y
o
c u -tr a c k
.c
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN PHƯƠNG ANH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG
HÒA GIẢI – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN BÁ BÌNH
HÀ NỘI - 2016
.d o
m
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài “Giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế bằng hòa giải – Kinh nghiệm quốc tế và một số
đề xuất cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện
trên cơ sở các kiến thức lý luận, thực tiễn và tham khảo các tài liệu liên
quan. Các số liệu có nguồn trích dẫn đảm bảo tính trung thực, chính xác;
luận văn chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 05 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Trần Phương Anh
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
1.3. Hòa giải thương mại.............................................................................................. 19
1.3.1. Định nghĩa hòa giải thương mại .......................................................................... 19
1.3.2. Đặc điểm của hòa giải thương mại ...................................................................... 21
1.3.3. Ưu điểm và nhược điểm của hòa giải thương mại so với các phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế khác .................................................................... 23
1.4. Pháp luật về hòa giải thương mại ........................................................................ 28
Chương 2. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG HÒA GIẢI ........................................................ 31
2.1. Quy tắc Hòa giải của Ủy ban Pháp luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp
Quốc (UNCITRAL) và Luật Mẫu về hòa giải thương mại quốc tế của Ủy ban
Pháp luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) ........................ 32
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
o
c u -tr a c k
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
3
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
4
w
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
lời cho các câu hỏi:
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
5
w
w
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
giới có thể có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng pháp luật về hòa giải thương mại
tại Việt Nam trong tương lai.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
C
lic
k
to
bu
6
w
w
w
w
y
y
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ BẰNG HÒA GIẢI
1.1. Định nghĩa tranh chấp thương mại quốc tế
1.1.1. Về thương mại quốc tế
Để có thể hiểu được khái niệm “tranh chấp thương mại quốc tế”, trước hết cần làm
rõ khái niệm “thương mại quốc tế”. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái
niệm thương mại quốc tế. Quan điểm của các học giả và quy định pháp luật của các
quốc gia đều có điểm chung khi cho rằng, thương mại quốc tế là hoạt động thương mại
có yếu tố quốc tế (yếu tố nước ngoài) và chính yếu tố quốc tế này là đặc điểm phân biệt
thương mại quốc tế với thương mại trong nước (hay thương mại nội địa). Theo đó, khái
niệm “thương mại quốc tế” được cấu thành dựa trên hai khái niệm “thương mại” và
“quốc tế” (yếu tố quốc tế).
Có hai thuật ngữ để chỉ các hoạt động kinh doanh, thương mại quốc tế mà đôi khi
thường bị dùng lẫn với nhau, đó là “commerce” và “trade”. Một trong những điểm
khác biệt của hai thuật ngữ này là ở chủ thể trong quan hệ thương mại đó: “trade” là
hoạt động thương mại có sự tham gia của thực thể công, còn “commerce” thường là
hoạt động thương mại của các thương nhân. Do đó, “international trade” có thể được
hiểu là các quan hệ thương mại quốc tế ở cấp độ chính sách thương mại, hoặc sự hợp
m
C
lic
k
to
bu
7
w
w
w
w
y
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
quốc tế - một bộ phận của luật quốc tế. Trong phạm vi đề tài này, việc hòa giải thương
mại được nghiên cứu ở giác độ hòa giải về tranh chấp thương mại quốc tế tư, do vậy,
trừ khi có đề cập khác, khái niệm “thương mại”, “thương mại quốc tế” hay “tranh chấp
thương mại quốc tế” đều được hiểu dưới góc độ luật tư.
Hiện nay chưa có khái niệm “thương mại” được chấp nhận chung trên toàn thế
giới. Một số điều ước quốc tế, ví dụ như Nghị định thư Geneva 1923 Về thỏa thuận
trọng tài hay Công ước New York 1958 về Công nhận và thi hành quyết định trọng tài
nước ngoài, có đưa ra quan điểm giải thích về thuật ngữ “thương mại” nhưng đồng thời
cũng dành cho các quốc gia thành viên quyền bảo lưu đối với khái niệm này. Các quốc
gia có thể chỉ sử dụng khái niệm “thương mại” theo sự giải thích của các điều ước quốc
tế đó như một nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng khái niệm “thương mại” cho
pháp luật nước mình. Thông thường, trong các hiệp định thương mại quốc tế, hoạt
động thương mại được chia thành bốn lĩnh vực là: thương mại hàng hóa, thương mại
dịch vụ, thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và thương mại trong lĩnh vực đầu tư.
