BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG
TRỌNG TÀI – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội - 2015
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
AAA
Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ
(American Arbitration Association)
HKIAC
Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông
(Hongkong International Arbitration Centre)
ICC
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
i
Lời cảm ơn
ii
Lời cam đoan
iii
Danh mục các chữ viết tắt
iv
Mục lục
v
LỜI NÓI ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
TRỌNG TÀI
1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
3
1.1.1. Khái niệm thương mại quốc tế
3
1.1.2. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
4
1.2. Trọng tài thương mại quốc tế
5
1.2.1. Về tính “thương mại”
5
1.2.2. Về tính “quốc tế”
6
1.3. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài
1
13
1.4.2. Trọng tài ad-hoc
14
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI
2.1. Thẩm quyền của trọng tài
16
16
2.1.1. Thẩm quyền theo vụ việc
16
2.1.2. Thẩm quyền theo thỏa thuận trọng tài
16
2.2. Luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài
19
2.3. Luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp
22
tâm trọng tài trên thế giới
3.1.1. Tòa án Trọng tài Quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế
32
3.1.2. Tòa án Trọng tài Quốc tế London LCIA
32
3.1.3. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC
33
ICC
3.2. Những hạn chế trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
33
bằng trọng tài và một số kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế đó
3.2.1. Vấn đề chi phí
33
3.2.2. Vấn đề thẩm quyền hạn chế của trọng tài viên
34
lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài. Việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết
tranh chấp có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệt hại của
doanh nghiệp khi một thương vụ bị đổ bể. Hiện nay, không có phương thức giải quyết
tranh chấp nào chiếm vị thế tuyệt đối cả. Tuy nhiên, với những ưu điểm vượt trội của
mình thì trọng tài đã và đang trở thành phương thức được các thương nhân “ưu ái” hơn
hẳn. Từ thực tiễn trên, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề: “Giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài – lý luận và thực tiễn” làm đề tài cho khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Khóa luận đi sâu phân tích các vấn đề lý luận chung và pháp luật giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài, tìm hiểu về thực tiễn giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài trên thế giới. Căn cứ vào những vấn đề lý luận đã xây dựng và thực tiễn
nghiên cứu, khóa luận đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để hoạt động
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có hiệu quả hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới mục đích nhằm làm sáng tỏ pháp luật hiện hành và thực tiễn
về việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài. Từ đó, đưa ra ý kiến
đóng góp, đề xuất phương hướng hoàn thiện, hạn chế rủi ro trong hoạt động giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật trên thế giới về việc giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài, được quy định cụ thể trong luật
trọng tài của các quốc gia, các tổ chức trọng tài quốc tế; trên cơ sở có sự so sánh pháp
luật trọng tài của các quốc gia với nhau.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp các nguồn
tài liệu mà tác giả sưu tầm được trong quá trình chuẩn bị và viết luận văn. Hệ thống tài
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác”.
Trong giáo trình Luật thương mại quốc tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân
[36], PGS.TS Nguyễn Hữu Viện và TS. Trần Văn Nam đã đưa ra quan điểm của mình
về “thương mại quốc tế”, theo đó, “thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch
vụ giữa các thương nhân có quốc tịch khác nhau ở các nước khác nhau nhằm mục đích
lợi nhuận”. Yếu tố “quốc tế” trong khái niệm này thể hiện ở chỗ các bên có quốc tịch
hoặc trụ sở thương mại hoặc nơi cư trú thường xuyên khác nhau.
Tìm hiểu giáo trình Luật thương mại quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội
[38], có nhận định cho rằng: “Hoạt động thương mại quốc tế là những hành vi thương
mại có yếu tố nước ngoài được thực hiện bởi các thương nhân”. Khái niệm này mở
rộng phạm vi của yếu tố “quốc tế” hơn so với khái niệm trước, đó là một hoạt động
6
thương mại còn được coi là có yếu tố quốc tế nếu hợp đồng được ký kết ở nước ngoài
hoặc đối tượng của quan hệ hợp đồng tồn tại ở nước ngoài.
