TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Đào
Mssv: 5115703
Lớp luật thương mại 1 K37
Cần Thơ, 20/10/2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
khỏa mạnh và thành công trong cuộc sống!
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Đào
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................................
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và được giới kinh doanh quốc tế đặc biệt ưa chuộng
do những ưu điểm vượt trội của nó so với các phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế khác. Tuy nhiên, trọng tài - một phương thức giải quyết tranh chấp tư - còn
khá mới mẻ ở Việt Nam, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước và cũng
chưa thực sự thu hút sự chú ý của xã hội.
Các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng
tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều,
đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trung tâm. Xã
hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao. Để đáp ứng được
nhu cầu xã hội, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới càng phải đẩy mạnh phát triển thương
mại quốc tế và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong xu thế chung hội nhập kinh tế
toàn cầu, Việt Nam đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện đất nước, tích cực gia
nhập và đã là thành viên của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới hiện nay như Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tham gia
diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC, kí nhiều Hiệp định hợp tác
kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế theo nền
kinh tế thị trường. Các quan hệ kinh tế trong nước cũng như các quan hệ kinh tế quốc tế
của Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng với mong muốn trở thành quốc gia có
nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Điều đó cũng có nghĩa là
tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế nảy sinh là tất yếu và cần phải có cơ chế
giải quyết các tranh chấp đó một cách phù hợp và có hiệu quả, nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên chủ thể, bảo đảm cho các hoạt động kinh doanh thương mại
được diễn ra một cách liên tục và thuận lợi, góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam tồn tại 4 phương thức
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cơ bản, bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng
tài và Tòa án.
Mỗi hình thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế đều mang đặc tính riêng
với những thuận lợi và hạn chế nhất định. Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế thị
UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế 1985 và quy tắc tố tụng của các trung tâm
trọng tài quốc tế có liên quan. Trên cơ sở đó, người viết nêu lên thực trạng giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở nước ta, từ đó đề xuất một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài trong nước, góp phần phát triển hơn nửa phương thức
này tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Để hiểu rõ những quy định của pháp luật về phương thức trọng tài và tranh chấp
thương mại quốc tế, thực trạng áp dụng chế định này vào việc giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế ở nước ta giai đoạn hiện nay, người viết sẽ tập trung nghiên cứu
những luận cứ, cơ sở pháp lý về vấn đề này. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, đánh giá
những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài và thực trạng của vấn đề này; so sánh, đối chiếu các quy định trên
với các Điều ước quốc tế quan trọng về trọng tài thương mại quốc tế dưới ánh sáng của
Luật mẫu UNCITRAL 1985 về trọng tài thương mại quốc tế với mong muốn sẽ góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng
tài; vấn đề về thỏa thuận trọng tài và tố tụng trọng tài theo pháp luật Việt Nam, đồng thời
người viết chỉ ra những điểm còn bất cập, hạn chế của pháp luật nước ta trong lĩnh vực
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
2
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
này, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu đã đề ra, người viết đã vận dụng cơ sở lý luận và
1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đã được hình thành lâu đời và trải qua nhiều thời kì, trong đó
phải kể đến việc hình thành GATT năm 1947 và sự ra đời của WTO năm 1995 đã đánh
dấu thời kì phát triển mạnh mẽ chưa từng có của thương mại quốc tế.1 Thêm vào đó, nhờ
ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật và sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia
góp phần làm cho thương mại quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, phát triển và tồn tại
cho đến ngày nay. Ở Việt Nam, chủ trương hội nhập thương mại quốc tế được thể hiện cụ
thể trong Đại hội IX năm 2001 với nội dung “Các Bộ, ngành cần xây dựng các kế hoạch
đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ quản lý, các luật sư am hiểu luật pháp quốc tế
và hội nhập quốc tế, đáp ứng các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội
nhập kinh tế quốc tế”.2 Như vậy, cho thấy rằng thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng có tầm quan trọng và trở thành xu hướng thiết yếu đối với Việt Nam nói riêng
và các quốc gia trên thế giới nói chung, mở ra triển vọng mới và tiến tới một nền kinh tế
phát triển mạnh.