“Thương mại” có thể được hiểu theo nghĩa rộng là những hoạt động kinh doanh
nói chung, nói cách khác, “thương mại được hiểu là những vấn đề phát sinh từ các
quan hệ có bản chất thương mại, dù trong quan hệ đó hợp đồng có tồn tại hay không.
.d o
m
C
lic
k
to
bu
8
w
w
w
w
y
y
N
O
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
hợp đồng tặng cho, hoặc việc chia tài sản trong quan hệ ly hôn; mục đích lợi nhuận
cũng là một trong những đặc điểm tiêu biểu để phân biệt giữa giao dịch thương mại với
các giao dịch dân sự thông thường, hay giữa các hợp đồng không phải hợp đồng
thương mại và các hợp đồng thương mại.
Khái niệm “thương mại” cũng được quy định và giải thích trong pháp luật của các
quốc gia. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có một đạo luật riêng điều chỉnh quan
hệ thương mại giữa các thương nhân.
Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp đã liệt kê khá nhiều các hành vi thương mại
được thực hiện bởi các thương nhân tại Điều L 110-1, gồm:
(i)
Mua hàng hóa để bán lại, dù là trao đổi ngang giá ngay hay sau đó đã xử lý
và phát triển hàng hóa đó;
(ii)
Mọi nghĩa vụ giữa các đại lý, nhà buôn và các chủ ngân hàng;
(x)
Giao dịch hối phiếu.
Điều L 110-2 quy định thêm về một số hành vi thương mại trong lĩnh vực hàng hải,
như: vận chuyển đường biển, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng liên quan tới thương mại
hàng hải, mua bán tàu thủy nội địa cũng như tàu biển quốc tế, v.v…
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
Hoạt động ngân hàng và hối đoái;
(v)
Hoạt động chuyên chở (người và hàng hóa) bằng đường bộ, đường sông,
đường biển cũng như hoạt động hàng hải;
(vi)
Hoạt động ủy thác, chuyển hàng, hoạt động cho thuê kho bãi;
(vii)
Hoạt động đại lý và môi giới thương mại;
(viii) Hoạt động xuất bản và các hoạt động buôn bán sách và buôn bán các tác
phẩm nghệ thuật, hay đồ dùng mỹ nghệ;
(ix)
Hoạt động in ấn chừng nào đó không phải là in ấn mang tính thủ công.
Bộ luật Thương mại Nhật Bản, tại Điều 263, cũng quy định các giao dịch được coi
là giao dịch thương mại, gồm:
(i)
Mọi giao dịch nhằm thu được tài sản là động sản, bất động sản hoặc cổ
phiếu với ý định bán chúng để thu lợi nhuận;
(ii)
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
10
w
w
w
w
y
y
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
dịch đó chỉ nhằm kiếm tiền công, như: các giao dịch liên quan tới: sản xuất hoặc cải
tiến hàng hóa cho người khác, việc cung cấp điện và ga, vận chuyển, xuất bản, in ấn,
photo, quản lý các công trình công cộng phục vụ nhu cầu giải trí của khách hàng, v.v…
Có thể thấy, một xu hướng khá phổ biến trong pháp luật của các quốc gia trên thế
giới là liệt kê những hành vi được coi là hành vi thương mại thay vì định nghĩa như thế
nào được coi là hành vi thương mại. Cách thức này có thể phù hợp với bối cảnh trước
đây khi mà các hoạt động thương mại chưa đa dạng và phức tạp. Ngày nay, với nhiều
hình thức kinh doanh, đầu tư quốc tế mới xuất hiện, quan niệm về thương mại cũng
dần được mở rộng, do đó, việc liệt kê các hoạt động thương mại có thể trở thành bất
khả thi.
