Khóa luận ngoại thương Triển vọng phát triển thương mại điện tử ở các nước đang phát triển và một số giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam - Pdf 64

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện, thương mại tự do và tốc độ lưu thông hàng
hóa luôn là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. 1000 năm trước, con
đường tơ lụa xuyên sa mạc qua nhiều quốc gia, nối các đế chế La Mã với đế chế Trung Hoa
không chỉ mang tơ lụa và vàng bạc làm giàu cho nhiều nước mà còn giúp truyền bá công
nghệ và triết lý. Những phát kiến địa lý vào thế kỷ 14, 15 không chỉ đem lại sự phồn vinh
cho các cường quốc hàng hải mà còn là một tiền đề quan trọng hình thành nên chủ nghĩa tư
bản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sự phát triển của CNTT ngày nay mà đại
diện tiêu biểu của nó là mạng Internet cũng có thể được nhìn nhận dưới cùng một góc độ
với hai phát kiến trên, nhưng mang tính khác biệt về chất ở chỗ biên giới quốc gia bị vượt
qua chỉ sau một cú nhấp chuột. Ảnh hưởng của Internet vì thế mang tính toàn cầu và nó trở
thành một phần của quá trình toàn cầu hóa, vốn đã và đang biến đổi sâu sắc mọi mặt của
đời sống, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội.
Trên quan điểm lịch sử và biện chứng, có thể thấy, những tác động quyết định thách
thức và cơ hội lớn nhất Internet đặt ra trong dài hạn nằm trong lĩnh vực kinh tế-thương mại.
Internet đặt nền tảng cho sự hình thành của TMĐT (e-commerce), trong đó người mua và
người bán có thể liên lạc trực tiếp với nhau, không cần đến giấy tờ, càng không phải đối
mặt thực thể. Dòng lưu chuyển thông tin và thương mại hàng hóa, dịch vụ trong không gian
không có biên giới ấy mở ra khả năng giảm chi phí giao dịch, tiếp cận thị trường và thúc
đẩy tiến bộ công nghệ, từ đó thay đổi cấu trúc của nền kinh tế thế giới.
Các chuyên gia đều cho rằng TMĐT sẽ là xu hướng mới cho sự phát triển nền kinh
tế toàn cầu. Bởi ngay từ khi xuất hiện, cùng với những tiện ích to lớn của mình, TMĐT đã
thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Những quốc gia đi tiên
phong trong phát triển TMĐT như Mỹ và một số nước Châu Âu đã gặt hái được những
thành công không nhỏ. Đơn cử như trường hợp của tập đoàn máy tính Dell Computer Corp,
kể từ khi chào bán các sản phẩm của mình qua www.Dell.com, hãng đã tạo được thế mạnh
trong cuộc cạnh tranh với Compaq, trở thành công ty cung cấp máy tính hàng đầu thế giới
vào năm 2000. Vào thời điểm đó, doanh thu của Dell đạt 50 triệu USD/ ngày (khoảng 18 tỷ
USD/ năm). Hiện nay doanh số kinh doanh qua mạng của Dell.com đạt vào khoảng 50 tỷ
USD/ năm đối với các sản phẩm liên quan đến máy tính, từ thiết bị chuyển mạch (switch)

Với quan điểm này ( với những lý do cấp thiết trên), em xin chọn đề tài : “ Triển vọng
phát triển thương mại điện tử ở các nước đang phát triển và một số giải pháp phát
triển thương mại điện tử ở Việt Nam.” làm khóa luận của mình.
2
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về TMĐT.
- Phân tích thực trạng và đánh giá triển vọng phát triển TMĐT ở các nước đang phát
triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển TMĐT ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận là TMĐT ở các nước đang phát
triển và TMĐT ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp thu thập, nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, phân tích
xử lí và thống kê, so sánh dữ liệu, đồng thời kết hợp nghiên cứu lí luận và phân tích thực
tiễn, từ đó rút ra các đánh giá nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
5. Bố cục
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 3
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử.
Chương 2: Triển vọng phát triển thương mại điện tử ở các nước đang phát triển và
thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
Bài khóa luận tiếp thu một số các nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, do
còn nhiều hạn chế về thời gian, kiến thức, tài liệu nghiên cứu cũng như kinh nghiệm thực tế
nên chắc chắn khóa luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót cần được chỉnh sửa, bổ sung. Do
đó, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để bài viết
được hoàn thiện hơn.
Qua đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Phạm Duy Hưng,
người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện cũng như hoàn thành bài khóa

