm soạn ra một báo
cáo cuối cùng và gửi đến DSB. DSB có thể xem xét báo cáo 20 ngày sau khi báo
cáo đƣợc gửi đến các thành viên. Nếu có điểm không đồng tình, các bên phải
nêu ra ít nhất 10 ngày trƣớc phiên họp của DSB để xem xét báo cáo của Ban hội
thẩm. Trong vòng 60 ngày sau ngày chuyển báo cáo đến các bên, DSB phải
thông qua trừ khi một bên tranh chấp chính thức thông báo cho DSB về quyết
định kháng nghị của mình hoặc DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không
thông qua báo cáo này.
Các bên tranh chấp (không tính các bên thứ ba) có thể kháng nghị báo cáo
của Ban hội thẩm lên một Cơ quan Phúc thẩm gồm 7 thành viên đƣợc lập ra để
tiếp nhận kháng nghị. Cơ quan Phúc thẩm chia thành nhóm 3 ngƣời. Các thành
viên Cơ quan Phúc thẩm đƣợc bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm và không đƣợc liên
quan tới bất kỳ chính phủ nào. Cơ quan Phúc thẩm có quyền ủng hộ, sửa đổi
từ ngày thông qua báo cáo nhƣng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn tùy theo hoàn
cảnh.
Nếu các khuyến nghị và phán xử của DSB không đƣợc thực hiện trong
khoảng thời gian hợp lý, có hai chế tài có thể áp dụng: bồi thƣờng và trả đũa
(hay ngừng ƣu đãi). Cả hai lệnh trừng phạt đều tạm thời. Không có trừng phạt
nào đƣợc coi là sự thay thế cho việc thực thi một khuyến nghị hay một quy định
của các Hiệp định WTO. Trong trƣờng hợp thành viên vi phạm quy định của
WTO không có các biện pháp sửa chữa theo nhƣ quyết định của DSB, DSB có 15
thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các “biện pháp trả đũa” (trừng phạt
thƣơng mại). Những biện pháp nhƣ vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng đƣợc áp
dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh nhƣ Mỹ hay Liên minh châu
Âu. Ngƣợc lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm
lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn.
1.2 Đánh giá chung về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Đƣợc hình thành và phát triển trên nền tảng các quy định về giải quyết
tranh chấp của GATT, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã có những thay
đổi tích cực góp phần nâng cao hiệu lực và tác dụng của cơ chế này với mục
đích giải quyết ổn thoả các tranh chấp thƣơng mại quốc tế, duy trì ổn định và
phát triển hệ thống thƣơng mại đa phƣơng theo Hiệp định WTO. Ngoài việc tiếp
tục kế thừa những ƣu điểm của phƣơng thức giải quyết tranh chấp theo GATT
nhƣ cân bằng quyền và nghĩa vụ, giải quyết tích cực các tranh chấp, cấm đơn
phƣơng áp dụng các biện pháp trả đũa khi chƣa đƣợc phép, cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO đã có những thay đổi tích cực, mang lại những hiệu quả to
lớn trong quá trình giải quyết tranh chấp thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên
WTO. Bên cạnh những thay đổi hết sức quan trọng, tạo bƣớc đột phá cho cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO nhƣ áp dụng nguyên tắc đồng thuận phủ
quyết, rút gọn thời gian, đẩy nhanh tiến độ giải quyết tranh chấp, bổ sung thủ tục
nghĩa đơn phƣơng trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế, tạo lập và
duy trì một hành lang pháp lý phù hợp để giải quyết tranh chấp phát sinh từ đó
giúp cho việc bảo đảm một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia thành viên. Về
thực tế, hiệu quả của việc áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp WTO đƣợc
thể hiện qua số lƣợng các vụ khiếu kiện đƣợc thông báo tới WTO, số lƣợng các
vụ việc đã giải quyết và việc thi hành các phán quyết. Tuy nhiên, kết quả đánh
giá chỉ dựa vào thông báo của các bên gửi tới WTO. Kết quả giải quyết tranh
chấp cũng đƣợc coi là thành công khi WTO không tìm thấy những sai sót của
bên bị khiếu kiện và không đòi hỏi hành động nào của WTO [3].