Pháp luật thương mại của các quốc gia sau này cũng đi theo hướng định nghĩa về
hoạt động “thương mại” hoặc liệt kê dạng mở. Ví dụ, pháp luật Philippines định nghĩa
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
11
w
w
w
w
y
y
N
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
Yếu tố “quốc tế” trong khái niệm thương mại quốc tế có thể được nhận biết thông
qua đặc điểm về vị trí trụ sở thương mại của người bán và người mua cùng sự dịch
chuyển của hàng hóa: “Người bán và người mua ở các nước khác nhau và hàng hóa
phải được di chuyển từ nước người bán sang nước người mua”.3 Điều này cũng được
thể hiện trong Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế, khi Công ước gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này với quy định: “Công
ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có
trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau” (Điều 1). Yếu tố “quốc tế” trong thương
mại cũng có thể được xác định thông qua quốc tịch khác nhau của các bên trong quan
hệ thương mại. Hoặc có thể xác định yếu tố “quốc tế” trong quan hệ thương mại quốc
tế bằng cách kết hợp nhiều yếu tố, như: chủ thể; căn cứ phát sinh, thay đổi chấm dứt
quan hệ thương mại và đối tượng của quan hệ thương mại.
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
12
w
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
.c
- Tài sản là đối tượng của quan hệ thương mại ở nước ngoài.4
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
bu
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
bu
to
k
lic
Trần Đình Hảo (2000), Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, Nhà nước và
pháp luật, tr. 28, trích trong Trần Minh Ngọc (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà
Nội, tr. 11.
5
6
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự, thương mại có tranh
chấp là phát luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài; hoặc
(iii)
Đối tượng của vụ tranh chấp dân sự, thương mại là tài sản ở nước ngoài.
1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế, nếu tranh chấp là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột
về quan điểm và lợi ích của các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ các quan hệ giữa họ, thì giải quyết tranh chấp chính là cách thức, phương pháp để
loại trừ những thuẫn, bất đồng, xung đột đó một cách hợp lý và đúng đắn.
Do trình độ phát triển cũng như khoa học pháp lý của mỗi quốc gia là khác nhau
nên cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cũng được pháp luật các quốc gia
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
tạp. Các bên có thể giải quyết tranh chấp của mình tại Tòa án quốc gia của một trong
các bên, bởi không tồn tại một hệ thống pháp luật tố tụng “xuyên quốc gia” để trả lời
cho câu hỏi về thẩm quyền xét xử của cơ quan tài phán trong các trường hợp này9.
Tuy nhiên, các bên trong quan hệ thương mại quốc tế thường đến từ các quốc gia
khác nhau. Khi giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng Tòa án, “Tòa án chủ
nhà” của một bên sẽ là tòa án nước ngoài đối với bên kia. Một bên trong quan hệ
thương mại quốc tế nếu phải khởi kiện ra một tòa án nước ngoài, phải thuê các luật sư
nước ngoài chứ không phải những luật sư đã quen thuộc công việc kinh doanh của họ
và phải làm nhiệm vụ dịch hợp đồng, các tài liệu liên quan, v.v… thì quá trình tố tụng
sẽ khiến họ phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc.10 Do đó, trong bối cảnh thương
mại quốc tế hiện nay, các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án ngày càng
được ưa chuộng.
TS. Nguyễn Bá Bình, Việc xác định thẩm quyền giải quyết và luật áp dụng đối với hợp đồng, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 5(122) tháng 5/2008.
10
Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel Blackaby & Constantine Partasides (2004), Pháp luật và thực tiễn trọng
tài thương mại quốc tế (tái bản lần thứ 4), Sweet & Maxwell, London, tr. 26.
9
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
phát sinh; và nó có nhiều điểm đối lập với phương thức giải quyết tranh chấp “truyền
thống” tại Tòa án. Các bên có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua thương
lượng, hòa giải hoặc trọng tài và họ được quyền tự quyết định nhiều vấn đề liên quan
như: luật áp dụng để giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp, cũng như các
vấn đề về địa điểm, thời gian, ngôn ngữ sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp,
v.v… Có thể nói, việc cho phép các bên có nhiều quyền tự do ý chí trong việc giải
quyết tranh chấp đã tạo nên tính linh hoạt của các phương thức giải quyết tranh chấp
thay thế. Cũng bởi đây là cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án nên các phương
thức giải quyết tranh chấp thay thế không mang tính quyền lực nhà nước.
