I – PHẦN MƠ BÀI :
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( tiếng Anh là Association of
Southeast Asia Nations, viết tắt là ASEAN ) được thành lập trên cơ sở tuyên bố
Băng Cốc ngày 08/8/1967 với 5 quốc gia thành viên sáng lập. Trải qua hơn 40
năm tồn tại và phát triển, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức khu vực
phát triển năng động trên hầu hết các lĩnh vực, đồng thời đã có những đóng góp
quan trọng trong việc củng cố, thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác trong
ASEAN, tạo dựng được quan hệ đối tác tin cậy với tất cả các nước lớn, các khu
vực quan trọng trên thế giới. Nhận thức được điều đó, trong hiện tại cũng như lâu
dài vấn đề hội nhập ASEAN là một ưu tiên chiến lược, tạo điều kiện hỗ trợ tích
cực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đó cũng là một bộ phận
quan trọng trong chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ
động hội nhập khu vực của Việt Nam. Nhất là trong năm 2010 vừa qua, thủ đô
Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung tưng bừng trong những sự kiện chính trị
và văn hóa nổi bật trong năm Việt Nam lần thứ hai đảm nhận vai trò chủ tịch
ASEAN.
II – PHẦN NỘI DUNG :
1. Khái quát chung về ASEAN và tìm hiểu về cơ chế giải quyết tranh
chấp khu vực của ASEAN: (Phương, Hiếu)
ASEAN (Association of Southeast Asia Nation) có tiền thân là tổ chức
được gọi là Hiệp hội Đông Nam Á, thường được gọi là ASA, một liên minh gồm:
Philippines, Malaysia và Thái Lan được thành lập 1961. Tuy nhiên, kể từ khi
thành lập năm 1967 ASEAN đã đặt mục tiêu “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu
tiên hợp tác. Tuyên bố thành lập ASEAN (Tuyên bố Băng cốc) ngày 08/8/1967
nêu mục đích các quốc gia thành viên “sẽ thông qua các nỗ lực chung, tích cực
hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa…”. Có thể nêu các giai đoạn phát
triển hợp tác kinh tế ASEAN như sau:
Chính khối này được thành lập ngày 8/8/1967, khi các bộ trưởng ngoại
giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippones, Singapore, và Thái
Lan – gặp gỡ tại tòa nhà Bộ ngoại giao Bangkok
- Tuyên bố Băng cốc (năm 1967) : đây là Tuyên bố thành lập Hiệp hội
các nước Đông Nam Á với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội,
phát triển văn hoá; tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hoà
bình, ổn định trong khu vực.
- Tuyên bố CualaLămpơ: tháng 11/1971, các nước ASEAN đã đưa ra
văn bản quan trọng đầu tiên là Tuyên bố CualaLămpơ về thiết lập Khu vực Hoà
bình, Tự do và Trung lập ở Đông Nam Á (ZOPFAN). Tuyên bố này đã định ra
các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN là xây dựng Đông Nam Á thành một
khu vực hoà bình, tự do, và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất cứ hình
thức nào của các cường quốc bên ngoài.
- Tuyên bố Manila năm 1987: bày tỏ quyết tâm của các nước ASEAN
tiếp tục thúc đẩy và củng cố đoàn kết và hợp tác khu vực, giải quyết các tranh
chấp bằng biện pháp hoà bình, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế, khuyến khích
khu vực tư nhân tham gia vào hợp tác ASEAN.
- Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IV được tiến hành ở Singapo từ 27-
28/1/1992. Hội nghị này đã ra Tuyên bố khẳng định quyết tâm của ASEAN đưa
sự hợp tác chính trị và kinh tế lên tầm cao hơn và mở rộng hợp tác sang lĩnh vực
hợp tác an ninh
- Lào và Mi-an-ma gia nhập ASEAN tháng 7/1997
- Lễ kết nạp Căm-pu-chia tại Hà Nội tháng 4/1999Lễ kết nạp Căm-pu-
chia chính thức trở thành thành viên thứ 10 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á đã được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 30/4/1999.
- Sự kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thành tựu đỉnh cao của ASEAN
sau 40 năm thành lập đó chính là ngày 20/11, tại Singapore, các nhà lãnh đạo Nhà
nước, Chính phủ 10 nước thành viên ASEAN đã thông qua Hiến chương
ASEAN. Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực, 30
ngày sau khi được cả 10 nước thành viên nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn.