Về số lƣợng, theo số liệu thống kê của WTO, từ ngày 1/1/1995 đến ngày
12/7/2007, trong hơn 10 năm, tổng số các vụ khiếu kiện thông báo tới WTO là
366 vụ, trong đó, có 31 vụ đang giải quyết, 102 báo cáo đã đƣợc thông qua, các 17
vụ tranh chấp đã đƣợc giải quyết hoặc không đƣa ra là 30 vụ và tổng số giải
pháp theo phƣơng thức đa biên là 58 vụ. Nhƣ vậy, chỉ trong hơn 10 năm, số
lƣợng các vụ tranh chấp đƣợc đƣa ra giải quyết theo WTO đã cao hơn hẳn so với
tổng số 344 vụ tranh chấp đã đƣợc giải quyết trong suốt gần 50 năm tồn tại của
GATT. Số lƣợng các vụ kiện đƣợc đƣa ra đạt đỉnh cao vào những năm 97, 98
sau đó giảm dần và đến nay trung bình khoảng trên dƣới 20 vụ mỗi năm. Tổng
số vụ tranh chấp đƣợc giải quyết theo cơ chế của WTO đƣợc thống kê trong
bảng sau (xem Bảng 1)
BẢNG 1- TỔNG SỐ VỤ TRANH CHẤP GIẢI QUYẾT THEO CƠ CHẾ
CỦA WTO ( TỪ NĂM 1995 ĐẾN NGÀY 12/7/2007)
Năm
„95
„96
„97
„98
kiện trong khoảng 140 vụ, chiếm gần 30% . Với tƣ cách là bị đơn, các nƣớc phát
triển bị kiện trong 236 vụ chiếm khoảng 63% còn các nƣớc đang phát triển bị
kiện trong 135 vụ tƣơng ứng với 37%. Trong số các vụ tranh chấp đƣợc đƣa ra
giải quyết theo cơ chế của WTO, các nƣớc phát triển chiếm gần 2/3 cả về tổng
số lần bị kiện cũng nhƣ đi kiện và tập trung chủ yếu vào hai trung tâm kinh tế
lớn là Mỹ (82 vụ là nguyên đơn, 106 vụ là bị đơn) và Liên minh Châu Âu (72 vụ
là nguyên đơn, 67 vụ là bị đơn). Các nƣớc đang phát triển tham gia vào cơ chế
này chủ yếu tập trung vào một số nƣớc nhƣ Braxin 35 vụ (22 vụ là nguyên đơn
và 13 vụ là bị đơn), Ấn Độ 34 vụ (17 vụ là nguyên đơn và 17 vụ là bị đơn),
Mêxicô 30 vụ (16 vụ là nguyên đơn và 14 vụ là bị đơn) Các nƣớc đang phát
triển khác tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn hạn chế
khoảng gần 40% số vụ tranh chấp có bên khiếu kiện là các nƣớc đang phát triển. 18
Sự tham gia của từng nhóm nƣớc trong các vụ kiện đƣợc đƣa ra giải quyết theo
cơ chế của WTO đƣợc thể hiện trong bảng sau (Xem Bảng 2).
BẢNG 2 - SỐ VỤ TRANH CHẤP ĐƢA RA WTO THEO NHÓM NƢỚC
(TỪ 1995 ĐẾN NGÀY 12/7/2007)
Tƣ cách
Nƣớc
Nguyên đơn
Bị đơn
Số vụ
Tỷ lệ (%)
Số vụ
Tỷ lệ (%)
Các nƣớc đang phát triển
131
32%
trong các Hiệp định có liên quan đƣợc viện dẫn. Tỷ lệ Báo cáo của Ban hội thẩm
bị kháng cáo đƣợc thể hiện trong đồ thị sau: 19
ĐỒ THỊ 1: TỶ LỆ BÁO CÁO CỦA BAN HỘI THẨM BỊ KHÁNG CÁO
(1996-2005)
Nguồn:
Những số liệu trên cho thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã tạo
đƣợc niềm tin ít nhất là đủ để các nƣớc thành viên sẵn sàng viện dẫn và áp dụng
cơ chế này trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Có thể nói, những thay đổi
tích cực về cơ cấu và thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp từ GATT đến
WTO đã đem lại hiệu lực và hiệu quả áp dụng các quy tắc trong giải quyết tranh
chấp. Những thay đổi này đang vẫn đƣợc tiếp tục thể hiện trong vòng đàm phán
Doha. Tại vòng đàm phán này có sự bổ sung những vấn đề mới, nhƣ nông
nghiệp, dịch vụ, các biện pháp đầu tƣ liên quan đến thƣơng mại và quyền sở hữu
trí tuệ mà cho đến nay, khoảng một phần ba các tranh chấp liên quan đến những
vấn đề “mới” này. Việc mở rộng quyền lực pháp lý của hệ thống thƣơng mại đa
phƣơng đã ảnh hƣởng đáng kể đến tính hiệu quả của thủ tục giải quyết tranh
chấp. Do dó các bên cũng đã nhất trí về việc đàm phán các cải tiến và làm rõ
DSU tại vòng đàm phán Doha. Mặc dù vậy, đến nay các kết quả đạt đƣợc cũng
chƣa rõ ràng.
Nhƣ vậy, trên cơ sở kế thừa những ƣu điểm và rút kinh nghiệm từ những
hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp theo GATT, WTO đã xây dựng và duy 20
trì một cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế mang nhiều ƣu điểm
hơn, một hệ thống mang tính định hƣớng quy tắc, xóa bỏ chủ nghĩa đơn phƣơng
phán Uruguay đã mang lại những lợi ích thực sự cho các nƣớc đang phát triển
trong WTO. Mặc dù vậy, do ở vị thế thấp kém hơn trong mối quan hệ với các
nƣớc phát triển, các nƣớc đang phát triển chỉ đƣợc hƣởng những kết quả của
vòng đàm phán Uruguay một cách hết sức hạn chế. Cho đến nay, sức mạnh đàm
phán trong WTO cũng vẫn luôn nghiêng về các quốc gia công nghiệp phát triển.