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại, trong đó các bên
tranh chấp cùng thỏa thuận, bàn bạc để tìm ra phương án giải quyết mâu thuẫn giữa họ
mà không có sự tham gia của bên thứ ba. Quá trình thương lượng thể hiện rất rõ quyền
tự do định đoạt của các bên với kết quả thương lượng thường là những cam kết, thỏa
thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những bất đồng, tranh chấp đã phát sinh.
Kết quả thương lượng thường được thể hiện trong một biên bản, có giá trị pháp lý như
hợp đồng và có ý nghĩa ràng buộc với các bên liên quan. Vì thương lượng là quá trình
giải quyết tranh chấp bắt nguồn từ sự tự nguyện của các bên mà việc thương lượng
thành công hay thất bại phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và kỹ năng đàm phán của các
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra. Sau khi cân nhắc mọi chứng cứ và
lập luận của các bên, trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài sẽ ra một phán quyết, quyết
định. Phán quyết, quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên và phán
quyết, quyết định của trọng tài quốc tế có thể được cưỡng chế thi hành với sự trợ giúp
của Tòa án.
Như vậy, Trọng tài, với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài
thủ tục tư pháp do các bên lựa chọn, nhưng về cơ bản, đây vẫn là một cơ quan tài phán.
Trọng tài có thể xác định bên nào gây ra thiệt hại, bên nào phải chịu các chế tài hay
phải bồi thường cho bên còn lại, v.v... Tuy không mang nặng tính “xét xử” như Tòa án,
nhưng đây vẫn là một phương thức giải quyết tranh chấp có thể khiến các bên tham gia
tranh chấp phải mang cảm giác thắng – thua. Trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là
thương mại quốc tế – một lĩnh vực tương đối nhạy cảm do có liên quan tới các bên đến
từ các quốc gia khác nhau, việc phải đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán,
đồng thời lại phải chịu các chế tài, có thể khiến các bên không thể nối lại quan hệ hợp
tác kinh doanh được nữa. Do đó, dù có nhiều ưu điểm so với Tòa án hay các phương
thức giải quyết tranh chấp khác, nhưng nếu xét trên mong muốn của các bên tìm một
phương thức giải quyết tranh chấp hòa bình, Trọng tài đôi khi cũng không phải là một
phương án tối ưu.
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
động thương mại.
Trong quá trình hòa giải, với thỏa thuận trước giữa các bên, hòa giải viên luôn cố
gắng trình bày cho các bên thấy những triển vọng tốt đẹp nhất để từ đó dung hòa các
quan điểm khác nhau, hóa giải tranh chấp. Với bản chất là một phương thức giải quyết
tranh chấp tự chọn, các bên có thể tự lựa chọn luật áp dụng trong quá trình hòa giải
cũng như thủ tục hòa giải. Hòa giải viên có thể tiến hành quy trình hòa giải mà họ cho
là phù hợp với tranh chấp theo nguyên tắc vô tư, công bằng, đảm bảo công lý.11
Tuy vậy, hòa giải viên không phải là người có vai trò quyết định trong việc giải
quyết tranh chấp mà chỉ là người có hỗ trợ, giúp các bên trong việc tìm ra giải pháp
cho tranh chấp theo nguyên tắc khách quan và trung lập, còn việc giải quyết tranh chấp
do các bên quyết định.
Nếu hòa giải thành công, thỏa thuận hòa giải được lập thành biên bản hòa giải có
chữ ký của các bên và hòa giải viên. Nhìn chung, đây cũng chỉ là sự thỏa thuận của các
bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này cũng phụ thuộc vào sự tự nguyện
Trung tâm Thương mại Quốc tế và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2008), Trọng tài và các phương
thức giải quyết tranh chấp lựa chọn: Giải quyết các tranh chấp thương mại như thế nào, Công ty In Truyền
thông Việt Nam, Hà Nội, tr. 68.