4
DN với khách hàng cá nhân (B2C) như mô hình www.amazon.com, hoặc giữa các cá nhân
với nhau (C2C) trên www.eBay.com.
TMĐT hiểu theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là giao dịch tài chính và thương mại
bằng phương tiện điện tử như: quảng cáo về DN và hàng hóa, dịch vụ, trao đổi dữ liệu
điện tử, ký hợp đồng, giao hàng hóa (hữu hình, vô hình), thanh toán bằng chuyển tiền điện
tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng. Đã có nhiều tổ chức quốc tế đưa ra khái
niệm về TMĐT theo nghĩa rộng, trong đó có một số khái niệm điển hình như sau:
- Theo Uỷ ban châu Âu (EC), 1998, TMĐT được hiểu là “việc thực hiện hoạt động
kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử
dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh. TMĐT bao gồm TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa
hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình)”. Theo định nghĩa này, TMĐT
gồm nhiều hành vi: hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật
số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá
thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp
với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng, đối với thương mại hàng hoá (như hàng
tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông
tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo). Như vậy, "thương mại" trong TMĐT không
chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm
vi rộng lớn hơn nhiều. Ước tính đến nay, TMĐT có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong
đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng. (Nguồn:
/>- Theo OECD, 1997, “TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ
chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các
mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở (như AOL).
Trong đó, hàng hóa và các dịch vụ được đặt hàng qua mạng như thanh toán và phân phối
thì có thể thực hiện ngay trên mạng hoặc không”. Như vậy, TMĐT cũng được hiểu là hoạt
động kinh doanh điện tử, bao gồm: mua bán điện tử hàng hóa, dịch vụ, giao hàng trực tiếp
trên mạng với các nội dung được số hóa, chuyển tiền điện tử - EFT (Electronic Fund

6
Ở VN, chúng ta hiểu “TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động
thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu” (khoản 1, điều 3, Nghị định về hoạt động TMĐT
của Bộ Thương Mại). Trong đó, “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi,
được nhận và được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử”(khoản 12 điều 4, Luật giao dịch
điện tử VN 2005) và “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ
điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ
tương tự” (khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử VN 2005). Như vậy, về bản chất TMĐT
là hoạt động thương mại, nó chỉ khác duy nhất đối với thương mại truyền thống là nó sử
dụng các phương tiện điện tử vào trong hoạt động thương mại.
Tóm lại, mặc dù trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về TMĐT nhưng nhìn
chung, đều thống nhất ở quan điểm cho rằng: TMĐT là việc sử dụng các phương tiện điện
tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn: TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại
thông qua các phương tiện điện tử mà nói chung ta không cần phải in ra giấy trong bất cứ
công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch. Các phương tiện điện tử nói đến ở đây
chính là các phương tiện kỹ thuật được sử dụng với mục đích tạo thuận tiện, hỗ trợ cho các
hoạt động trong TMĐT, bao gồm: điện thoại, máy điện báo (telex) và máy fax, truyền hình,
thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và mạng liên nội bộ, Internet và web. Và
khái niệm thông tin không chỉ là tin tức đơn thuần mà được hiểu là bất cứ thứ gì có thể
truyền tải được bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm: thư từ, các file văn bản (text based file),
các cơ sở dữ liệu (database), các bảng tính (spreadsheet); các hình đồ họa (Graphical
image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh đồng (video image,
avartars), âm thanh,…
1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử
Thực tế là TMĐT đang diễn ra trong tất cả các ngành nghề, không chỉ trong giao
dịch thương mại mà còn trong cả các ngành vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, trong cả lĩnh vực
đầu tư. Những ngành đó về cơ bản là khác nhau song xét về bản chất, một khi các ngành
này đã tham gia vào TMĐT thì đều có đặc điểm chung ở chỗ: Các hoạt động thể hiện sự
tham gia vào TMĐT đều được tiến hành trên các mạng và thông qua các phương tiện điện
tử (truyền dữ liệu, ký kết hợp đồng qua mạng, khai thông tin,…); Để tham gia vào TMĐT

