A- Đề cương bài làm.
I. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO
2. Cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp của WTO
3. Cơ cấu tổ chức hoạt động
4. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO
5. Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện
pháp trả đũa
6. Quy tắc ứng xử của WTO cho Bản ghi nhớ về Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh
việc Giải quyết Tranh chấp
II. ỨNG XỬ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI CƠ CHẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
1. Ứng xử của các nước phát triển và đang phát triển đối với cơ chế giải quyết
tranh chấp của GATT
2. Sự thay đổi chế độ áp dụng đối với các nước đang phát triển trong cơ chế
giải quyết tranh chấp của WTO
3. Khó khăn của các nước đang phát triển khi tham gia vào cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO
III. HIỆU QUẢ CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
1. Ưu điểm
2. Nhược điểm
IV. XEM XÉT CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO VÀO VỤ
KIỆN TÔM ĐÔNG LẠNH CỦA VIỆT NAM
1. Những vấn đề khởi kiện của Việt Nam
2. Quá trình theo kiện của Việt Nam trong vụ kiện tôm đông lạnh
B- Bài làm chi tiết.
I. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng các quan hệ kinh tế - thương mại quốc
tế, cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức thương mại quốc tế WTO
cũng đã được thiết lập với mục đích lớn nhất là đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc
các qui định trong các Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp
không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các
hiệp định của WTO hay không. Lợi dụng sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên
phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như
điều khoản Super 301 trong luật thương mại Mỹ hoặc quy định 384/96 của Hội đồng châu
Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác.
2. Cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp của WTO
Trên cơ sở các quy định rời rạc về giải quyết tranh chấp trong GATT, WTO đã
thành công trong việc thiết lập một cơ chế pháp lí đầy đủ, chi tiết trong một văn bản thống
nhất là Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)
– Phụ lục 2 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, để giải quyết tranh chấp thương mại
giữa các thành viên WTO (bao gồm các quốc gia có chủ quyền và những lãnh thổ thuế
quan riêng biệt).
Ngoài những quy định mới về giải quyết tranh chấp trong DSU, cơ chế này cũng đã
viện dẫn đến một số điều khoản của GATT, đó là:
- Điều XXII và XXIII GATT 1947 (Điều 3.1 DSU)
- Các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp tại các
Hiệp định trong khuôn khổ WTO (Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch
Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT 1994…)
- “Quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt” GATT 1966: bao gồm
các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp giữa một nước kém phát triển và
một nước phát triển (Điều 3.12 DSU) và các thủ tục đặc biệt áp dụng cho tranh chấp có
một bên là nước kém phát triển nhất (Điều 2.4 DSU)
3
3. Cơ cấu tổ chức hoạt động
3.1. Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body-DSB)
-Thành phần: Cơ quan này thực chất là Đại hội đồng WTO, bao gồm đại diện của
tất cả các quốc gia thành viên., nhưng chỉ những chính phủ là thành viên của một hiệp định
đa biên cụ thể mới có thể tham gia vào các quyết định của DSB liên quan đến hiệp định cụ
thể đó
-Thẩm quyền: DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của
những vấn đề kỹ thuật (Điều 13). Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các
bên tranh chấp tự thương lượng với nhau cho đến khi ban hội thẩm đệ trình báo cáo lên
DSB tối đa không quá 1 năm. Trong đó, thời gian kể từ thời điểm thành lập ban hội thẩm
cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá 6 tháng. Báo cáo của ban hội thẩm sẽ được
gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng 6 tháng, trong trường hợp tranh chấp liên quan
đến những hàng hóa dễ hư hỏng thì thời hạn là ba tháng, và gửi đến tất cả các thành viên
của WTO sau đó 3 tuần. Sau 60 ngày, báo cáo của ban hội thẩm sẽ tự động trở thành quyết
định của DSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai
bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo.
3.3. Cơ quan phúc thẩm thường trực (SAB)
-Thành phần: (Điều 17 DSU) 7 thành viên, do cơ quan giải quyết tranh chấp bổ
nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, là những chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế có kinh
nghiệm lâu năm, uy tín và những nội dung của các hiệp định có liên quan nói chung, và họ
không được gắn kết với bất kỳ một chính phủ nào.