Nguyên nhân đặt các nƣớc đang phát triển vào vị thế bất lợi trong WTO
có nhiều, trong đó phải kể đến những nguyên nhân điển hình nhƣ: Thứ nhất, do
trình độ phát triển thấp nên cho các nƣớc đang phát triển không thể khởi xƣớng
và định hình các chƣơng trình nghị sự cũng nhƣ tham gia tích cực vào các cuộc
đàm phán; Thứ hai, sự khan hiếm các nguồn lực về con ngƣời và kỹ thuật của
các nƣớc nghèo đã ảnh hƣởng bất lợi tới vị thế của họ trong WTO dẫn đến tình
trạng bị động của họ trong các cuộc đàm phán (hiện tại, hơn 20 nƣớc kém phát
triển không có đại diện tại Geneva, mặc dầu có khoảng từ 40 đến 50 cuộc họp 22
của WTO diễn ra tại đó mỗi năm); Thứ ba, các nƣớc đang phát triển thƣờng im
lặng trong nhiều trƣờng hợp trong đó lợi ích chính đáng của họ bị xâm phạm, do
thiếu tinh thông về pháp luật WTO và không có khả năng theo đuổi các cuộc
tranh chấp tốn kém, kéo dài và nhiều sức ép chính trị theo cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO. Nguyên nhân cuối cùng, các cƣờng quốc lớn thƣờng tự coi
mình là những ngƣời chỉ huy hệ thống thƣơng mại thế giới, coi thƣờng vai trò
của các nƣớc đang phát triển. Các nƣớc giàu đã tạo ra một sân chơi không bình
đẳng bằng việc đƣa ra những Hiệp định có lợi cho bản thân họ mà không tính
đến các yêu cầu phát triển của các quốc gia nghèo hơn. Khoảng cách phát triển
giữa các nƣớc giàu và nghèo ngày càng rộng cũng làm yếu đi vị thế của các nền
kinh tế đang phát triển trong WTO [15].
Mặc dù vậy, sức mạnh của các nƣớc đang phát triển đã đang ngày càng
đƣợc tăng cƣờng và vị thế của nhóm nƣớc này trong WTO đã dần đƣợc cải thiện.
Điều này đƣợc thể hiện thông qua việc ngày càng có nhiều nƣớc đang phát triển
chấp. Tuy nhiên, đối xử đặc biệt và khác biệt mang tính ƣu đãi ở đây không phải
là giảm nhẹ nghĩa vụ hoặc làm tăng các quyền về mặt nội dung mà là những đối
xử đặc biệt và khác biệt về mặt thời hạn, về hạn chế những biện pháp có thể ảnh
hƣởng đến lợi ích kinh tế của các nƣớc thành viên đang phát triển và những ƣu
đãi về hỗ trợ, tƣ vấn pháp lý. Những ƣu đãi dành cho các nƣớc đang phát triển
đƣợc quy định tại các Điều 3.12, 4.10, 8.10, 12.10, 12.11, 21.2, 21.7, 21.8, 24 và
27.2 của DSU.
2.2.1 Các ƣu đãi chung
Điều 3.12 DSU quy định cho phép nƣớc thành viên đang phát triển khởi
kiện chống lại một nƣớc thành viên phát triển có thể áp dụng thủ tục giải quyết
tranh chấp đƣợc Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5/4/1966
(BISD 14S/18). Theo Quyết định này, thời hạn giải quyết vụ việc của Ban hội
thẩm ngắn hơn rất nhiều so với quy trình thông thƣờng mà DSU quy định. Khi
áp dụng trình tự theo quyết định này, Ban hội thẩm phải đệ trình báo cáo của
mình trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đƣợc yêu cầu giải quyết tranh chấp,
trừ trƣờng hợp Ban hội thẩm cho rằng thời hạn theo quy định tại Quyết định nêu 24
trên không đủ để đƣa ra phán quyết và đƣợc sự đồng ý của nguyên đơn là nƣớc
đang phát triển, thời hạn trên mới có thể kéo dài.
Theo quy định tại Điều 12.11 của DSU, trong trƣờng hợp khi một bên
hoặc nhiều bên trong tranh chấp là nƣớc đang phát triển thì trong Báo cáo của
Ban hội thẩm sẽ chỉ ra một cách rõ ràng hình thức xem xét các điều khoản đãi
ngộ đặc biệt và khác biệt cho các nƣớc thành viên đang phát triển nhƣ là một
phần của những Hiệp định có liên quan và đƣợc các nƣớc đang phát triển nêu
lên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Nội dung quy định này nghĩa là bất cứ
khi nào các nƣớc thành viên đang phát triển cũng có quyền viện dẫn đến những
quy định về đối xử đặt biệt và khác biệt trong các Hiệp định có liên quan của
WTO trƣớc Ban hội thẩm và khi đó, Ban hội thẩm phải chỉ ra rõ ràng trong báo