người bán. Người mua hàng tìm đến người bán hàng, hai bên trao đổi , đàm phán trực tiếp
với nhau để tìm kiếm cơ hội hợp tác, kinh doanh với nhau mà không cần có một chủ thể
nào khác tham gia cùng. Còn đối với TMĐT, bên cạnh chủ thể người mua, người bán thì
luôn luôn có một chủ thể thứ ba tham gia vào quá trình giao dịch của các bên đó là nhà
cung cấp dịch vụ. Ví dụ: Một DN ở VN kết nối Internet của FPT để sử dụng thư điện tử
8

WISDO
KNOWLEDGE
ANALYTIC
INFORMATION
DATA
giao dịch với một DN ở Mỹ, khi đó nhà cung cấp dịch vụ ở đây là Công ty FPT đã cung
cấp dịch vụ Internet để DN VN có thể kết nối với DN ở Mỹ.
+ Về mạng lưới thông tin: Đối với thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin chỉ
là phương tiện để trao đổi dữ liệu còn đối với TMĐT, mạng lưới thông tin chính là thị
trường. Với sự phát triển như vũ bão của các thành tựu về CNTT như ngày nay, đặc biệt là
Internet đã giúp cho các DN có thể xây dựng cho mình các “gian hàng ảo” trên mạng mà ở
đó, DN có thể cung cấp vô số các thông tin giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ của mình để
cho các bạn hàng tìm kiếm. Sự phát triển này còn hình thành nên các trung tâm thương mại
ảo trên Internet với vai trò như một trung tâm thương mại thật, tại đó có rất nhiều các thông
tin giao dịch về DN, sản phẩm, dịch vụ nhằm gắn kết người mua và người bán với nhau.
Các mạng lưới thông tin này chính là thị trường cho các DN tìm kiếm bạn hàng và giao
dịch với nhau.
1.1.2.1 Hàng hóa trong thương mại điện tử
Nếu hiểu TMĐT là một loại hình thương mại có sự trợ giúp của CNTT đặc biệt là
mạng Internet thì ngoài các hàng hóa và dịch vụ vật thể trong các giao dịch truyền thống,
trong TMĐT còn có các hàng hóa đặc thù của mình đó là hàng hóa dịch vụ số (digital
goods and services). Hàng hóa và dịch vụ số là những hàng hóa và dịch vụ có thể phân phối
qua cơ sở hạ tầng thông tin nằm trong 5 mức độ hàng hóa khác nhau như sau:

Số lượng
(tấn)
Giá
(USD/tấn)
Trị giá
(USD)
Cà phê 8.870 1.128,31 10.008.127
Hạt tiêu 2.095 3795,17 7.929.946
Cao su 2.363 359,47 849.425
Lạc nhân 700 527,70 369.388
Trong lúc kết hợp các dữ liệu và làm cho các dữ liệu trở thành thông tin thực sự có ý
nghĩa thì việc phân chia hoặc kết hợp các thông tin lại chính là làm tăng thêm giá trị của
thông tin đó. Ví dụ như: Xử lý số liệu trên mạng có thể đem lại cho người sử dụng khả
năng phân tích thông tin và thẩm định các mối quan hệ, các xu hướng và quy tắc, nhất là
khi phân tích tổng hợp thông tin theo từng giai đoạn. Khi đó, thông tin đã phát triển lên
thành Analytic (thông tin được phân tích). Ví dụ: các chứng từ, văn bản, sách,…
Mặt hàng
Kỳ 1 Kỳ 2 So sánh
SL (tấn)
Giá trị
(USD)
SL (tấn)
Giá trị
(USD)
± SL
(tấn)
± Giá trị
(USD)
Cà phê 8.870 10.008.127 46.700 29.775.000 37.830 19.766.873
Hạt tiêu 2.095 7.929.946 4.581 20.362.690 2.486 12.432.744

