TRIỂN VỌNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM - Pdf 69

TRIỂN VỌNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT FDI CỦA NHẬT
BẢN VÀO VIỆT NAM
I.Triển vọng của đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam ngày một tiến triển tốt đẹp
hơn. Từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế(1986) đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản vào Việt Nam ngày càng tăng. Năm 1989 Nhật Bản đầu tư vào Việt
Nam với số vốn là 0,6 triệu USD, năm 1990 số dự án mà Nhật Bản đầu tư
vào Việt Nam là 6 dự án, với số vốn là 10,2 triệu USD, năm 1992 đầu tư trực
tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng mạnh số vốn là 116,72 triệu USD gấp
194,5 lần năm 1989 và hơn 11 lần so với năm 1990. Năm 1995 và năm 1996
là hai năm đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam đạt mức cao nhất.
Trong năm 1995 Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam với số vốn là 1.303,2
triệu USD gấp gần 11,2 lần năm 1992, số dự án trong năm này cũng tăng
lên đạt 50 dự án. Năm 1996 đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam có sốdự án
là 56, tuy nhiên, số vốn lại ít hơn năm 1995, trong năm này số vốn là 777,8
triệu USD. Nhưng trong những năm 1997, 1998 và 1999 thì đầu tư trực tiếp
của Nhật Bản vào Việt Nam lại giảm, số vốn chỉ còn có 46,97 triệu USD vào
năm 1999. Nguyên nhân đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam giảm
là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra trong khu vực. Do đó, các
nhà đầu tư nước ngoài không chỉ riêng các nhà đầu tư Nhật Bản mà tất cả
các nhà đầu tư cũng đã rút vốn về nước. Đây là nguyên nhân chung mà các
nước trong khu vực phải gánh chịu chứ không riêng gì Việt Nam. Tuy nhiên,
đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong năm 2000 đã cho thấy sự
phục hồi của nó, số vốn năm 2000 là 56,348 triệu USD và số dự án là 19
trong khi đó năm 1999 là 13 dự án. Tính đến tháng 10 năm 2001 tổng số
vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam là gần 4.020,8 triệu USD. Tổng số
vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tính đến tháng 10 năm
2001 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam(1998 –2001)
LuËn V¨n Tèt NghiÖp
Tính đến năm Tổng số dự án được

dòng FDI. Nếu Việt Nam có chiến lược cải thiện tốt môi trường đầu tư, nâng
2
Khoa Kinh TÕ vµ Kinh Doanh Quèc TÕ
1
Lª V¨n Hinh – KDQT 40
LuËn V¨n Tèt NghiÖp
cao lợi thế so sánhtrong các yếu sản xuất, bảo đảm sự ổn định xã hội v.v…
thì chắc chắn sẽ giành được sự chú ý caocủa các nhà đầu tư, trong đó có
Nhật Bản.
Thứ hai, là xét từ phía Nhật Bản ta thấy xuất hiện những dấu hiệu
nói lêndòng FDI của Nhật Bản sẽ gia tăng trong những năm tới. Đó là sự
phục hồi kihn tế đi liền với sự ổn định chính trị với đường lối đối ngoại
hướng về châu á. Nếu trong năm 1997 và 1998 nền kinh tế Nhật rơi vào
mức tăng trưởng âm đã làm ảnh hưởng đến khả năng đầu tư ra nước
ngoài cuả Nhật thì năm 1999 nền kinh tế đã bắt đầu phuc hồi, tốc độ tăng
trưởng đạt 0,6%. Sự tăng trưởng kinh tế của Nhật Bảnsẽ góp phần làm sôi
động môi trươbgf kinh doanh của khu vực, thúc đẩy các hoạt động trao đổi,
đầu tư trong nội bộ khu vực. Đặc biệt với chính sách hướng về châu á thì
cùng sự phát triển kinh tế Nhật Bản, chắc chắn quan hệkinh tế, trong đó có
hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật vào khu vực sẽ gia tăng hơn. Nếu vậy
chúng ta có thể hy vọng về triển vọng mở rộng FDI vào khu vực cũng như
Việt Nam. Ông Nakamura, đại sứ Nhật tại Việt Nam cũng cho rằng: với nền
kinh tế Nhật Bản đang trên đà phục hồi và kinh tế khu vực cũng có dấu hiệu
phục hồi trong những năm tới. Tôi tin rằng các nhà đầu tư Nhật Bản sẽ tiếp
tục trở lại Việt Nam.
Thứ balà, nhìn nhận từ những chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam cũng
cho thấy những tác động tích cực đến thu hút FDI. Mặc dù Việt Nam cũng
chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực nhưng do
chưa hội nhập sâu và hơn nữa do có sự điều tiết vĩ mô tốt, Việt Nam vẫn
giữ được sự ổn định kinh tế xã hội trong những năm qua. Do đó, đã tạo

