các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO - Pdf 21

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến Tổ bộ môn Luật Thương
Mại Quốc Tế - Trường Đại học Luật Hà Nội đã dạy dỗ em kiến thức
và tạo cơ hội cho em được thực hiện đề tài khóa luận môn Thương Mại
Quốc Tế.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình tới thầy: PGS-
TS Nông Quốc Bình người thầy đáng kính đã tận tình chỉ dạy và giúp
dỡ em trong suốt quá trình em hoàn thành bài Khóa luận này. Em kính
chúc thầy luôn luôn mạnh khỏe!
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy các cô luôn luôn mạnh
khỏe!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á
APEC : Diễn Đàn Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương
DSB : Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
DSU : Bản ghi nhớ các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải
quyết tranh chấp của WTO
GATT 1947 : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947
NT : Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
MFN : Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
UN : Liên hợp quốc
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Phương pháp nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của luận văn 2
4. Kết cấu đề tài 2
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT

CHẤP CỦA WTO 29
1. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO 29
2. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật Việt Nam
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
31
2.1. Các biện pháp về pháp luật 31
2.2. Các biện pháp thực tiễn 34
Kết luận chương 3 36
KẾT LUẬN 37
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập hóa nền kinh tế quốc tế là xu thể tất yếu hiện
nay, theo với xu thế đó của thế giới Việt Nam cũng đang từng bước đổi mới
và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Cụ thể hóa điều này tại đại hội Đảng
lần thứ X đã khẳng định: “Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy
đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương…khai thác
có hiệu quả các cơ hội và giám sát tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta
gia nhập WTO”.
Thực hiện chủ trương này đất nước ta đã và đang tích cực hội nhập vào
sân chơi khu vực và quốc tế. Việt Nam đã là thành viên của ASEAN, Diễn
đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) và năm 2007 Việt Nam đã
chính thức trở thành thành viên của WTO tổ chức Thương mại Thế giới.
Gia nhập WTO đã mang lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát triển
như: Nguồn viện trợ, hỗ trợ, nguồn vốn đầu tư…nhưng cũng mang lại cho
chúng ta rất nhiều thử thách. Một khi đã tham gia sân chơi quốc tế ắt sẽ không
tránh khỏi sự tranh chấp quốc tế. Hiện nay, cách giải quyết đang được xem là
có hiệu quả đó chính là sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Để có
thể tham gia sân chơi này thì việc tìm hiểu nghiên cứu các quy tắc, quy định
của WTO là điều vô cùng cần thiết. Mặt khác, Việt Nam là một nước đang

Làm căn cứ cho quá trình hoạch định chính sách và pháp luật, cũng như biện
pháp để có thể chủ động giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết của
WTO.
4. Kết cấu đề tài
Bài Khóa luận của em ngoài phần mở đầu và kết luận thì trong phần nội
dung có 3 chương như sau:
2
Chương 1: Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Chương 2: Quy định của WTO về vấn đề giải quyết tranh chấp đối với
các nước đang phát triển.
Chương 3: Việt Nam với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
1. Một số khái niện cơ bản
1.1. Tranh chấp thương mại quốc tế
Tranh chấp là một hiện tượng khách quan, nó tồn tại mang tính chất tất
yếu cùng với quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người. Khi xã
hội càng phát triển thì các tranh chấp phát sinh cũng nhiều hơn, đa dạng và
phức tạp hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản 1998 thì: “Tranh chấp là đấu
tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa
các bên”[ 7 ]. Theo Từ điển Luật học Black Law Dictionary thì: “Tranh chấp
là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về các
yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận
trái ngược từ bên kia”. Từ đây ta có thể hiểu: Tranh chấp là sự bất đồng về
quyền lợi, lợi ích, quan điểm mà trong đó yêu cầu hay đòi hỏi của một bên bị
bên kia từ chối hay khiếu nại lại.
Tuy nhiên, hiện nay với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,
thì các tranh chấp không chỉ giới hạn trong phạm vi của một quốc gia hay một