hệ thống quản lý và công nghệ toàn cầu. Vì vậy, chính phủ có vai trò dỡ bỏ các rào cản về
11
công nghệ và pháp lý để tạo điều kiện cho TMĐT phát triển. Chính phủ ở đây phải bao
gồm cả các cơ quan thuộc Chính phủ.
Về mặt công nghệ, Internet là cơ sở của TMĐT nên chính nhờ có sự phát triển của
CNTT mà TMĐT ra đời. TMĐT có phát triển được hay không phụ thuộc phần lớn vào sự
tiến bộ của CNTT. Chính phủ tham gia vào TMĐT vừa với tư cách trung gian (tạo nền tảng
cơ sở hạ tầng CNTT), vừa với tư cách trực tiếp (tham gia giao dịch G2B, G2G, G2C được
đề cập ở phần sau).
+ Người tiêu dùng:
Mục đích cuối cùng của các DN là bán được các sản phẩm dịch vụ của mình đến tay
người tiêu dùng để thu lợi nhuận. Người tiêu dùng chính là động cơ cốt lõi thúc đẩy TMĐT
phát triển. Người tiêu dùng góp phần quy định xem ngành nghề, tổ chức nào, nên đi sâu sử
dụng TMĐT và ngành nào không.
1.1.2.3 Các hình thức giao dịch của thương mại điện tử
Có nhiều tiêu chí để phân loại các hình thức giao dịch của TMĐT, nhưng phương
thức phổ biến là phân loại dựa vào các chủ thể tham gia TMĐT. Dựa vào phương thức này,
người ta chia TMĐT theo các loại sau:
Người tiêu dùng
C2C (Consumer to Comsumer): Người tiêu dùng với người tiêu dùng.
C2B (Consumer to Business): Người tiêu dùng với doanh nghiệp.
C2G (Consumer to Government): Người tiêu dùng với Chính phủ.
Doanh nghiệp
B2C (Business to Consumer): Doanh nghiệp với người tiêu dùng.
B2B (Business to Business): Doanh nghiệp với doanh nghiệp.
B2G (Business to Government): Doanh nghiệp với Chính phủ.
B2E (Business to Employee): Doanh nghiệp với người lao động.
Chính phủ
G2C (Government to Consumer): Chính phủ với người tiêu dùng.
G2B (Government to Business): Chính phủ với doanh nghiệp.

có thể thực hiện trực tuyến. Điển hình là các sản phẩm dịch vụ phần mềm. Đây là mô hình
quan trọng, xuất hiện sớm nhất và có giá trị giao dịch lớn (chiếm tới 80% doanh số TMĐT
13
toàn cầu) (Nguồn: UNCTAD, E-commerce development Report 2008). Hiện nay, B2B
đang phát triển mạnh mẽ và ổn định, góp phần trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các quốc gia và các DN trên toàn thế giới. Đơn cử như trường hợp của hãng ô tô
Volkswagen. Tính đến năm 2008, Volkswagen tiến hành hơn 90% hoạt động mua sắm toàn
cầu thông qua sàn giao dịch www.groupsupplies.com, triển khai hơn 30 ứng dụng thực tiễn
bao gồm yêu cầu báo giá, thương lượng hợp đồng, mua sắm trực tuyến, quản lý đơn hàng,
thanh toán,…, số lượng đối tác sử dụng lên đến 14200 và tiến hành 1,2 triệu giao dịch với
tổng giá trị 320 triệu EUR ( 486 USD). Hiện tại, Volkswagen là nhà sản xuất ô tô hàng đầu
châu Âu (Nguồn: Phạm Thu Hương, Nguyễn Văn Thoan, “Ứng dụng Marketing điện tử
trong kinh doanh”, NXB Khoa học và kỹ thuật, năm 2009, tr.149).
1.1.3 Các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho thương mại điện tử
Theo định nghĩa trên, các phương tiện kỹ thuật của TMĐT có thể chia làm 6 loại
gồm điện thoại, máy fax, truyền hình, hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử , mạng
nội bộ và mạng liên nội bộ, Internet và web.
+ Điện thoại là một phương tiện phổ thông để sử dụng và thường mở đầu cho các
cuộc giao dịch thương mại. Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh,
ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên ngày càng rộng rãi hơn. Tuy nhiên, trên quan
điểm kinh doanh, công cụ điện thoại chỉ chuyển tải được âm thanh, mọi giao dịch cuối
cùng vẫn phải thực hiện trên giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại rất cao, đặc biệt
là với giao dịch đường dài.
+ Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống. Nhưng
máy fax không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và chi phí
sử dụng còn cao.
+ Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất là trong quảng cáo
hàng hóa, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáo và đã có một số dịch vụ
được cung cấp qua truyền hình. Song truyền hình chỉ là công cụ viễn thông “một chiều”,
qua truyền hình khách hàng không thể có được các chào hàng, không thể đàm phán với