-Nhiệm vụ: Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO, đảm bảo tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của cơ
quan này cũng cho thấy rõ hơn tính chất xét xử của thủ tục giải quyết tranh chấp mới. Cơ
5
quan này có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” những kết luận và giải thích pháp
lý được đưa ra trong báo cáo của ban hội thẩm, theo đề nghị của một trong các bên tranh
chấp. Khi giải quyết vấn đề tranh chấp, SAB chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải
thích pháp luật trong Báo cáo của ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn
của tranh chấp. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập
ra một nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gồm 3 thành viên. Kết
quả làm việc của SAB là một báo cáo trong đó Cơ quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi
hoặc hủy bỏ hay đảo ngược lại các kết luận trong báo cáo của ban hội thẩm. Báo cáo của
Cơ quan Phúc thẩm được thông qua tại DSB và không thể bị phản đối hay khiếu nại tiếp.
4. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO
4.1. Trình tự giải quyết tranh chấp của WTO
Tham vấn (Điều 4 DSU)
mối quan hệ hòa hảo giữa các quốc gia và các thủ tục này đặc biệt được DSB khuyến khích
vì việc tìm ra được một giải pháp hợp lí thỏa mãn tất cả các bên tranh chấp còn được coi
trọng hơn cả việc đạt được một giải pháp phù hợp với các quy tắc thương mại trong Hiệp
định.
Thành lập ban hội thẩm (Điều 6 DSU)
Yêu cầu thành lập một ban hội thẩm phải được làm bằng văn bản, phải chỉ rõ đã
thực hiện tham vấn hay chưa, các biện pháp cụ thể nào đang có tranh chấp, cơ sở pháp lý
cụ thể của khiếu nại. Yêu cầu này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành
lập Ban hội thẩm. Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ quyết nên hầu như quyền được giải
quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo.
7
Khi có yêu cầu của một bên khiếu nại, một ban hội thẩm có thể được thành lập
muộn nhất là trong cuộc họp DSB kế tiếp cuộc họp mà trong đó yêu cầu lập ban hội thẩm
được đưa vào chương trình nghị sự của cuộc họp, trừ khi trong cuộc họp đó DSB đồng
thuận không lập ban hội thẩm. Nếu bên khiếu nại tiếp tục đưa yêu cầu thì một cuộc họp
của DSB phải được tổ chức vì mục đích này trong vòng 15 ngày kể từ khi có yêu cầu, với
điều kiện là thông báo cuộc họp được gửi trước ít nhất 10 ngày.
Hoạt động của Ban hội thẩm (Điều 12 DSU)
Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong
các Hiệp định của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của
mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp.
Về nghĩa vụ chứng minh của các bên: Theo tập quán hình thành từ GATT 1947,
trường hợp khiếu kiện có vi phạm thì bên bị đơn có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm
của mình không gây thiệt hại cho Bên nguyên đơn; trường hợp khiếu kiện không có vi
phạm thì bên nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh hành vi không vi phạm của Bên bị đơn
gây ra thiệt hại về lợi ích mà bên nguyên đơn đáng lẽ phải được hưởng theo qui định của
Hiệp định hoặc chứng minh sự cản trở đối với việc thực hiện một mục tiêu nhất định của
Hiệp định. Đối với việc chứng minh các vấn đề khác, mặc dù DSU không có qui định cụ
thể về việc này, một tập quán chung (vốn được áp dụng tại Toà án Quốc tế) đã được thừa
nhận khá rộng rãi trong khuôn khổ cơ chế này là bên tranh chấp đã đưa ra một chi tiết hoặc
này chỉ được coi là đã được DSB thông qua sau 20 ngày kể từ ngày gửi cho các thành viên
vì DSB không được xem xét các báo cáo này trong vòng 20 ngày kể từ ngày báo cáo được
gửi đến các thành viên. Các thành viên phản đối báo cáo phải gửi văn bản đưa ra lý do, giải
thích quan điểm của mình ít nhất 10 ngày trước cuộc họp DSB mà tại cuộc họp này báo
cáo của ban hội thẩm sẽ được xem xét. Trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi báo cáo của ban
hội thẩm cho các thành viên, báo cáo này phải được thông qua trừ khi một bên trong tranh
9
chấp chính thức thông báo cho DSB về quyết định kháng cáo của mình hoặc DSB quyết
định đồng thuận không thông qua báo cáo. Nếu một bên thông báo quyết định kháng cáo
của mình, báo cáo của ban hội thẩm sẽ không được DSB xem xét thông qua cho đến khi
hoàn tất việc kháng cáo.