Như vậy, dù có nhiều cách giải thích về “thương mại quốc tế” nhưng về bản chất,
chúng đều có những điểm chung. Vì vậy, có thể khái quát lại như sau: thương mại quốc
tế là sự trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng các dịch vụ giữa các thương nhân với
nhau nhằm mục đích lợi nhuận và luôn tồn tại trong những giao dịch này ít nhất một
yếu tố quốc tế. Đó có thể là quốc tịch của các bên trong quan hệ thương mại khác nhau
hoặc có sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia của hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
hoặc hợp đồng thương mại giữa các thương nhân được thực hiện ở những quốc gia
khác nhau.
1.1.2. Khái niệm tranh chấp thƣơng mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế, tranh chấp sẽ phát sinh khi một trong hai bên không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng các thỏa thuận giữa các bên. Tranh chấp thương
mại quốc tế luôn là những tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại quốc tế
lời không thống nhất [50, tr.1]. Luật mẫu UNCITRAL không đưa ra khái niệm mà chỉ
giải thích: “Trọng tài là bất cứ hình thức Trọng tài có hoặc không có sự giám sát của
tổ chức” còn theo Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) thì: “Trọng tài là cách thức giải
quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách
quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các
bên tranh chấp phải thi hành”.
Ngày nay, khi đề cập đến việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, khoa học
pháp lý, văn kiện pháp lý quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia đều sử dụng thuật
ngữ “International Commercial Arbitration” với nghĩa là trọng tài thương mại quốc tế.
Trọng tài thương mại quốc tế luôn mang những đặc điểm chung của một trọng tài. Bên
cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng đó là tính thương mại và tính quốc tế.
1.2.1. Về tính “thƣơng mại”
Nhìn chung, dưới góc độ lý luận, các học giả trên thế giới đưa ra nhiều khái niệm
về “thương mại” được giải thích chi tiết mà điểm chung của nó là đều là những giao
dịch kinh doanh giữa các thương nhân với nhau và mục đích chính của họ là lợi
nhuận. Điều này khác hẳn với mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của các giao dịch dân sự
như việc chia tài sản thừa kế, hợp đồng tặng cho hoặc việc chia tài sản trong ly hôn.
8
Dưới góc độ pháp luật quốc gia, khái niệm “thương mại” lại không thống nhất
như vậy. Mặc dù Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết
trọng tài nước ngoài đã cố gắng ghi nhận một sự giải thích về thuật ngữ “thương mại”
nhưng lại dành cho các nước quyền bảo lưu đối với khái niệm này. Luật mẫu
UNCITRAL tuy không đưa ra định nghĩa về khái niệm “thương mại” nhưng ở chú
giải Điều I đã nêu ra: “Các quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm các giao
dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương
mại, thuê mua xây dựng công trình; tư vấn kỹ thuật; li xăng, đầu tư; tài chính ngân
xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau…”.
Bên cạnh đó, để xác định tính quốc tế của trọng tài, có thể áp dụng theo Điều 1.3
Luật mẫu UNCITRAL:
“ Trọng tài là quốc tế nếu:
(a) Vào thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các
nước khác nhau, nếu các bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì tính đến trụ sở kinh
doanh có quan hệ mật thiết nhất đối với thỏa thuận trọng tài, còn nếu các bên
không có trụ sở kinh doanh thì sẽ căn cứ theo nơi cư trú thường xuyên của các bên;
hoặc:
(b) Một trong các địa điểm sau đây nằm ở ngoài lãnh thổ của nước nơi các bên có trụ
sở:
(i) Địa điểm tiến hành trọng tài, nếu điều này được qui định trong thoả thuận trọng
tài hoặc được xác định phù hợp với thoả thuận này
(ii) Địa điểm nơi một phần chủ yếu của các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ thương
mại phải được thực hiện hoặc nơi đối tượng của vụ tranh chấp có liên hệ gắn
bó nhất.
(c) Các bên ký kết đã thoả thuận với nhau là đối tượng của thoả thuận trọng tài có liên
hệ đến hai hoặc nhiều nước”.
Như vậy, trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp mà
sự bắt đầu của nó dựa trên thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết các tranh chấp
thương mại có yếu tố nước ngoài bằng một Hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều
trọng tài viên trên cơ sở trình tự, thủ tục và pháp luật do các bên tự do lựa chọn.