công ty, đại lý,…thì với các hình thức giao dịch TMĐT, địa bàn giao dịch chính là các
trang web. Trang web ở đây có thể là trang web riêng của DN, của một tổ chức, của một
nhóm, cũng có thể là “chợ ảo”. Chính vì vậy, hầu hết các ứng dụng của TMĐT đều được
thể hiện qua cách sử dụng website.
15
+ Giới thiệu công ty và lĩnh vực kinh doanh: Hiện nay, ở VN, khoảng 50-80% các
DN xây dựng trang web riêng với mục đích này. (Nguồn: Bộ Công Thương, Báo cáo
TMĐT Việt Nam năm 2008). Ưu điểm của nó là đơn giản, cấu trúc tĩnh, thông tin mang
tính khái quát và rất ít khi phải cập nhật. Chi phí thiết kế và duy trì thấp. Ở mức độ cao hơn
thì các DN có thể sử dụng website để trưng bày catalogue sản phẩm, được cập nhật tự động
theo cơ sở dữ liệu về sản phẩm. Để phát huy tối đa hiệu quả của hình thức web này, DN
cần có một số kiến thức và kỹ năng nhất định về CNTT (VD: www.netshop.com.vn).
+ Thư tín điện tử (email) là phương thức trong đó các đối tác sử dụng hòm thư điện
tử để gửi cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng.
Bên cạnh thư tín, DN và khách hàng có thể tiến hành trao đổi dữ liệu điện tử (EDI),
là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng
phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin
(định nghĩa của Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế UNCITRAL, 1996). EDI
ngày càng được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho mua bán,
phân phối hàng và các dịch vụ khác.
+ Đặt hàng trực tuyến: Đây là hình thức sử dụng website theo đúng nghĩa TMĐT.
Loại hình giao dịch qua website trên mạng này bước đầu tạo điều kiện để DN và khách
hàng tương tác với nhau trong môi trường trực tuyến. Khách hàng muốn đặt hàng thì phải
điền vào một mẫu đơn đặt hàng có sẵn và có gửi đi. Những phần còn lại của giao dịch, từ
khâu xác thực đơn hàng đến ký hợp đồng thanh toán có thể thực hiện bên ngoài website.
+ Ký hợp đồng: Đây là hình thức sử dụng hợp đồng dạng bản mềm điện tử, theo đó
các bên tham gia ký kết phải đảm bảo các quy định của nhà nước về tính pháp lý của hợp
đồng đó. Khi hai hợp đồng đã đảm bảo tính hợp pháp của nó theo quy định chung thì chữ
ký (dưới dạng mặc định trên văn bản điện tử) được coi là chữ ký điện tử.
+ Cung cấp hàng hóa: Hàng hóa ở đây chính là những hàng hóa được số hóa, hàng