4 Mỹ Mỹ Mỹ
5 Inđônêxia Inđônêxia Inđônêxia
6 Malaixia Thái Lan Thái Lan
7 ấn Độ Mianma Malaixia
8 Mêhicô Malaixia Mianma
9 Singapo Philippin Philippin
10 Đài Loan Anh Mêhicô

Nguồn: Thông tin phục vụ lãnh đạo, số 14(134), 7/1997. Viện nghiên cứu,
Bộ tài chính
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam có triển vọng rất tốt. Điều
này có thể thấy rõ nhất là từ phía Việt Nam, thể hiện trong việc Việt Nam
đã có những chuyển biến tích cực về mọi mặt trong thời gian qua. Mặc dù
bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á, nhưng Việt
Nam vẫn giữ được sự ônr định kihn tế – xã hội trong những năm qua. Riêng
năm 1999, mức tăng GDP đạt 5%. Sản lượng nông nghiệp đạt 33,8 triệu
tấn, tăng 2 triệu tấn so với năm 1998 và là mức cao nhất từ trước cho tới
4
Khoa Kinh TÕ vµ Kinh Doanh Quèc TÕ
1
Lª V¨n Hinh – KDQT 40
LuËn V¨n Tèt NghiÖp
nay. Kim ngạch xuất khẩu tăng 22% so với năm 1998, tăng vượt hơn hai
lần so với kế hoạch đề ra. Kết quả sự phát triển kinh tế Việt Nam là cơ sở
quan trọng tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài trong đó có Nhật
Bản. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam cũng đã và đang được nâng cấp, hệ thống
thông tin liên lạc đã đứng ngang hàng được với các quốc gia trong khu vực.
Cùng với việc cải cách kinh tế và cơ sở hạ tầng. Việt Nam đang triển khai
các biện pháp nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, tăng cường đấu
tranh chống tham nhũng. Đáng chú ý là chính phủ Việt Nam rất quan tâm

trọng ở châu á, làm cho hoạt động đầu tư của Nhật Bản và các nền công
nghiệp mới nổi lênở châu á(NIEs) giảm sút, không phải do thị trường Việt
Nam kếm hấp dẫn. Năm 1999 có 298 dự án đầu tư vào Việt Nam, ở mức
cao, điều này cho thấy thị trường Việt Nam vẫn được quan tâm nhiều. Ông
Namuta cho rằng Việt Nam hiện nay đang có những ưu thế từng xuất hiện
ở Nhật Bản trong thập kỷ 60, đó là hoạt động kinh tế sôi động, tiền công lao
động thấp giá thành rẻ, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, có nhiều cơ hội làm
ăn và có nhiều triển vọng. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tìm thấy ở Việt
Nam những gì thuận lợi cho công cuộc kinh doanh mà ở Nhật Bản không
còn nữa. từ đó họ rút ra kết luận: muốn vào thị trường Việt Nam, hãy vào
ngay từ bây giờ. Ông còn nhận xét nền kinh tế Việt Nam tuy bị ảnh hưởng
bợi cuộc khủng hoảng tài chính châu á nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục
tăng trưởng điều này đã tạo một niềm tin lớn cho các nhà đầu tư nước
ngoài nói chung và nhà đầu tư Nhật Bản nói riêng. Và ông cũng nhận xét là
có rất nhiều xí nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam làm ăn đã thành công. Theo
ông Numata, kinh tế Nhật Bản trong thập kỷ 90 đứng trước 4 điểm bất lợi:
đồng yên cao, chi phí lao động cao, sự mệt mỏi của tiền tệ trong nước, phải
cạnh tranh với ASEAN và Trung Quốc. Trong tình hình đó, Nhật Bản đã
chọn đầu tư vào Việt Nam, nơi có tài nguyên phong phú, chi phí lao động rẻ
và trình độ lao động cao, tiềm năng thị trường lớn, vị trí địa lý phù hợp. Giờ
đây, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn đánh giá cao và quan tâm đầu tư vào
6
Khoa Kinh TÕ vµ Kinh Doanh Quèc TÕ
1
Lª V¨n Hinh – KDQT 40
LuËn V¨n Tèt NghiÖp
thị trường Việt Nam. Ông đặc biệt nhấn mạnh tình hình chính trị – xã hội
Việt Nam rất ổn định đã tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài yên
tâm đầu tư vào Việt Nam.
Theo đánh giá của ông Shoichi Kameyama, chủ tịch Phòng thương mại