ASEAN đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm sự kiện quan trọng này tại Trụ sở Ban
2
thư ký ASEAN, Jakarta, Indonesia, với sự tham dự của các ngoại trưởng và đại
dựng và liên kết giữa các quốc gia ASEAN trên nhiều lĩnh vực, thể hiện sự hợp tác
và đoàn kết khu vực cao độ.
2. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp khu vực:
Từ khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A' (ASEAN) được thành lập
năm 1967 đến nay, hợp tác khu vực giữa các nước thành viên đã có những bước
tiến bộ đáng kể. Các nước ASEAN đã xây dựng được những cơ chế hợp tác giữa
họ với nhau trên cơ sở song phương cũng như đa phương về các mặt. Sự hợp tác
nhiều mặt trong cùng một tổ chức đã dần gắn bó, liên kết các nước thành viên lại
với nhau, từ đó góp phần củng cố và duy trì môi trường khu vực hoà bình, ổn
định, xây dựng ASEAN vững mạnh, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của mỗi nước thành viên.
Về chính trị-an ninh: Đây là lĩnh vực có nhiều hoạt động hợp tác nổi trội
và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình và ổn định ở khu vực. Trước hết, sự
3
hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia
tăng thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường
xuyên ở các cấp, nhất là giữa các vị Lãnh đạo Cấp cao. ASEAN chủ động đề
xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hòa bình và an
ninh khu vực, như : Tuyên bố Đông Nam á là Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung
lập (ZOPFAN) năm 1971; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á
(TAC) ký năm 1976 và đến nay đã trở thành Bộ quy tắc ứng xử chỉ đạo mối quan
hệ không chỉ giữa các nước Đông Nam Á mà cả giữa các nước ASEAN và các
đối tác bên ngoài; Hiệp ước Khu vực Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân
(SEANWSZ) năm 1995; Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển
Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển
Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông, ... Như vậy có thể
thấy ASEAN có vai trò hết sức quan trọng trong an ninh chính trị, cụ thể hơn là
trong giải quyết tranh chấp khu vực. Các nhà nhận định cho rằng : “ASEAN sẽ
đóng vai trò quan trọng trong tương lai Châu Á .”
2.1. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh
2. ASEAN sẽ duy trì và thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp trong tất
cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN”
Điều 23: Bên thứ ba, hòa giải và trung gian
“1. Các quốc gia thành viên có tranh chấp vào bất kỳ thời điểm nào có thể
sử dụng các phương thức như đề nghị bên thứ ba, hòa giải hoặc trung gian để giải
quyết tranh chấp trong khoảng thời gian thỏa thuận.
2. Các bên tranh chấp có thể yêu cầu chủ tịch ASEAN hoặc tổng thư ký
ASEAN trong quyền hạn mặc nhiên của mình làm bên thứ ba, hòa giải hoặc trung
gian”
Tuy nhiên, vai trò trung gian hoà giải của ASEAN cũng cần phải được sự
đồng thuận nhất trí của hai bên tranh chấp. Không có sự chấp thuận của một bên
tranh chấp, dĩ nhiên ASEAN sẽ khó lòng phát huy vai trò của mình. Do đó, sẽ
không quá lời nếu thừa nhận rằng hỗ trợ ổn định tình hình giữa hai bên tranh chấp
là một thách thức không nhỏ đối với ASEAN , nhất là khi căng thẳng giữa hai
quốc gia không chỉ dừng lại ở tranh chấp biên giới mà lan cả sang các cáo buộc
về gián điệp và xâm nhập lãnh thổ.
Thêm vào đó, ASEAN cũng phải rất thận trọng nếu giao tranh biên giới
đang là một chủ đề làm nóng hơn tranh cãi trong chính trị nội bộ của các bên. Vì
thế ASEAN phải từng bước giải quyết tranh chấp tuỳ theo tình hình thực tế giữa
các bên tranh chấp và tuân theo quy định trong Hiến chương như sau:
Với một cơ chế giải quyết tranh chấp không ngừng được hoàn thiện,
ASEAN đã tạo ra một nền tảng quan trọng trong việc hợp tác phát triển kinh tế
khu vực và hội nhập kinh tế toàn cầu, cũng như đảm bảo hoà bình ổn định khu
vực Đông Nam Á nói riêng và Châu Á - Thái Bình Dương nói chung.
2.2. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến
Viển Đông: (Thêu)
Vai trò của ASEAN đối với các tranh chấp về Biển Đông ?
Biển Đông là một trong những biển lớn nhất thế giới. Đây vừa là nơi có vị
trí quan trọng về tài nguyên biển và đường hàng hải quốc tế vừa là một trong
những nơi có nguy cơ xảy ra nhiều xung đột, có thể coi đây là một “điểm nóng”