được bày biện không hề tốn diện tích về không gian, đơn giản đó chỉ là những hình ảnh
được sao chụp hoặc được mô tả trên trang web của cửa hàng. Như vậy, với một người bán,
nếu trước đây họ chỉ có thể chủ động trong cung cấp một lượng nhất định sản phẩm thì
nay, họ hoàn toàn có thể cung cấp lượng sản phẩm lớn hơn nhiều, cả về chủng loại và số
lượng. Như vậy, rõ ràng với ưu thế đa dạng hóa sản phẩm, TMĐT giúp các nhà cung cấp
17
dám mở thêm thị trường phục vụ, mở rộng thêm phạm vi khách hàng và đó chính là một
trong những ưu thế để thành công.
Ngoài ra, TMĐT còn tạo thị trường cho người bán và người mua gặp nhau trên
phạm vi toàn cầu. Một thực tế là có rất nhiều nhà cung cấp muốn bán hàng hóa và dịch vụ
của mình mà không tìm dược người mua, trong khi đó một số người có nhu cầu muốn mua
một hàng hóa nào đó hoặc sử dụng dịch vụ nào đó lại không biết chỗ mua hoặc không thể
mua vì trong khu vực của mình không bán. Ví dụ: Khi ấn phẩm Harry Potter 6 “Half blood
prince” ra đời, hàng triệu người ở nhiều quốc gia (không phải là Anh Quốc) đều mong
muốn mua ngay bản tiếng Anh, và để tiết kiệm thời gian chờ đợi, lựa chọn tốt nhất là mua
hàng trực tiếp trên mạng. Tiêu biểu là cửa hàng của . Có thể thấy,
qua hình thức bán hàng trực tuyến, www.amazon.com có thể phục vụ khách hàng không
chỉ trong một châu lục mà là trên toàn thế giới. Như vậy, TMĐT đã đem lại sự hiện diện
toàn cầu và đảm bảo tính thường xuyên cho người cung cấp và sự lựa chọn toàn cầu cho
người tiêu dùng. Nhà cung cấp nhỏ hay lớn đều có cơ hội được biết đến như nhau. TMĐT
ngày càng thể hiện dược tính ưu việt của mình bằng việc cho phép tiến hành các thương vụ
mọi lúc mọi nơi một cách thuận tiện. Thời gian giao dịch có thể lên tới 24h/ngày, cả bảy
ngày trong tuần. Thông qua mạng Internet, các giao dịch điện tử được tiến hành trên phạm
vi toàn cầu. Với lợi thế này, một công ty nhỏ cũng có cơ hội cạnh tranh như một công ty
xuyên quốc gia.
+ Giảm chi phí, tăng lợi nhuận:
Theo số liệu của Internet World Stats tại www.internetworldstats.com, 2008 cho
thấy: trong lĩnh vực ngân hàng, nếu một giao dịch tiến hành thủ công sẽ phải chi phí 1,75
USD, giao dịch qua điện thoại thì chi phí là 1,5 USD, dùng thẻ ATM chi phí đã giảm xuống
0,25 USD, nhưng nếu áp dụng TMĐT bằng việc thông qua Internet thì chi phí chỉ còn 0,5

theo. Kèm theo nó là lương, bảo hiểm, và nhiều khoản chi phí khác. Với TMĐT thì những
khó khăn đó đã được tháo gỡ hoàn toàn. Một DN khi tiến hành kinh doanh trên mạng
Internet thì chỉ mất rất ít chi phí hoặc không mất thêm bất cứ chi phí nào khi số lượng
khách hàng tăng lên bởi chi phí mà họ bỏ ra không được đo bằng thời gian mạng hoạt động
(24h/ngày, 7 ngày/tuần). Mà cùng một lúc, một người bán hàng có thể giao dịch với nhiều
19
khách hàng nên hao phí là không đáng kể, nếu không tính các lí do chủ quan khác thì năng
lực bán hàng của DN sẽ chỉ bị giới hạn do tốc độ xử lý, chất lượng đường truyền mà thôi.
TMĐT ra đời đã tạo ra các kênh bán hàng mới. TMĐT tạo ra các kênh phân phối
hàng hóa mới cho các sản phẩm đang có mặt trên thị trường, các kênh tiếp thị này có thể
trực tiếp đưa hàng hóa tiếp cận người tiêu dùng mà không cần các khâu trung gian hay các
cấp bán hàng thấp dần như trước kia.
Giảm chi phí trong giao dịch:
Trong các DN, mỗi thương vụ hay mỗi giao dịch đều gây phát sinh chi phí, dần dần
số chi phí đó sẽ tăng lên theo tốc độ phát triển của DN, nhất là chi phí văn phòng, giấy tờ.
Ví dụ: giao dịch B2C, B2B,…thì việc đảm bảo dòng chảy thông tin được thông suốt và liên
tục là rất có ý nghĩa đối với mỗi DN. TMĐT qua Internet có thể giúp cho DN thực hiện một
cách nhanh chóng các hoạt động giao dịch với dung lượng không hạn chế và chi phí thấp
nhất. Cụ thể: thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax và
bằng khoảng 0,5‰ thời gian giao dịch qua bưu điện, chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng
khoảng 5% chi phí giao dịch qua fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh; chi phí thanh
toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10%, 20% chi phí thanh toán thông thường (Xem bảng
1.2.1.1).
Bảng 1.2.1.1: Tốc độ và chi phí truyền gửi
(Một bộ tài liệu 40 trang)
Đường truyền Thời gian Chi phí (USD)
New York đi Tokyo
Qua bưu điện 5 ngày 7,40
Chuyển phát nhanh 1 ngày 26,25
Qua máy fax 31 phút 28,23