Rà soát của cơ quan phúc thẩm (Điều 17 DSU)
Việc rà soát phúc thẩm được DSU đưa vào là một chức năng mới nhằm nhấn mạnh
“tính định hướng quy tắc” trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và làm đối trọng
với “cải cách thủ tục” đại diện bởi sự đồng thuận tiêu cực. Trên thực tế, với cơ chế đồng
thuận tiêu cực, các báo cáo của ban hội thẩm tự động được DSB thông qua trừ khi tất cả
các Thành viên WTO (nghĩa là cả các bên có tranh chấp) không nhất trí. Một bước hướng
tới “tư pháp hóa” hệ thống giải quyết tranh chấp cần có sự đảm bảo của một cơ quan có
thẩm quyền và đáng tin cậy đại diện cho “cấp độ thứ hai” của tư pháp và cho phép các
Thành viên WTO kháng cáo cơ sở pháp lý của các báo cáo của ban hội thẩm.
Chỉ các bên có tranh chấp chứ không phải các bên thứ ba mới có quyền kháng cáo
báo cáo của ban hội thẩm. Một kháng cáo phải giới hạn ở các vấn đề luật liên quan trong
báo cáo của ban hội thẩm và diễn giải pháp lý của ban hội thẩm. Theo thông lệ, Cơ quan
Phúc thẩm phải đưa ra kết luận trong vòng 60 ngày sau khi một bên có kháng cáo. Nếu cần
thiết, Cơ quan Phúc thẩm có thể gia hạn thêm 30 ngày, nhưng thủ tục này không bao giờ
được vượt quá 90 ngày. Các bên không được quyền phản đối bản báo cáo này. DSB phải
thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong vòng 30 ngày kể từ khi báo cáo được gửi,
trừ khi DSB đồng thuận không thông qua báo cáo này.
Khuyến nghị các giải pháp và giám sát thực hiện các giải pháp đó của ban
hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm thường trực (Điều 19 & 21 DSU)
11
thua kiện có thể dễ dàng cản trở phán quyết của ban hội thẩm hay yêu cầu trả đũa
(Tại GATT, việc trả đũa chỉ xảy ra một lần duy nhất). Hiện nay, phán quyết “vi
phạm” hay yêu cầu trả đũa đều không dễ dàng bị ngăn cản. Vì vậy, phía bị đơn, một
khi đã nhận được một bản tuyên án vi phạm, phải chấp nhận khả năng bị trả đũa đã
được WTO cho phép. Bên được phép trả đũa phải cân nhắc các yếu tố khác nhau
khi quyết định trả đũa, ít nhất phải cân nhắc các ảnh hưởng đến kinh doanh của
chính mình. Mối quan tâm rất thiết thực này cần được chú ý thậm chí là cả trong
một hoàn cảnh phi thực tế. Một nền kinh tế lớn với một thị trường nhập khẩu phong
phú có ý nghĩa quan trọng đối với phía bị đơn (ví dụ như nước Mỹ) khi đe doạ trả
đũa sẽ có tác dụng nhiều hơn so với một nền kinh tế nhỏ với những ngành nghề yếu
kém phụ thuộc vào hàng nhập khẩu.
• Sự thay đổi lớn thứ ba là việc đẩy nhanh tiến trình giải quyết tranh chấp với một
lịch trình thủ tục nghiêm ngặt của WTO trong khi các vụ kiện trong GATT có thể
kéo dài mãi do các bên dựa vào các thủ thuật trì hoãn thời hạn. Những lợi ích lớn
nhất có thể thấy rõ: tranh chấp được giải quyết càng nhanh thì bên thắng cuộc càng
đạt được nhiều lợi ích còn các công ty bị vi phạm sẽ có động lực lớn hơn để giải
quyết tranh chấp tại WTO và các công ty đang bào chữa cũng có động lực lớn hơn
để thừa nhận sai phạm của mình.
• Sự thay đổi thứ tư là sự bổ sung thủ tục kháng cáo. Cho dù cơ quan phúc thẩm
thường trực có vẻ như không gạt bỏ hoàn toàn những quyết định của ban hội thẩm,
thì việc sửa đổi từng phần vẫn thường diễn ra. Khi điều này được đưa ra, bên bị đơn
(với thất bại tại bước hội thẩm) chắc chắn sẽ kháng cáo để hy vọng một phán quyết
mềm dẻo hơn từ cơ quan phúc thẩm thường trực. Một minh chứng cho sự thay đổi
này là các bên đã sử dụng rất thường xuyên thủ tục kháng cáo. Trong số 78 quyết
định của ban Hội thẩm được đưa ra từ năm 1995 đến tháng 10/2003, đã có 53
trường hợp kháng cáo(chiếm 68%).
12