Ở Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất và
chuyên điều chỉnh về lĩnh vực thương mại quốc tế nhưng dựa vào các điều luật được quy
định rải rác trong các luật như Luật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2005, Luật trọng tài
thương mại 2010 và các văn bản dưới luật có liên quan, ta có thể hiểu khái niệm thương
mại quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài, theo đó
thương mại là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.3
Trong đó, mua bán hàng hóa quốc tế là việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập mà hàng hóa được đưa ra hay đưa vào lãnh thổ
trong nước và khu vực được xem là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.4
Hay nói cách khác, thương mại quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại vượt
ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia hay biên giới hải quan.
1
Nông Quốc Bình, Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội, 1999, tr. 5,6.
quốc tế, tính chất quốc tế của hoạt động thương mại đều được xác định bởi tiêu chuẩn
các bên tham gia có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau.5 Tuy nhiên, tại điều 1
Công ước LaHaye quy định, tính chất quốc tế còn được thể hiện dưới các tiêu chí sau:
hàng hoá, đối tượng của hợp đồng được chuyển qua biên giới một nước hoặc là việc trao
đổi ý chí giữa các bên được xác lập ở những nước khác nhau. Đối với Luật trọng tài
thương mại 2010 thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ thương mại là các yếu tố được quy
định tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005.6
Qua một số phân tích cho thấy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau và chưa thống nhất
về thương mại quốc tế. Vì thế, theo quan điểm của người viết thì hoạt động thương mại
quốc tế là việc thực hiện các hoạt động thương mại theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, thương mại là việc thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác. Một quan hệ thương mại mang tính chất nước ngoài khi nó có
một trong ba yếu tố sau: có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá
nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ thương mại theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc
tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác
biệt về ngôn ngữ, truyền thống pháp luật, tập quán thương mại, thiếu hiểu biết và sự tin
cậy lẫn nhau...và dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, các mâu thuẫn, bất đồng,
tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh là điều khó tránh khỏi, đặc biệt trong nền
5
Công ước viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980, điều 1.
6
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công
dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài
ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận. Yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 758 Bộ luật
dân sự 2005, như các bên tham gia quan hệ thương mại là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các bên là công dân, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh
tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
1.1.2 Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài
Trong kinh doanh, các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra
tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung pháp lý hoàn chỉnh đến đâu- bởi không phải lúc
nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một các nghiêm chỉnh. Đặc biệt, trong thương mại
quốc tế- lĩnh vực mà các bên tham gia đều có những bất đồng về tập quán kinh doanh,
ngôn ngữ và văn hóa thì khả năng xảy ra tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Chẳng
hạn như hàng nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải có mã số, mã vạch trên bao bì,
7
Học viện tư pháp, Kỹ năng hành nghề luật sư- Tập III- Hợp đồng và tư vấn hợp đồng, Nxb Công an Nhân dân, Hà
Nội, 2002, tr. 53.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
6
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
nhãn hiệu hàng hóa và nếu các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Trung
Quốc không tuân thủ quy định này thì tranh chấp xảy ra là điều tất yếu.8
Trước tình hình đó, việc giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại
đồng ý của các bên.
8
Đại học thương mại, Tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, http://voer.edu.vn/c/tranh-chapthuong-mai-va-giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai/9800f4f4, [ngày truy cập 13-8-2014].
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
7
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
Như vậy, trong quan hệ thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng thì
trọng tài được xem là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất hiện nay và được
các doanh nghiệp ưa chuộng bởi đây là hình thức mang nhiều ưu điểm- giải quyết tranh
chấp một cách nhanh chóng, tiết kiệm tối đa thời gian và đảm bảo uy tín thương hiệu, bí
mật kinh doanh trong tranh chấp, góp phần thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong và ngoài nước.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền và căn cứ phát sinh thẩm quyền của trọng tài
thương mại
1.2.1 Khái niệm trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đã có từ lâu đời và khá phổ biến trên
thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Hiện nay, khi soạn
thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại, các bên trong
quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài,
đặc biệt là khi quan hệ giao dịch này có yếu tố nước ngoài.