của mình tiết kiệm được rất nhiều trong một năm sản xuất kinh doanh.
+Hỗ trợ công tác quản lý:
Có thể khẳng định ngay rằng giảm được chi phí cung cấp và chi phí tồn kho nghĩa là
đã biểu hiện của hiệu quả quản lý đối với chi phí cung cấp và hàng tồn kho. Tuy nhiên, với
công tác quản lý thì bấy nhiêu chưa đủ mà còn phải:
Quản lý phân bổ: Công nghệ điện tử đáp ứng được yêu cầu truyền tải, đưa các văn
kiện giao hàng như các vận đơn, các hợp đồng mua bán, thông báo trước khi giao hàng, các
khiếu nại thương mại và cung cấp khả năng quản lý nguồn lực tốt bằng việc sử dụng các
phần mềm, các hệ thống kiểm soát theo quy trình, theo đó, các số liệu được cập nhật
thường xuyên và liên tục, đặc biệt là các số liệu này được tập hợp từ nhiều nguồn khác
nhau, từ nhiều địa điểm phân bổ sản phẩm khắp nơi trên thế giới.
21
Quản lý các kênh thông tin: Các thông tin về kỹ thuật, sản phẩm, giá cả trước kia
được yêu cầu nhắc đi, nhắc lại qua nhiều cuộc đàm thoại và ghi chú lại mất nhiều giờ lao
động căng thẳng thì bây giờ việc tập hợp, lưu trữ thông tin không hề mất nhiều thời gian,
thậm chí việc bổ sung, xóa bớt hay xử lý các số liệu cũng trở nên vô cùng dễ dàng, khiến
cho việc lưu giữ và xử lý số liệu rất khoa học và nhanh chóng.
Quản lý thanh toán: Ứng dụng điện tử kết nối trực tiếp các công ty với các nhà
cung cấp, các nhà phân phối, do vậy thanh toán có thể gửi và nhận bằng hệ thống điện tử.
Thanh toán điện tử chính xác và giảm bớt được các nhầm lẫn sai sót mà nếu là con người
thì dễ mắc phải do vấn đề tâm lý tại thời điểm diễn ra thanh toán. Một đặc tính ưu việt của
TMĐT trong thanh toán là ở chỗ hiệu quả cao, tốc độ xử lý lớn, độ chính xác đáng tin cậy
và chi phí thấp.
+ Phù hợp mọi yêu cầu, nâng cao khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng thường xuyên:
Các tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng sản phẩm có thể được gửi trực tiếp cho
khách hàng qua Internet mà không cần in ấn, vận chuyển tốn kém cho khách hàng lại vừa
tốn kém cho công ty. Đó là một trong những lý do tại sao TMĐT lại có thể đáp ứng nhiều
loại yêu cầu đến thế.
Với cơ sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên, DN có thể nắm được đặc điểm của
từng khách hàng, nhóm khách hàng, qua đó phân đoạn thị trường, hướng những chính sách