1.3. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế bằng trọng
tài
10
1.3.1. Nguyên tắc thỏa thuận
Nguyên tắc thỏa thuận được coi là nguyên tắc nền tảng của trọng tài thương mại
03 thành viên song một bên không chịu chỉ định trọng tài viên của mình thì bên kia có
quyền đề nghị chỉ định trọng tài viên của mình là trọng tài viên duy nhất và phán quyết
của trọng tài viên duy nhất này sẽ có hiệu lực giống như các bên đã thỏa thuận hội
đồng trọng tài chỉ bao gồm một trọng tài viên duy nhất mà thôi (Điều 17 – Luật Trọng
tài Anh).
Thứ hai: về thủ tục tố tụng trọng tài
Các vấn đề liên quan đến địa điểm tiến hành trọng tài, ngôn ngữ sử dụng trong tố
tụng trọng tài, thủ tục ra phán quyết… thì Luật mẫu UNCITRAL cho phép các bên tự
do thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận, hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền quyết
định thủ tục tố tụng, phù hợp với quy định của pháp luật trọng tài có liên quan. Điều 2
Luật Trọng tài Brazil quy định rằng, các bên có thể tự do lựa chọn “luật áp dụng trong
quá trình trọng tài miễn là sự lựa chọn của họ không vi phạm chuẩn mực đạo đức và
chính sách công cộng” và Điều 21 cho phép “thủ tục trọng tài tuân theo những thủ tục
được thỏa thuận bởi các bên trong thỏa thuận trọng tài”. Luật Trọng tài Anh 1996 đã
thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận của các bên khi quy định tại Điều 46.1:
“Hội đồng trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp theo luật được lựa chọn bởi các bên với
tư cách là luật áp dụng cho nội dung tranh chấp”.
Như vậy, có thể thấy nguyên tắc thỏa thuận của các bên là một nguyên tắc được
hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, những vấn đề được thỏa thuận
trong trọng tài phải luôn nằm trong khuôn khổ của pháp luật, phù hợp với các quy định
của quốc gia nơi tiến hành trọng tài và nơi phán quyết được thi hành bởi nếu không,
phán quyết trọng tài sẽ có nguy cơ bị vô hiệu.
1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp
Nguyên tắc này yêu cầu hội đồng trọng tài phải đối xử với các bên công bằng,
trao cho họ cơ hội đầy đủ để trình bày lý lẽ của mình về tranh chấp trong quá trình
trọng tài, được thể hiện rất rõ trong Điều 18 Luật mẫu UNCITRAL: “Các bên phải
được đối xử một cách công bằng và mỗi bên phải có cơ hội đầy đủ để trình bày về vụ
kiện”. Tuy nhiên, “cơ hội đầy đủ” ở đây có nghĩa là các bên chỉ được phép trình bày lý
tài khác trong Hội đồng xét xử hay với bất kì một bên tranh chấp nào. Trọng tài viên
không thể có lợi ích nghề nghiệp hoặc lợi ích nhân thân trực tiếp nào trong kết quả
13
giải quyết vụ việc. Trước khi được bổ nhiệm, trọng tài viên không được tiết lộ quan
điểm về vụ việc với một trong các bên tranh chấp”.
Ngoài ra, theo Điều 14 Quy tắc tố tụng trọng tài VIAC cũng chỉ rõ: “Trọng tài
viên không được gặp hoặc liên lạc riêng với bất kì bên nào và ngược lại các bên tranh
chấp cũng không được phép gặp hay liên lạc với trọng tài viên để trao đổi về các vấn
đề có liên quan đến tranh chấp”.
Trường hợp Hội đồng trọng tài chỉ gồm một thành viên duy nhất hoặc Chủ tịch
Hội đồng trọng tài có cùng quốc tịch với trọng tài viên đã làm nảy sinh ra một vấn đề:
liệu quốc tịch của trọng tài viên có ảnh hưởng đến sự độc lập, vô tư của trọng tài viên
hay không? Vấn đề này đã được nêu ra trong Điều 11.1 Luật mẫu UNCITRAL:
“Không ai bị cản trở để trở thành trọng tài viên vì lý do quốc tịch nếu các bên không
có thỏa thuận khác”. Tuy nhiên, trên thực tế, nhằm tránh những nghi ngờ không đáng
có của các bên, hầu hết các tổ chức trọng tài đều quy định trọng tài viên duy nhất hoặc
chủ tịch hội đồng trọng tài nên có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên tranh chấp.