Trong khoa học pháp lý, trọng tài được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau
và do đó hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về trọng tài. Theo cuốn “Từ điển kinh tế
thị trường từ A đến Z”: “Trọng tài là một cách giải quyết bất đồng trong quan hệ công
các đương sự thỏa thuận lựa chọn bằng cách giao vụ việc tranh chấp cho các trọng tài
viên, với tư cách là bên thức ba độc lập nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại trên
cơ sở thỏa thuận trọng tài hoặc quy tắc tố tụng của một trung tâm trọng tài do các bên
thỏa thuận quy định bằng việc đưa ra một phán quyết trọng tài và phán quyết này có giá
trị chung thẩm buộc các bên phải thực hiện. Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được
các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ
trên cơ sở thỏa thuận trọng tài và đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên. Phương thức
trọng tài được tiến hành theo một thủ tục nhất định và được kết thúc bằng phán quyết
trọng tài. Sự khác biệt cơ bản giữa phán quyết trọng tài với quyết định của tòa án là có
giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và được công nhận tại các quốc gia theo yêu cầu
của các bên và quy định của pháp luật.
1.2.2 Đặc điểm của trọng tài
Trọng tài trở thành một công cụ pháp lý quan trọng trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế là vì phương thức này có những điểm đặc trưng sau:
Một là, trọng tài có tính phi nhà nước.
Trọng tài là một loại hình tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội nghề nghiệp) nhân
danh ý chí các bên, không nhân danh quyền lực tư pháp của nhà nước, hoạt động theo
pháp luật và quy chế trọng tài. Trọng tài là một thiết chế dân chủ trong giải quyết tranh
chấp thương mại và cả thương mại quốc tế, trọng tài không chỉ góp phần tạo ra một đời
sống dân chủ và tự do trong tư pháp, mà hơn thế nữa, trọng tài là người chia sẻ nhiệm vụ
với nhà nước nhất là cơ quan Tòa án trong việc xóa bỏ các bất đồng trong xă hội, thể hiện
cụ thể ở việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế.
Hai là, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là sự kết hợp hài hòa
giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết trọng tài
thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận. Bởi vậy, về nguyên tắc, thẩm quyền của trọng tài
không bị giới hạn bởi các đương sự có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng tài vụ
việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, một khi
đã được thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất tài phán và bắt buộc các bên
phải tuân thủ.
1.2.3 Thẩm quyền và căn cứ phát sinh thẩm quyền của trọng tài
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, Điều 2 Luật trọng tài thương mại
2010 quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp giữa các bên
phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp trong đó ít nhất một bên có hoạt động
thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng
trọng tài.
Theo pháp luật và thực tiễn trọng tài của các nước thì trọng tài có thẩm quyền xét xử
khi các bên đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay nói cách khác,
thẩm quyền của trọng tài phát sinh khi giữa các bên có tồn tại một thỏa thuận trong tài về
yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp. Nếu các bên trước và sau khi phát sinh tranh chấp
không thỏa thuận thống nhất giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì tranh chấp được giải
quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc tòa án. Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm
quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc, nếu được các bên có vụ việc lựa chọn đích
danh. Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnh thổ vì các bên có tranh
chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn một tổ chức trọng tài bất kỳ trong hoặc ngoài nước họ
để giải quyết tranh chấp, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như nơi đặt trụ sở của các bên,
cũng như không phân định theo cấp xét xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
10
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
phân định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, vì trọng tài chỉ có thẩm quyền
giải quyết vụ việc nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính phổ biến và được các
thương nhân ưa chuộng. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều được phép giải quyết
bằng trọng tài, hay nói cách khác kể cả khi các bên có thỏa thuận trọng tài trên cơ sở
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
11
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
thuật, điều kiện chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm... hoặc dịch vụ không được phép
thực hiện. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm cả hàng hóa
hữu hình (nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị...) và hàng hóa vô hình (dịch
vụ, quyền sở hữu trí tuệ…) được phân biệt dựa vào dạng thức tồn tại. Nó có thể là vật do
con người tạo nên hay các quyền tài sản mang tính vô hình. Tuy nhiên, quan niệm về
hàng hóa trong pháp luật các quốc gia có phạm vi rộng hẹp khác nhau. Đó có thể là hàng
hóa là những vật có thực được đưa ra trên thị trường để trao đổi. Hàng hóa còn bao gồm
cả những giấy tờ có giá, những vật có thực và hàng hóa tương lai. Còn tại Khoản 2, Điều
3 Luật thương mại 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động
sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai.
Về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể là
ngoại tệ đối với các bên. Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam và
người mua Hà Lan, hai bên thoả thuận sử dụng đồng Euro làm đồng tiền thanh toán. Lúc
này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với
người mua Hà Lan. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của
cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử
dụng đồng Euro làm đồng tiền chung.