Các nhà đầu tư Nhật Bản luôn được xếp vào danh sách các nhà đầu tư lớn
nhất đầu tư vào Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng vốn đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản đóng góp rất lớn vào việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH của
nước ta. Trong thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện chính sách
đầu tư nhằm nâng cao việc thu hút đầu tư nước ngoài nói chung và đặc
biệt là đầu tư trực tiếp của Nhật Bản.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản vào các nước ASEAN – những nước đã rất thành công trong việc thu
hút vốn FDI nói chung và Nhật Bản nói riêng để phục vụ cho mục đích CNH
của mình, nghiên cứu về những chính sách nhằm thu hút vốn FDI của các
nước ASEAN, tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị về giải pháp nhằm thu
hút FDI nói chung và FDI của Nhật Bản nói riêng đối với Việt Nam cả về
phía Chính phủ và phía các doanh nghiệp Việt Nam.
1.Về phía Chính phủ:
1.1. Cần có sự nhận thức đầy đủ và nhất quán về nội dung, tính đặc thù của
FDI và tầmm quan trọng nhiều mặt của FDI đối với công cuộc phát triển
kinh tế của ta hiện nay cũng như trong những năm tới. Đặc biệt cần đánh
giá đúng vai trò FDI từ Nhật Bản, xem đó là đầu nguồn của dòng thác FDI
vào châu á nòi chung và vào Việt Nam nói riêng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam trải qua hơn 10 năm thực
hiện nhưng sự thực vẫn là lĩnh vực rất mới; quan niệm của chúng ta về FDI,
kinh nghiệm tiếp nhận quản lý FDI cũng còn nhiều bất cập. Vì vậy cần có
thông tin, tổ chức tìm hiểu về hoạt động FDI, trong đó có FDI của Nhật Bản.
8
Khoa Kinh TÕ vµ Kinh Doanh Quèc TÕ
1
Lª V¨n Hinh – KDQT 40
LuËn V¨n Tèt NghiÖp
FDI có những đặc điểm khác biệt cơ bản đối với các hình thức đầu tư quốc
tế khác không chỉ ở quyền điều hành đối với tài sản đầu tư mà nó còn là

góp phần nâng cao tính cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam.
Trong cuộc điều tra hàng năm của ngân hàng xuất – nhập khẩu Nhật
Bản thì vấn đề cơ sở hạ tầng xã hội nghèo nàn của Việt Nam là vấn đề nổi
cộm trong môi trường đầu tư của nước ta. Để gia tăng tính cạnh tranh
trong việc thu hút FDI nói chung, của Nhật Bản nói riêng, không thể không
tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng.
Trong phát triển cơ sở hạ tầng không chỉ chú ý vào phần “cứng” như
xây dựng đường sá, kho tàng bến bãi, thông tin liên lạc… mà phải chú ý cả
phần cơ sở hạ tầng “mềm”, trong đó đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân
lực. Thực tế có không ít các công ty Nhật Bản phàn nàn gặp khó khăn trong
việc lựa chọn nhân sự đủ năng lực ở Việt Nam.
Hiện nay, chúng ta đã xây dựng được những khu chế xuất, khu công
nghiệp. Nhưng trong số đó chỉ có số ít là hoạt động có hiệu quả, trong việc
xây dựng những khu chế xuất, khu công nghiệp, chúng ta đã xây dựng thiếu
đồng bộ, tràn lan không phù hợp với yêu cầu của các nhà đầu tư, do đó, đã
không thu hút được họ. Chúng ta nên xây dựng những khu chế xuất, khu
công nghiệp trọng điểm. Trong điều kiện hạ tầng xã hội còn yếu, lại chưa
đều giữa các vùng thì cần có qui hoạch phù hợp về phát triển ngành, lĩnh
vực. Không cứ nhất thiết tất cả các tỉnh phải có đầu tư nước ngoài. Cần
dựa trên cơ sở thế mạnh của từng vùng, tỉnh mà kêu gọi đầu tư nước ngoài
nói chung, của Nhật Bản nói riêng.
Cần tạo sự bình đẳng về mọi mặt giữa các công ty trong và ngoài
nước, giữa người Việt Nam với người nước ngoài.Trong điều kiện dịch vụ
kếm chúng ta lại thi hành chính sách giá phân biệt và quá cao đối với
ngưoừi nước ngoài quả là bất hợp lý, khong những không khuyến khích
10
Khoa Kinh TÕ vµ Kinh Doanh Quèc TÕ
1
Lª V¨n Hinh – KDQT 40


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status