Chẳng hạn, Điều 9.5 Quy tắc Trọng tài ICC quy định: “Trọng tài viên duy nhất hoặc
chủ tịch hội đồng trọng tài sẽ có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên” hay Điều
6.4 Quy tắc trọng tài UNCITRAL 1976 chỉ rõ: “Trong quá trình chỉ định, cơ quan có
thẩm quyền chỉ định phải cân nhắc để đảm bảo chỉ định được một trọng trọng tài viên
khách quan và độc lập và sẽ xét tới khả năng chỉ định một trọng tài viên có quốc tịch
khác với quốc tịch của các bên”.
Thực tiễn cho thấy, có khá nhiều thỏa thuận trọng tài đã bị tuyên bố vô hiệu vì
không đảm bảo nguyên tắc này. Vì vậy, trong quá trình trọng tài, nếu thấy có bất kì sự
việc nào có thể gây nghi ngờ về sự độc lập của mình, trọng tài viên phải có nghĩa vụ
báo với các bên; hoặc nếu các bên nhận thấy những yếu tố ảnh hưởng đến sự độc lập
phán quyết trọng tài vô hiệu theo đề nghị của một bên nếu thấy phán quyết của trọng
tài hoặc quá trình tố tụng có sự vi phạm pháp luật.
Với nguyên tắc này, phán quyết trọng tài sẽ nhanh chóng được thực thi, tránh tình
trạng bên phải thực hiện nghĩa vụ cố tình kéo dài thời gian thi hành đồng thời giúp bên
kia có thể sớm khắc phục thiệt hại về tiền, tài sản do bên vi phạm gây ra.
15
Như vậy, có thể nhận thấy, trọng tài đang ngày càng phát huy được những lợi thế
và ngày càng thể hiện được tính ưu việt của mình: tốc độ giải quyết tranh chấp nhanh
chóng, tính trung lập đối với trọng tài viên và các bên tranh chấp, tính bí mật trong
xét xử, tính chung thẩm trong phán quyết của trọng tài và cuối cùng là tính chuyên
nghiệp của trọng tài viên trong từng lĩnh vực. Những nguyên tắc giải quyết tranh
chấp mà pháp luật trọng tài nêu trên đã giúp các bên đương sự giải quyết tranh chấp
một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả; đảm bảo tốt nhất nhu cầu về một cơ chế
giải quyết tối ưu cho các doanh nghiệp.
1.4. Phân loại trọng tài thƣơng mại quốc tế
1.4.1. Trọng tài thƣờng trực
Trọng tài thường trực là một giải pháp trọng tài được quản lý bởi một tổ chức
trọng tài nhất định và tuân theo những quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài đó [41].
Trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới nhiều hình thức: các
trung tâm trọng tài (Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông, Việt Nam), các hiệp hội
trọng tài (Hiệp hội Trọng tài Nhật Bản, Hoa Kỳ) hay các viện trọng tài (Viện Trọng tài
Stockholm -Thụy Điển) nhưng chủ yếu được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.
a. Ưu điểm của trọng tài thường trực
Thứ nhất: Mỗi tổ chức trọng tài thường trực đều lập ra một bộ quy tắc trọng tài
của riêng mình. Bộ quy tắc này độc lập và tương đối ổn định. Tuy nhiên, trong quá
trình tố tụng, có thể xảy ra một số trường hợp không mong muốn, ví dụ: trong trường
hợp một bên tranh chấp từ chối lựa chọn trọng tài viên của mình, bộ quy tắc cho phép
Trọng tài ad-hoc là một phương thức trọng tài được quản lý theo những quy tắc
trọng tài do chính các bên tham gia trọng tài xây dựng nên [41, tr.44]. Trong phương
thức trọng tài này, các bên được tự do thỏa thuận về các quy tắc tố tụng: địa điểm trọng
tài, ngôn ngữ trọng tài, cách thức bổ nhiệm trọng tài viên… mà không bị điều khiển bởi
bộ quy tắc nào.
a. Ưu điểm của trọng tài ad-hoc
Phương thức này đáp ứng được mong muốn, nguyện vọng của các bên và phù
hợp với thực tiễn của tranh chấp vì các bên được thỏa thuận về quy tắc tố tụng theo ý
chí của mình. Ngoài ra, trọng tài ad-hoc giúp tiết kiệm thời gian (có thể rút ngắn các
thủ tục tố tụng), tiết kiệm chi phí (chi phí cho dịch vụ hành chính) hơn trọng tài thường
trực.