11
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
y
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
vào kết quả hòa giải, hòa giải viên hoặc hội đồng các hòa giải viên sẽ giải tán. Trong
trường hợp này, các bên có thể tự xây dựng quy tắc hòa giải, hoặc hòa giải viên cũng
như hội đồng hòa giải viên sẽ xây dựng quy tắc làm việc cho riêng mình; hoặc có thể
sử dụng các quy tắc hòa giải quốc tế của các trung tâm trọng tài, trung tâm hòa giải
quốc tế cũng như Quy tắc Hòa giải của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại
quốc tế UNCITRAL 1980, Quy tắc tố tụng trọng tài mẫu của UNCITRAL 1976 có thể
được áp dụng.
Khác với hòa giải vụ việc, hòa giải quy chế là hình thức hòa giải do một tổ chức
hoặc một trung tâm trọng tài, trung tâm hòa giải chuyên nghiệp tiến hành, quá trình hòa
giải có thể được thực hiện theo quy tắc của trung tâm, tổ chức đó.
Hòa giải quy chế là tổ chức hoạt động thường xuyên, có điều lệ riêng, có danh sách
hòa giải viên và có quy chế hoạt động cụ thể. Mỗi tổ chức hòa giải quy chế đều đưa ra
một bản quy tắc tố tụng hướng dẫn trình tự tiến hành hòa giải. Mỗi tổ chức hòa giải
quy chế gồm một bộ phận thường trực hoặc ban thư ký làm nhiệm vụ cung cấp các
dịch vụ hành chính và giám sát việc áp dụng quy tắc hòa giải. Các hòa giải viên tham
ThS. Nguyễn Thị Khế - ThS. Bùi Thị Khuyên, Luật Thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb.
Tài chính, Hà Nội, tr. 263.
13
Trung tâm Thương mại Quốc tế và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2008), Trọng tài và các phương
thức giải quyết tranh chấp lựa chọn: Giải quyết các tranh chấp thương mại như thế nào, Công ty In Truyền
thông Việt Nam, Hà Nội, tr. 68.
12
.d o
m
o
w
w
y
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
Khác với tố tụng tại Tòa án, hòa giải thương mại được coi là một phương thức giải
quyết tranh chấp tư, được thực hiện bởi các hòa giải viên do các bên tự do lựa chọn và
thường là quy trình giải quyết tranh chấp khép kín. Hòa giải viên không nhân danh
quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết như Thẩm phán của Tòa án, mà chỉ đưa ra
các khuyến nghị giúp các bên hóa giải mâu thuẫn. Toàn bộ quá trình hòa giải thể hiện ý
chí của các bên dựa trên quyền tự chủ của họ.
- Về hòa giải viên
Một trong những đặc điểm để phân biệt hòa giải với tòa án là các bên có quyền tự
do lựa chọn hòa giải viên để giải quyết tranh chấp cho mình. Các bên có thể tự thực
hiện quyền này của mình hoặc có thể ủy quyền cho bên thứ ba như một trung tâm trọng
tài hoặc trung tâm hòa giải chuyên nghiệp.
Để có thể lựa chọn hòa giải viên phù hợp đòi hỏi các bên cân nhắc trên nhiều
phương diện, đặc biệt là yêu cầu đối với hòa giải viên. Điều này không chỉ vì các hệ
thống pháp luật khác nhau và các quy định pháp luật khác nhau sẽ được áp dụng, mà
còn vì các bên thường có quốc tịch khác nhau và quá trình hòa giải có thể được tiến
hành ở một nước là “nước ngoài” đối với họ (đảm bảo không bên nào có lợi thế “sân
nhà”). Với nền tảng pháp lý khác nhau giữa những người cùng tham gia vụ tranh chấp,
thường có cả những khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ, các hòa giải viên quốc tế cần
phải tránh được những hiểu lầm phát sinh vì sự khác nhau này. Do đó, chọn hòa giải
viên thích hợp cho một vụ tranh chấp là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt.
Các hòa giải viên được lựa chọn thường là những người có kiến thức sâu rộng
trong lĩnh vực các bên đang có tranh chấp, có kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh
chấp bằng hòa giải. Các bên cũng thường tìm đến những hòa giải viên có danh tiếng,
.d o
m
o
w
w
y
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e