dịch vụ được mở ra, tạo nên một lớp thị trường mới: “thị trường ảo”. Người tiêu dùng có
thể lựa chọn và tiến hành mua bán tại nhà thông qua việc truy cập Internet với hình thức
thanh toán thông qua các loại thẻ tín dụng. Nhất là khi hiện nay việc sử dụng công nghệ
ADSL đang trở nên phổ biến và thuận tiện, chi phí hợp lý thì người tiêu dùng có thể ngồi
tại nhà để lựa chọn sản phẩm với đầy đủ âm thanh, hình ảnh và các thông số kỹ thuật. Điều
này là rất thuận tiện và tiết kiệm so với việc phải đi tìm kiếm hàng hóa ở các cửa hàng và
siêu thị.
+ Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp để lựa chọn:
Đây là một lợi thế mà chỉ có hình thức mua bán siêu thị mới có thể cạnh tranh được.
Đơn cử một ví dụ sau: một người muốn mua xe ô tô, theo cách truyền thống, người ấy sẽ
phải đi đến từng đại lý của các hàng để tìm hiểu thông tin và giá cả, tham khảo trên báo chí,
catalogue, hỏi bạn bè, thậm chí nếu mẫu xe này đã hết ở đại lý này thì lại phải tìm đến đại
lý khác của hãng đó để xem loại xe muốn xem. Thống kê lại, để mua được chiếc xe theo ý
23
muốn, người đó phải rất mất thời gian, công sức và tiền bạc (chi phí đi lại, hao tổn sức
khỏe,…). Nhưng với TMĐT, người đó chỉ cần ngồi một chỗ, truy cập Internet và tham
quan tất cả những hãng xe mà mình muốn tìm hiểu, chọn sản phẩm theo mẫu mã, kiểu
dáng, màu sắc mà mình tự kết hợp, thậm chí lượng thông tin thu được còn hơn cả sự mong
đợi của người đó trong khi không mất thời gian đi lại, không mất chi phí nào ngoài chi phí
truy cập Internet đang có xu hướng ngày càng rẻ hơn.
Số lượng hàng hóa mà các cửa hàng và DN cung cấp cũng dễ lựa chọn và đa dạng,
phong phú hơn rất nhiều so với hình thức kinh doanh truyền thống. Trên thực tế, người tiêu
dùng phải mất rất nhiều thời gian để di chuyển giữa các cửa hàng và ngay tại một cửa hàng
cũng cần nhiều thời gian để lựa chọn hoặc tìm kiếm một sản phẩm nào đó mà không phải
chỗ nào người tiêu dùng tìm đến cũng đều sẵn sàng cung cấp cái mà họ cần. Ví dụ: tại VN,
nếu muốn mua đồ mỹ phẩm, người tiêu dùng có thể đến siêu thị, nhưng nếu muốn mua đồ
mỹ phẩm cao cấp, hàng ngoại nhập thì không phải siêu thị nào cũng có và chất lượng
không phải lúc nào cũng đảm bảo. Khi đó, người tiêu dùng phải tìm đến các đại lý, các nơi
chuyên bán các đồ mỹ phẩm. Với TMĐT thì vấn đề này sẽ hoàn toàn được khắc phục.
+ Giá cả và phương thức giao dịch tốt:

hàng khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ trên không phù hợp với đơn đặt hàng.
Hơn nữa, thông qua Internet, người tiêu dùng được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ trên
phạm vi toàn cầu. Ví dụ: người tiêu dùng ở VN hoàn toàn có khả năng đặt mua sách trên
trang web www.amazon.com. Đặc biệt, đối với các sản phẩm hàng hóa mà không cần đến
sự kiểm tra bằng xúc giác thì TMĐT đem lại cho người tiêu dùng một khả năng lựa chọn
tốt nhất với đầy đủ các thông tin về sản phẩm, ví dụ: các sản phẩm phần mềm, sách, trò
chơi,…
+ Chia sẻ thông tin:
Thông tin trên mạng vô cùng phong phú và đa dạng, đặc biệt, đa số thông tin được
đăng tải với mục đích truyền bá rộng rãi nên người tiêu dùng rất thuận tiện và dễ dàng
trong việc thu thập thông tin, vừa nhanh, vừa đầy đủ lại vừa cập nhật. Và kèm theo đó là
tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau. Mạng Internet là một dạng mạng mở có
khả năng liên kết con người rất lớn dưới hình thức diễn đàn, câu lạc bộ, hiệp hội ngành
hàng, quỹ,…Vì vậy, việc thông báo chia sẻ thông tin diễn ra rất nhanh sau vài thao tác trên
bàn phím. Đây chính là hình thức giao dịch dạng P2P (Peer to Peer) – các cá nhân giao
dịch, liên hệ với nhau.
1.2.1.3 Lợi ích của thương mại điện tử đối với xã hội
TMĐT là một phát kiến vĩ đại của nhân loại, nó chứng mính khả năng phát triển
kinh tế trong tương lai, có ảnh hưởng to lớn đến toàn thế giới nói chung và các quốc gia nói
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status