hiệp định và thỏa thuận của WTO, nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp
đã phát sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO
Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập ngày 1/1/1995 theo
hiệp định Maraket thành lập tổ chức thương mại thế giới, là kết quả của vòng
5
đàm phán Urugoay (1986 - 1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại 1947 (gọi tắt là GATT 1947). WTO ra đời là một bước
phát triển trong thương mại và pháp lý quốc tế. Với hệ thống các hiệp định và
thỏa thuận điều chỉnh quyền và nghĩa vụ thương mại giữa các thành viên.
Trước khi WTO ra đời, các tranh chấp giữa các nước thành viên của
GATT được giải quyết thông qua một cơ chế tham vấn và điều tra, được quy
định chủ yếu tại các Điều XXII và XXIII của GATT. Theo đó Điều XXII quy
định về thủ tục tham vấn giữa các bên liên quan đến việc thực thi GATT, đòi
hỏi hội đồng chung tham vấn cùng với mỗi thành viên trong các sự kiện tranh
chấp có liên quan đến bất kì một vấn đề nào ảnh hưởng đến hoạt động của
GATT và đưa ra sự quan tâm đặc biệt tới lời phản kháng của mỗi bên…Chỉ
trong trường hợp các bên không tự giải quyết được tranh chấp, Điều XXII
khoản 2 quy định rằng bản thân các bên kí kết phải với tư cách là tập thể để
giải quyết bất kì tranh chấp nào giữa các bên kí kết. Các tranh chấp được
chuyển đến Ban công tác (Working Party) gồm đại diện của tất cả các bên kí
kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp. Những Ban công tác này
thông báo trên cơ sở quyết định đồng thuận. Sau này Ban công tác bị thay thế
bởi Ban hội thẩm gồm từ 3-5 chuyên gia độc lập của các nước thành viên
GATT. Ban hội thẩm làm báo cáo gửi Hội đồng GATT và phải được tất cả
các nước thành viên GATT đồng ý thì báo cáo mới được thông qua (nguyên tắc
đồng thuận tuyệt đối).
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT mặc dù có nhiều ưu việt trong

quan trọng vào năm 1989, các thành viên WTO đã thỏa thuận một số quy
định về cải thiện chế định giải quyết tranh chấp thương mại theo hướng:
- Thừa nhận quyền của Panels trong tố tụng
- Thông qua gần như là tự động (the Quasi-automatic adoption) các vấn
đề như yêu cầu thành lập Panels, Báo cáo giải quyết tranh chấp và các
yêu cầu cho phép dừng thực thi nhượng bộ.
7
- Quy định khung thời hạn chặt chẽ về các giai đoạn, các bước khác nhau
của quy trình giải quyết tranh chấp.
- Có khả năng xử phúc thẩm lại Báo cáo của Panels.
Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp, được thông
qua tại vòng đàm phán Urugoay, đã cho ra đời một cơ chế giải quyết tranh
chấp có hiệu quả hơn hẳn những cơ chế cũ. Ngoài Thỏa thuận về các quy tắc
và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)-Phụ lục 2 hiệp định
Marrakesh thành lập WTO cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn có một
số quy định được quy định ở một số văn bản khác như:
- Điều XXII và XXIII GATT 1947(Điều 3.1 DSU)
- Các quy tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh
chấp tại các hiệp định trong khuôn khổ WTO (Chẳng hạn như: Điều
11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch thực vật; Điều 17.4 đến
17.7 GATT 1994…)
- Quyết định về các thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt GATT 1966
bao gồm các quy tắc áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp giữa một nước
kém phát triển và một nước phát triển (Điều 3.12 DSU), và các thủ tục đặc
biệt áp dụng cho tranh chấp có một bên là nước kém phát triển nhất.
Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là: “Nhằm đạt
được một giải pháp tích cực cho tranh chấp và ưu tiên những giải pháp được
các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên
quan”[ 11 ]. Từ khi ra đời đến nay cơ chế giải quyết tranh chấp mới này đã
cho thấy ưu thế của mình trong việc giải quyết hiệu quả các tranh chấp giữa