17
b. Nhược điểm của trọng tài ad-hoc
Thứ nhất: vì các bên không bị ràng buộc bởi một quy tắc tố tụng nào, nên nếu
một bên không có thiện chí hợp tác giải quyết tranh chấp thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong quá trình tố tụng.
Thứ hai: thủ tục tố tụng do các bên tự thỏa thuận, vì vậy nếu các bên không có
những kiến thức cơ bản về tố tụng trọng tài thì rất dễ gây ra sơ suất dẫn đến việc phán
quyết bị tuyên bố vô hiệu hoặc hủy phán quyết trọng tài. Đồng thời, vì không có cơ
quan nào giám sát quá trình tố tụng nên phán quyết mà trọng tài đưa ra phụ thuộc hoàn
toàn vào trình độ của trọng tài viên.
Thứ ba: vì trọng tài ad-hoc không có biểu phí cụ thể nên chi phí hoàn toàn do các
bên trực tiếp thỏa thuận với trọng tài viên. Các bên có thể thỏa thuận mức thù lao theo
giờ và kết quả là tổng chi phí cuối cùng phải trả có thể cao hơn chi phí nếu giải quyết
tại một trung tâm trọng tài theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực.
Như vậy, cả hình thức trọng tài thường trực và hình thức trọng tài ad-hoc đều có
những ưu điểm và còn tồn tại những nhược điểm riêng. Vì vậy, các bên tranh chấp cần
Anh, Đức, Trung Quốc, Mỹ… khi ban hành luật về trọng tài đều mở rộng phạm vi
thẩm quyền cho trọng tài, theo đó, trọng tài còn có thể giải quyết các tranh chấp về
lao động và dân sự khác trừ tranh chấp bắt nguồn từ quan hệ liên quan đến lợi ích và
trật tự công.
2.1.2. Thẩm quyền theo thỏa thuận trọng tài
Như đã nói ở mục 1.3.1, Luật mẫu UNCITRAL định nghĩa về thỏa thuận trọng tài
tại Điều 7.1 như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài
mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định,
dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng. Thỏa thuận trọng tài có
thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa
thuận tiêng”. Thỏa thuận trọng tài là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác định thẩm
quyền của trọng tài. Không có thỏa thuận trọng tài thì sẽ không xuất hiện thẩm quyền
của trọng tài. Việc các bên thiết lập thỏa thuận trọng tài nghĩa là họ đã trao cho hội
đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp và tòa án không có thẩm quyền giải
19
quyết tranh chấp đó trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không thể thực hiện được hoặc
bị hủy bỏ bởi chính các bên. Luật mẫu UNCITRAL quy định tại Điều 8.1 như sau:
“Tòa án khi nhận được đơn kiện về một vấn đề tranh chấp thuộc đối tượng của một
thỏa thuận trọng tài, sẽ đưa các bên tới trọng tài nếu một bên yêu cầu như vậy vào thời
điểm không muộn hơn khi bên đó đệ trình bản tường trình đầu tiên của mình về nội
dung tranh chấp trừ khi tòa án nhận định rằng thỏa thuận đó là vô hiệu và không có
hiệu lực, không có hiệu quả hoặc không có khả năng thực hiện”.
Tương tự, Điều 6 Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010 chỉ rõ: “Trong
trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại tòa
án thì tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa
thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
Thẩm quyền của trọng tài đối với một tranh chấp được xác định dựa trên ba yếu
tố: năng lực chủ thể lập thỏa thuận trọng tài, hình thức của thỏa thuận trọng tài và khả
thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”.