Về cơ quan giải quyết tranh chấp: tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện
hợp đồng thương mại quốc tế có thể được giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án hoặc thông
qua thương lượng, hòa giải.
Về luật điều chỉnh hợp đồng: luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế mang
tính chất đa dạng và phức tạp. Điều này có nghĩa là hợp đồng thương mại quốc tế có thể
1.3.2 Tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh giữa Chính phủ tiếp nhận đầu
tư với nhà đầu tư nước ngoài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, các hoạt động thương mại
quốc tế ngày càng được mở rộng, đặc biệt khi hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng
phát triển cả về quy mô, phạm vi và tính chất thì khả năng phát sinh tranh chấp càng lớn,
không chỉ doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ phải bước vào những địa hạt pháp lý không
quen thuộc, cụ thể là tranh chấp xảy ra giữa Chính phủ tiếp nhận đầu và nhà đầu tư nước
ngoài ngày càng phổ biến.
Tranh chấp giữa Chính phủ nước nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài là loại tranh
chấp xảy ra giữa các chủ thể, một bên là Chính phủ nước nhận đầu tư và bên kia là nhà
đầu tư nước ngoài. Theo đó, Chính phủ nước nhận đầu tư trong tranh chấp chính là các
cơ quan quản lý nhà nước được giao quyền, chức năng và nhiệm vụ để thay mặt chính
phủ thực hiện và quản lý các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu
tư vào nước mình. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân, tổ chức được thành lập theo pháp
luật nước ngoài. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài đều được
gọi là nhà đầu tư nước ngoài. Luật pháp một số nước quy định rằng nhà đầu tư nước
ngoài phải là những tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư ra
nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh thương mại, tức là nhằm mục đích sinh lợi.10
Để được tiến hành các hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài phải là các
thương nhân và phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
và do cơ quan có thẩm quyền, nơi họ thành lập cấp. Ngoài ra, để được tiến hành các hoạt
động đầu tư tại nước nhận đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện
về đầu tư nước ngoài do luật pháp nước nhận đầu tư quy định.11 Các tranh chấp giữa
Chính phủ tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài thường có nội dung đa dạng và
phức tạp, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp khi nhà đầu tư nước
10
Luật đầu tư năm 2005, điều 3, khoản 1, 5.
11
tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác
trong một vụ kiện tại tòa án nước mình”. Bên cạnh đó, quốc gia cũng không bị áp dụng
các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia… nhằm đảm bảo đơn
kiện và việc thi hành quyết định của tòa án trong trường hợp quốc gia đồng ý cho tòa án
nước ngoài xét xử được quy định tại điều 18 và điều 19 Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia.14 Ngoài ra quyền miễn trừ đối
với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của
quyền miễn trừ quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế theo nghĩa rộng. Nội
dung của quyền này là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì
12
Đỗ Viết Thái Anh, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giải quyết tranh chấp về đầu tư giữa Chính phủ và nhà đầu
tư nước ngoài, http://www.tks.edu.vn/portal/detailtks/6670_78_61_Giai-quyet-tranh-chap-ve-dau-tu-giua-Chinhphu-va-nha-dau-tu-nuoc-ngoai.html, [ngày truy cập 15-8-2014].
13
Quyết định trọng tài ngày 10/2/1999 đăng tải tại Tạp chí ICSID- Báo pháp luật đầu tư nước ngoài (2000), 457,
đoạn 125-131.
14
Điều 18 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có
biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong
một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.
Điều 19 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện
pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được
áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
14
15
Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia, điều 7, 10.