nhau về tiềm lực. Nguyên tắc bình đẳng cũng chi phối hoạt động của các cơ
quan giải quyết tranh chấp, thành viên của các cơ quan này đưa ra ý kiến,
quan điểm về các vấn đề cần giải quyết, không thiên vị hay phụ thuộc bất kì
nước nào hay tổ chức nào.
9
Thứ hai, là nguyên tắc bí mật. Nguyên tắc này thể hiện trong các cuộc
họp của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công
khai, chỉ mời tham dự khi cần thiết. Như vậy, nội dung của các cuộc họp này
là bí mật đối với các nước thành viên khác. Nội dung tham vấn giữa các thành
viên tranh chấp không được thông báo cho bất kì bên thứ ba nào. Trong việc
giải quyết tranh chấp, nếu các bên không công khai các thông tin thì các thông
tin vụ tranh chấp hoàn toàn bí mật đối với bên thứ ba…
Thứ ba, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Mọi quyết định của các cơ
quan giải quyết tranh chấp của WTO đều dựa trên nguyên tắc đồng thuận phủ
quyết. Điều này có ý nghĩa là, chỉ khi tất cả thành viên bỏ phiếu chống thì
quyết định đó mới không được thông qua. Do vậy các quyết định giải quyết
tranh chấp của WTO thường được thông qua một cách tự động. Điều này có ý
nghĩ lớn cho các phán quyết của WTO.
Thứ tư, nguyên tắc đối xử ưu đãi với các thành viên đang phát triển và
chậm phát triển. Sự ưu đãi này thể hiện qua sự hỗ trợ về mặt pháp lý cho các
nước này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp
và tình hình kinh tế của các nước này được chú ý trong quá trình giải quyết
tranh chấp. Nguyên tắc này thể hiện sự quan tâm của WTO đối với các nước
có tiềm lực kinh tế yếu, để cho các nước này có thể tham gia vào cơ chế này.
Như vậy khi giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO thì các bên phải tuân theo đầy đủ các nguyên tắc chung và cả các
nguyên tắc riêng điều chỉnh.
2.3. Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO
2.3.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
a. Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)

quan hỗ trợ giải quyết tranh chấp. Tổng giám đốc WTO, trong phạm vi khả
11
năng của mình, đưa ra sáng kiến về việc sẽ làm người môi giới, người hòa
giải hoặc trung gian nhằm giúp các thành viên giải quyết tranh chấp (Điều 5.6
DSU, 24.2 DSU, 21.3 DSU…).
Ban thư kí WTO có trách nhiệm giúp Ban hội thẩm đặc biệt về các khía
cạnh pháp lý, lịch sử và thủ tục của các vấn đề đang được xử lý, và hỗ trợ kĩ
thuật cũng như công việc thư ký. Ngoài ra Ban thư ký còn có nhiệm vụ giúp
đỡ các bên tranh chấp về mặt pháp lý, đặc biệt là các nước đang phát triển.
b. Ban hội thẩm
Ban hội thẩm do DSB thành lập theo thủ tục quy định tại điều 6 và Điều
9.1 DSU. Thành phần Ban hội thẩm được quy định tại Điều 8.5 DSU. Ban hội
thẩm bao gồm ba hội thẩm viên, trừ khi các bên tranh chấp thỏa thuận một
ban hội thẩm gồm năm thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể bị
tranh chấp trên cơ sở các quy định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn.
Các hội thẩm viên sẽ được chọn lựa nhằm đảm bảo sự độc lập của Ban hội
thẩm, có kiến thức, phạm vi kinh nghiệm rộng. Họ được lựa chọn trong số các
quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ, không có quốc tịch
của một bên tranh chấp hoặc của một nước cùng là thành viên trong một liên
minh thuế quan hoặc thị trường chung với một trong các nước tranh chấp.
Chức năng của Ban hội thẩm là hỗ trợ DSB trong việc giải quyết tranh
chấp. Ban hội thẩm sẽ là người đánh giá một cách khách quan về các vấn đề
tranh chấp, tiến hành điều tra, tham vấn đối với các bên tranh chấp. Trên thực
tế thì đây là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp, mặc dù không nắm quyền
quyết định. Bởi vì kết quả làm việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình lên
DSB. Báo cáo này được DSB thông qua thì được coi là phán quyết có hiệu
lực pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp
c. Cơ quan phúc thẩm
Cơ quan phúc thẩm là cơ quan thường trực của DSB đây là một thiết chế
mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này gồm 7 thành