Một câu hỏi được đặt ra tiếp theo đó là: hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài có
phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chứa đựng nó hay không. Hầu hết pháp luật các
nước đều quy định thỏa thuận trọng tài “độc lập” và “tách biệt” với những điều khoản
còn lại của hợp đồng, vì vậy, hội đồng trọng tài vẫn có thẩm quyền quyết định quyền
và nghĩa vụ tương ứng của các bên và giải quyết khiếu kiện và yêu cầu của họ, mặc dù
hợp đồng có thể không tồn tại hoặc vô hiệu. Phòng thương mại quốc tế ICC là tổ chức
đầu tiên ghi nhận nguyên tắc về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài vào năm 1955:
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, hội đồng trọng tài sẽ không dừng quyền tài phán
của mình trên cơ sở bất kì tuyên bố nào cho rằng hợp đồng không còn hiệu lực hoặc
viện cớ hợp đồng không tồn tại, nhằm làm cho hội đồng trọng tài tuyên bố thỏa thuận
trọng tài là vô hiệu. Hội đồng trọng tài sẽ tiếp tục có thẩm quyền xác định quyền tương
ứng của các bên, phân xử các yêu cầu và lời tự biện hộ, dù cho bản thân hợp đồng có
thể không tồn tại hoặc không còn hiệu lực” (Điều 6.4 Quy tắc ICC 1998). Tương tự,
Trọng tài Brazil 1996 quy định: “Điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng chứa
đựng nó, có nghĩa rằng sự vô hiệu của hợp đồng không ám chỉ tới sự vô hiệu của điều
khoản trọng tài”.
21
Về khả năng giải quyết bằng trọng tài: trọng tài có thể bị giới hạn phạm vi xét
xử trong những quan hệ hợp đồng, cũng có thể không bị giới hạn với bất kỳ tranh chấp
thương mại nào dù có hợp đồng hay không. Ví dụ, Quy tắc Trọng tài UNCITRAL
1976 đã giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong phạm vi các quan hệ hợp đồng, việc
sử dụng Bộ quy tắc này với những tranh chấp ngoài hợp đồng là không được phép
(Điều 1.1). Trong khi đó, đa số các pháp luật các nước cũng như pháp luật và tập quán
trọng tài quốc tế đều cho phép giải quyết bằng trọng tài các tranh chấp dù có hợp đồng
hay không: Luật Trọng tài Đức, Canada, Quy tắc Trọng tài ICC, LCIA…
Ngày nay, pháp luật các nước còn cho phép trọng tài có khả năng giải quyết các
cho thi hành quyết định trọng tài.
Nhìn chung, việc xác định luật áp dụng trong tố tụng trọng tài bị chi phối bởi
nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên và nguyên tắc nơi tọa lạc của trọng tài [32,
tr.4].
Thứ nhất: nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên tranh chấp
Trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, trọng tài
của đa số các nước đều dành quyền lựa chọn luật điều chỉnh tố tụng trọng tài cho các
bên tranh chấp. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì hội đồng trọng tài
sẽ quyết định. Quy định này dựa trên nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 19.1 Luật mẫu
UNCITRAL: “Theo quy định của luật này, các bên được tự do thỏa thuận về tố tụng
mà hội đồng trọng tài phải thực hiện khi tiến hành tố tụng”. Trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận thì “hội đồng trọng tài có thể, theo quy định của luật này, tiến
hành trọng tài theo cách thức mà hội đồng trọng tài cho là thích hợp” (Điều 19.2 Luật
mẫu UNCITRAL). Tương tự, Luật Trọng tài Anh tại Điều 34.1 quy định: “Dành cho
Hội đồng trọng tài quyền quyết định mọi vấn đề về thủ tục tố tụng và chứng cứ, trên cơ
sở tuân thủ theo quyền của các bên về việc được thỏa thuận bất cứ vấn đề nào”.
Tuy nhiên, do đặc thù của hai hình thức trọng tài thương mại quốc tế là trọng tài
thường trực và trọng tài ad-hoc khác nhau nên thỏa thuận chọn luật áp dụng đối với tố
tụng trọng tài của các bên cũng có sự khác biệt. Nếu các bên đưa tranh chấp của mình
ra trước một tổ chức trọng tài có nghĩa là chấp nhận quy tắc tố tụng của tổ chức này.
Còn nếu các bên áp dụng hình thức trọng tài vụ việc thì trọng tài phải tuân theo thủ tục
mà các bên đã thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không quy định rõ quá trình trọng
23