16
Điều 31 quy định các viên chức ngoại giao của một nước được hưởng quyền miễn trừ tư pháp về hình sự. Riêng
về dân sự và tư pháp thì viên chức ngoại giao cũng được hưởng quyền tư pháp trừ đối với những vụ kiện về thương
mại nằm ngoài chức năng của mình như vụ kiện về bất động sản tư ở trên lãnh thổ của nước nhận đại diện (trừ phi
viên chức ngoại giao có bất động sản do nhân danh nước cử đại diện và để phục vụ cho cơ quan đại diện ngoại
giao), Vụ kiện về thừa kế trong đó viên chức ngoại giao là người chấp hành di chúc, người quản lý, người thừa kế
hoặc người hưởng gia tài theo di chúc, với tư cách cá nhân chứ không phải nhân danh nước cử đại diện, Vụ kiện về
bất kỳ một nghề tự do hoặc hoạt động thương mại gì, của viên chức ngoại giao làm ngoài chức vụ chính thức của
mình ở nước nhận đại diện. Điều 43 quy định Viên chức lãnh sự và nhân viên lãnh sự không chịu sự xét xử của nhà
chức trách tư pháp hoặc hành chính của Nước tiếp nhận về các hành vi thực hiện khi thi hành chức năng lãnh sự, trừ
khi đối với vụ kiện dân sự xảy ra vì một hợp đồng do một viên chức lãnh sự hoặc một nhân viên lãnh sự ký kết mà
không phải là rõ ràng hoặc hàm ý đứng trên danh nghĩa một người được uỷ quyền của Nước cử để ký kết; hoặc do
một bên thứ ba tiến hành về thiệt hại do một tai nạn xe cộ, tàu thuỷ hoặc tàu bay xảy ra tại Nước tiếp nhận.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
15
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
ngoại giao, lãnh sự) tham gia giao dịch thương mại, lao động..., với tư cách cá nhân, nằm
ngoài phạm vi chức năng của mình thì khi tranh chấp phát sinh, các chủ thể liên quan có
quyền khởi kiện quốc gia ra trước cơ quan tài phán, vì trong trường hợp này quốc gia
Luật đầu tư năm 2005, điều 12, khoản 4.
18
Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga năm
1994, điều 6; Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa
Áo năm 1995, điều 8.
19
Luật trọng tài thương mại 2010, điều 3, khoản 3.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
16
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
đó, cá nhân với tư cách chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế phải hội đủ các điều
kiện mà pháp luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà pháp luật các nước có
thể quy định một cách cụ thể hoặc không cụ thể các điều kiện đối với một các nhân khi
tham gia quan hệ thương mại quốc tế với tư cách chủ thể.
Nếu pháp luật quy định một cách cụ thể các tiêu chuẩn của chủ thể là cá nhân thì chỉ
những người có đầy đủ tất cả những yêu cầu mà pháp luật quy định mới có thể trở thành
chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế. Nếu pháp luật không quy định cụ thể các điều
kiện của cá nhân là chủ thể trong quan hệ của thương mại quốc tế, thì khi xem xét tư cách
chủ thể của một người trong quan hệ thương mại quốc tế, sẽ căn cứ vào các quy định đối
với cá nhân trong quan hệ pháp luật thương mại trong nước, đồng thời có bổ sung một số
điều kiện nhất định. Nói cách khác, trong trường hợp này một cá nhân muốn trở thành
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
là người hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh
doanh.21
Nhìn chung, các quy định của một nhà nước về tiêu chuẩn pháp lý để xác định tư
cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ thương mại quốc tế chỉ được áp dụng cho các
công dân mang quốc tịch nước đó. Đối với công dân mang quốc tịch nước ngoài có được
trở thành thương nhân để hoạt động thương mại quốc tế trong phạm vi lãnh thổ một nước
sở tại hay không, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào luật pháp của từng nước và tùy theo
từng trường hợp cụ thể.
1.4.2 Tổ chức
Trong hoạt động thương mại quốc tế, phần lớn các tranh chấp phát sinh là từ các tổ
chức kinh tế. Tuy nhiên, không phải tổ chức kinh tế nào cũng được xem là chủ thể của
tranh chấp thương mại quốc tế, vì muốn tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch thương mại
quốc tế thì không chỉ đòi hỏi tổ chức đó phải là chủ thể của quan hệ thương mại trong
nước mà pháp luật còn quy định họ còn phải đáp ứng một số điều kiện bổ sung để có thể
tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế. Hầu hết pháp luật các nước và Việt Nam đều
quy định tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào các quan hệ hoặc giao dịch thương
mại quốc tế khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định. Tổ chức kinh tế được chia làm hai
loại, đó là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và tổ chức kinh tế không có tư cách pháp
nhân.
Theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, tổ chức kinh tế được xem là chủ thể
trong quan hệ thương mại nói chung và trong quan hệ thương mại quốc tế nói riêng khi tổ
chức đó hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh, được thể hiện dưới nhiều hình thức như công ty cổ phần, công ty hợp danh, công
ty trách nhiệm hữu hạn một, hai thành viên, doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.22 Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 6 Luật thương mại 2005 cũng quy
Quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế với các chủ thể khác như cá nhân và
tổ chức. Khi tham gia quan hệ này, quốc gia luôn là chủ thể đặc biệt và được hưởng quy
chế đặc biệt. Theo đó, một số nguyên tắc giao dịch trong hợp đồng sẽ bị hạn chế áp dụng
nếu các quốc gia tham gia với tư cách chủ thể không tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ của
mình, cụ thể:
Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng. Về mặt lý luận, khi tham gia kí kết một hợp đồng
dân sự nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, các bên chủ thể của quan hệ
hợp đồng luôn bình đẳng với nhau. Tuy nhiên, trong quan hệ hợp đồng mà một bên chủ
thể là Nhà nước thì nguyên tắc bình đẳng hầu như không được đặt ra. Bởi vì, khác với
loại chủ thể khác như cá nhân và tổ chức, quốc gia là loại chủ thể có chủ quyền. Quốc gia
có quyền tối cao trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại.
Thứ hai, nguyên tắc chọn luật. Về mặt lý luận, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên chủ thể, do đó các bên có quyền thỏa thuận tất cả những vấn đề mà pháp luật không
cấm, trong đó có cả việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Các bên có thể chọn luật do
các bên mang quốc tịch, luật nơi kí kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng…Tuy
nhiên, trong trường hợp hợp đồng mà quốc gia là một bên chủ thể thì vấn đề chọn luật áp
dụng cho hợp đồng đó không được đặt ra vì pháp luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là pháp
luật của quốc gia với tư cách chủ thể của quan hệ hợp đồng đó.
Như vậy, về mặt thực tế cũng như về mặt pháp lý, tất cả các quốc gia khi tham gia kí
kết các hợp đồng thương mại quốc tế với cá nhân hay tổ chức đều được hưởng quyền ưu
đãi đặc biệt. Theo đó, quốc gia có quyền đương nhiên áp dụng luật của nước mình vào
hợp đồng và nếu có tranh chấp xảy ra thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và tài sản
của quốc gia.
Như đã phân tích nội dung quyền miễn trừ quốc gia tại phần “Tranh chấp thương
mại quốc tế phát sinh giữa Chính phủ tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài”, thì sự
ưu đãi đặc biệt của quốc gia trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng đã làm hạn chế rất
nhiều các giao dịch kinh doanh giữa quốc gia với các chủ thể khác. Tuy nhiên, vì đây là
đặc quyền nên quốc gia có thể tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của mình vào bất
cứ thời điểm nào. Trong trường hợp này, quốc gia sẽ chịu trách nhiệm pháp lý trong quan
hệ hợp đồng giống như các chủ thể khác. Để thực hiện quyền này của mình, quốc gia quy
hệ quốc tế ký kết với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lý giữa hai bên trong hoạt động
thương mại quốc tế và những quy định trong các điều ước quốc tế song phương chỉ điều
chỉnh các quan hệ pháp lý giữa hai bên kí kết. Ví dụ như Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa Kỳ năm 2001, Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thuỵ Sỹ
năm 2000.
Điều ước quốc tế đa phương là loại điều ước quốc tế do ba bên chủ thể trong quan
hệ thương mại quốc tế trở lên ký kết hoặc tham gia như Hiệp định chung về thuế quan và
mậu dịch (GATT- The General Agreement on Tariff and Trade) được ký kết năm 1947,
Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết năm 1980...Các quy
định điều ước quốc tế đa phương có giá trị bắt buộc đối với các thành viên của điều ước.
Ngoài ra, còn có điều ước quốc tế quy định những nguyên tắc chung và loại điều ước quy
định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thương mại quốc tế.
Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước này có giá
trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
20
SVTH: Nguyễn Thị Đào
Đề tài: Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài
cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda). Đây là nguyên tắc được áp dụng trong công pháp
quốc tế nhằm điều chỉnh các hành vi của các quốc gia. Như vậy, khi các nước ký kết hoặc
tham gia các điều ước quốc tế về thương mại này sẽ đương nhiên được áp dụng để điều
chỉnh các hành vi của quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng trên các
nguyên tắc:
Thứ nhất, điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc đối
với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế, nếu các bên chủ thể này có quốc
21
SVTH: Nguyễn Thị Đào