Nhóm chuyên gia mà sử dụng đến các Chuyên gia. Các Chuyên gia này sẽ
hoạt động trên cơ sở cá nhân. Có trường hợp Ban hội thẩm tìm kiếm thông tin
và tư vấn của Chuyên gia là sự hỗ trợ không bắt buộc, nhưng có những trường
hợp Ban hội thẩm phải bắt buộc lấy ý kiến của Chuyên gia như: Khi giải
quyết tranh chấp liên quan đến hiệp định: Điều 11.2 trong hiệp định về các
biện pháp kiểm định dịch động vật; Điều 14.2 và 14.3 và phụ lục II trong
Hiệp định về việc thực hiện Điều VII của GATT 1947; Điều 4.5 và 24.3 Hiệp
định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (hiệp định SCM).
2.3.2. Các bên tranh chấp và bên thứ ba
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chỉ mang tính chất nội bộ của
WTO. Điều này có nghĩa là việc tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO chỉ giới hạn đối với các thành viên của WTO. Nó không cho phép các
chủ thể không phải là thành viên của WTO tham gia. Chỉ có các thành viên
WTO mới có thể trở thành một bên trong vụ tranh chấp, hoặc là bên thứ ba
(bên thông báo cho cơ quan DSB là họ có lợi ích liên quan đến vụ tranh chấp
đó).
Các chủ thể không phải là thành viên của WTO có thể đệ trình ý kiến
ngắn của mình cho Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm về việc có sự vi
phạm hay có lợi ích bị xâm phạm theo hình thức Amicus Curiae (tiếng la tinh
là bạn của tòa án). Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm có quyền nhận hoặc
không nhận ý kiến ngắn này. Tức là ý kiến này chỉ mang tính chất thông báo
cho biết về sự vi phạm hay lợi ích bị xâm phạm chứ các cơ quan này không
có trách nhiệm giải quyết vì ý kiến này không phải của các bên hoặc bên thứ
ba.
2.4. Phạm vi đối tượng tranh chấp
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xem là hiệu quả nhất đối
với các tranh chấp quốc tế hiện nay, nhưng không phải tranh chấp nào cũng
có thể áp dụng cơ chế giải quyết này. Các tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết
14
tranh chấp của WTO phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể và nội dung

áp dụng các biện pháp trả đũa nếu như bên thua kiện không thực thi phán
quyết.
Tham vấn được xem là bước đầu tiên của quá trình giải quyết tranh chấp
theo cơ chế của WTO, nhưng trước đó các bên có thể thương lượng, trung
gian hay hòa giải. Tham vấn cũng được xem là một bước để cho các bên gặp
gỡ để trao đổi, tháo gỡ bất đồng giống thương lượng, trung gian hay hòa giải
chứ không phải là xét xử nhưng có khác đó là do WTO tiến hành. Trước hết
bên khiếu nại phải đưa ra yêu cầu tham vấn bên kia, việc tham vấn được tiến
hành bí mật. Bên được đề nghị tham vấn phải trả lời trong vòng 10 ngày và
phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày kể từ khi được yêu cầu (trong
trường hợp khẩn cấp thì thời hạn là 10 và 20 ngày). Trong vòng 60 ngày mà
các cuộc tham vấn bắt buộc cũng không mang lại một giải pháp thỏa đáng cho
các bên và các bên không thể áp dụng các biện pháp hòa bình để khác giải
quyết tranh chấp thì khiếu kiện có thể được đề nghị xét xử thông qua Ban hội
thẩm. Bởi vì xét xử chỉ là cách thức cuối cùng khi không thể áp dụng biện
pháp giải quyết khác.
Giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, khi các bên không thể
giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, tham vấn hay trọng tài thì
các bên có quyền đưa tranh chấp đó lên DSB. Cơ quan này ra quyết định
thành lập Ban hội thẩm để nghiên cứu đánh giá toàn bộ nội dung vụ tranh
chấp. Từ đó Ban hội thẩm sẽ đưa ra ý kiến và đệ trình lên DSB để thông qua.
Ban hội thẩm sẽ được thành lập trong trường hợp: Sau 60 ngày kể từ khi bên
bị kiện nhận được đề nghị tham vấn hoặc bên khiếu kiện không tôn trọng thời
hạn trả lời đề nghị tham vấn hoặc các bên cảm thấy rằng tham vấn không giải
quyết được tranh chấp. Đề nghị thành lập Ban hội thẩm mở đầu cho quá trình
16
xét xử vụ tranh chấp. Đề nghị thành lập Ban hội thẩm phải được trình trước
cuộc họp của DSB ít nhất là 11 ngày. Ban hội thẩm phải bắt đầu công việc
giải quyết tranh chấp chậm nhất là một tuần sau khi thành lập và hoàn thành
công việc trong vòng 6 tháng hoặc trong trường hợp khẩn cấp là 3 tháng và có

nhằm buộc bên vi phạm phải tuân thủ quy định của WTO (yêu cầu bị đơn rút
lại hoặc sửa đổi các biện pháp liên quan) và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt
buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó. Trường hợp khiếu kiện không
vi phạm, bên thua kiện không phải rút lại biện pháp liên quan (vì không có vi
phạm) nhưng Báo cáo có thể khuyến nghị bên thua kiện thực hiện các dàn xếp
nhất định để thỏa mãn các bên liên quan (Báo cáo có thể đưa ra những gợi ý
về biện pháp dàn xếp thỏa đáng…)
Giai đoạn thực thi phán quyết, quyết định giải quyết tranh chấp của DSB
được đưa ra các bên có nghĩa vụ thực hiện. Bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ
các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp mà Ban hội thẩm kết luận
là vi phạm điều khoản trong các hiệp định của WTO. Trong cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO có một cơ chế theo dõi và giám sát việc thực hiện quyết
định. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày có quyết định của DSB bên thua kiện
phải thông báo cho DSB biết những biện pháp mà nước này dự định áp dụng
để thực hiện khuyến nghị của Ban hội thẩm. DSB có thể cho phép nước này
được thực hiện trong thời gian hợp lý (thời hạn này do DSB quyết định trên
cơ sở đề nghị của các bên hoặc do các bên tranh chấp thỏa thuận trong thời
hạn 45 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị; hoặc theo phán quyết của
Trọng tài tiến hành trong vòng 90 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị).
Nếu như bên thua kiện vẫn không thể thực hiện khuyến nghị trong thời gian
đó, thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi
thường thiệt hại. Nếu sau 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn hợp lý các
bên không đạt được thỏa thuận về mức bồi thường thì bên thắng kiện có thể
18
yêu cầu DSB cho phép trả đũa. Biện pháp trả đũa là một phần nằm trong thực
thi phán quyết nó được áp dụng cho đến khi có một giải pháp hợp lý cho tranh
chấp. WTO nghiêm cấm việc trả đũa đơn phương mà không có sự chấp thuận
của cơ quan này. Mức độ và thời hạn trả đũa do cơ quan giải quyết tranh chấp
DSB quyết định căn cứ trên thủ tục quy định về các vấn đề này trong Quy tắc
giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO.

Trong giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, DSU quy định
khi xảy ra tranh chấp giữa một thành viên phát triển và một thành viên đang
phát triển, nếu có yêu cầu của nước đang phát triển thì ban hội thẩm sẽ có ít
nhất một thành viên đến từ nước đang phát triển (Điều 8.10 DSU). Điều này
thể hiện nếu trong vụ tranh chấp có một bên là nước phát triển và một bên là
20
một nước đang phát triển thì thành viên của Ban hội thẩm sẽ có ít nhất là một
nước đang phát triển. Vì nước phát triển có thể hiểu được tình hình cũng như
có thể đặt vị trí của mình vào vị trí của nước đang phát triển là một bên
tranh chấp.
Trong khi xem xét đơn kiện đối với một thành viên đang phát triển, Ban
hội thẩm sẽ tạo đủ thời gian cho thành viên đang phát triển chuẩn bị và trình
bày lập luận của mình. Tuy nhiên, việc này không được làm ảnh hưởng đến
toàn bộ thời gian dành cho Ban hội thẩm để hoàn tất quá trình giải quyết tranh
chấp (Điều 12.10 DSU).
Khi một bên tranh chấp là nước đang phát triển viện dẫn quy định về đối
xử đặc biệt và phân biệt trong các hiệp định của WTO, Ban hội thẩm chỉ ra
một cách rõ ràng trong báo cáo của mình (Điều 12.11 DSU).
Trong giai đoạn thực thi, việc giám sát thực hiện các khuyến nghị và
phán quyết cần đặc biệt chú ý đến các vấn đề đã và đang là nội dung của vụ
tranh chấp ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên là các nước đang
phát triển (Điều 21.2 DSU). Nếu vấn đề được thành viên đang phát triển đưa
ra, thì DSB phải xem xét để có hành động tiếp theo phù hợp với các tình tiết
(Điều 21.7 DSU). Nếu tranh chấp do thành viên đang phát triển đưa ra, thì khi
cân nhắc biện pháp thích hợp có thể được áp dụng thì DSB không chỉ cân
nhắc phạm vi áp dụng về thương mại của các biện pháp bị khiếu nại. Mà có
cả những ảnh hưởng của chúng tới nền kinh tế của các nước thành viên đang
phát triển có liên quan (Điều 21.8 DSU).
Thủ tục đặc biệt theo yêu cầu của một nước đang phát triển Điều 3.12
DSU quy định: “Nếu một đơn kiện dựa trên bất kì một hiệp định có liên quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status