Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện công trình nghiên cứu, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình và vô cùng quý báu từ các thầy cô, gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, nghiêm túc và khoa
học của thầy giáo PGS.TS Hoàng Phước Hiệp.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học
Luật Hà Nội, các anh chị em học viên Cao học khoá XVII và các đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Học viên
Trần Thị Thu Trà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản Luận văn này, tác giả có tham
khảo một số bài viết, các tài liệu của các tác giả khác, các nguồn trích dẫn,
tham khảo đã được chỉ ra trong danh mục tài liệu tham khảo. Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của trường Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị trường Đại học Luật Hà Nội
xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Thu Trà
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỉ XX, thương mại quốc tế đã chuyển từ hệ thống chính trị
đa cực dựa trên sự liên kết giữa các quốc gia sang một hệ thống hợp tác về
mặt kinh tế mang tính chất khu vực với những nét đặc trưng riêng. Điều
không thể tránh khỏi của sự hợp tác tăng cường thông qua các thoả thuận

Hiệp định khung ASEAN về hợp tác về quyền sở hữu trí tuệ năm 1995, Hiệp
đinh cơ bản về hợp tác công nghiệp năm 1996,…). Cũng như trong các khối
thương mại khác, trước sự phát triển nhanh chóng của hoạt động hợp tác kinh
tế trong khuôn khổ ASEAN, yêu cầu thiết yếu cần phải xây dựng một cơ chế
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này một cách hiệu quả và
khả thi. Việc nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong
giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hợp tác giữa các quốc gia ASEAN ngày càng được mở rộng ở nhiều
lĩnh vực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là lĩnh vực thương mại
với mục tiêu nỗ lực hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN thành Cộng đồng
kinh tế vào năm 2020. Song song với điều đó là một loạt các tranh chấp phát
sinh từ việc giải thích, thực hiện hay áp dụng các hiệp định, thoả thuận được
ký kết song phương hoặc đa phương. Hiện nay, trong giáo trình luật quốc tế
của các cơ sở đào tạo luật chưa đề cập đến cơ chế giải quyết tranh chấp kinh
tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á cả về phương diện lý
luận và thực tiễn. Còn trong các công trình khoa học trên các tạp chí chuyên
ngành như Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,… đã đề cập tới
cơ chế trên tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu cơ
chế giải quyết tranh chấp nói chung của ASEAN chứ chưa nghiên cứu sâu cơ
chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế - thương mại của ASEAN.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn
a. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp
kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (sau đây gọi tắt
là cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN) xuất phát từ mô hình
ngoại giao là chủ yếu sang một hệ thống dựa trên các quy định pháp luật với
tham chiếu cụ thể là bối cảnh ASEAN. Từ đó có cơ sở khoa học để đánh giá

tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp lịch sử,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp liệt kê, phương
pháp tổng hợp,… Đặc biệt, các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa
học pháp lý như: phương pháp phân tích, phương pháp quy nạp và diễn dịch,
phương pháp so sánh,… được sử dụng chủ yếu trong luận văn.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ hơn sự phát triển
của cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN và pháp luật của
ASEAN về giải quyết tranh chấp thương mại, tạo cơ sở khoa học để làm rõ và
bước đầu hoàn thiện pháp luật quốc gia về giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế.
Về mặt thực tiễn, luận văn giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về cơ
chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN. Từ đó có những kiến thức
cơ bản về cơ chế này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của khu vực nói
chung và của Việt Nam nói riêng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế
- thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp
kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam để đáp ứng cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của
ASEAN
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á
1.1. TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ

bộ quy tắc chỉ đạo cho ra đời một cơ chế chung để giải quyết tranh chấp giữa
các quốc gia thành viên ASEAN. Tuy nhiên, với cơ chế quy định tại TAC thì
vai trò của ASEAN chưa thật sự trở thành “bánh xe chính” trong quá trình
giải quyết tranh chấp của khu vực.
Cùng với sự phát triển đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế quốc tế và
khu vực, số lượng các thoả thuận hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thành viên
ASEAN ngày càng nhiều. Đồng thời, các tranh chấp, bất đồng liên quan đến
việc áp dụng và thực thi các cam kết kinh tế thương mại trong khu vực ngày
càng gia tăng và làm nảy sinh nhu cầu xây dựng một cơ chế giải quyết một
cách hiệu quả các tranh chấp thương mại trong khu vực Đông Nam Á [18].
Sau khi thành lập Khu vực mậu dịch tự do AFTA, sự cần thiết phải có
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả trong khu vực trở nên
rõ ràng. Hiệp định CEFT-AFTA chỉ cung cấp cho các nước thành viên sự
tham khảo khi các nước thành viên đối mặt với sự khác biệt liên quan tới việc
giải thích hay áp dụng Hiệp định bởi trong nội dung của Hiệp định có rất ít
hướng dẫn cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh. Tại cuộc
họp lần thứ 3 vào tháng 12 năm 1992, các thành viên ASEAN đã đưa một cơ
chế giải quyết tranh chấp vào chương trình nghị sự của Hội đồng AFTA. Vào
năm 1995, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM kêu gọi tăng cường một số cơ
chế phối hợp hợp tác kinh tế ASEAN, đặc biệt liên quan đến các cam kết của
các thành viên ASEAN hướng tới việc thực hiện Hiệp định CEFT-AFTA.
Theo đó, các quyết định chính thức mang tính chất hợp tác được ban hành bởi
ASEAN đã được bổ sung bởi một cơ chế dựa trên các nguyên tắc pháp lý
nhiều hơn để đảm bảo tính minh bạch và bền vững của quá trình hợp tác kinh
tế khu vực. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thiết lập một cơ chế giải
quyết tranh chấp của ASEAN bằng việc ký kết thông qua Nghị định thư về cơ
chế giải quyết tranh chấp vào ngày 20 tháng 11 năm 1996 tại Manila
(Philippine) (sau đây gọi tắt là Nghị định thư năm 1996), đưa ra một cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN.
ASEAN được thành lập với nhiệm vụ bảo đảm hoà bình, an ninh và

việc mang lại một giải pháp mà mỗi bên tranh chấp sẽ lựa chọn để chấp nhận.
Nếu có bất đồng, các bên chỉ cần đặt vấn đề sang một bên và không đồng ý
với cách giải quyết đó. Thay vào đó, quá trình xét xử mới xác định các quyền
và nghĩa vụ của các bên tranh chấp. Cách tiếp cận này cho thấy quá trình giải
quyết tranh chấp là một quá trình xử lý mang tính kỷ luật cao mà Ban hội
thẩm thực hiện phán quyết một cách khách quan về hoạt động bất kỳ nào đó
của một số nước thành viên mà không phù hợp với việc áp dụng hiệp định.
Nghị định thư năm 2004 thay thế và xây dựng dựa trên Nghị định thư
năm 1996 cung cấp rất nhiều điều khoản quy định chi tiết về tư vấn, thủ tục
Ban hội thẩm, thảo luận. Đồng thời Nghị định thư năm 2004 cũng đưa ra
thêm thủ tục mới, chẳng hạn như tài liệu tham khảo về Ban hội thẩm, bên
khiếu nại, bên thứ ba và Cơ quan phúc thẩm. Thật vậy, việc thành lập Cơ
quan phúc thẩm là sự phát triển quan trọng nhất của Nghị định thư năm 2004.
Việc ký kết Nghị định thư năm 2004 về tăng cường giải quyết tranh
chấp thương mại đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường
thế chế của ASEAN và đây là bước mới nhất trong quá trình hợp pháp hoá
các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong ASEAN. Nghị định thư
2004 đồng thời cũng là một bước rất quan trọng để ASEAN tiến tới thành lập
một Cộng đồng kinh tế (AEC) vào năm 2020. Nghị định thư năm 2004 đánh
dấu giai đoạn cuối cùng của quá trình chuyển đổi từ cách thức giải quyết tranh
chấp thông qua con đường ngoại giao là chủ yếu sang cách thức giải quyết
tranh chấp thông qua con đường xét xử dựa trên các nguyên tắc pháp lý chặt
chẽ.
Ngày 20/11/2007 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử ASEAN
khi các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN tại Hội
nghị Cấp cao ASEAN-13 ở Singapore. Hiến chương ASEAN chính thức có
hiệu lực từ ngày 15/12/2008. Sự ra đời của Hiến chương ASEAN phản ánh sự
trưởng thành của Hiệp hội, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm mạnh mẽ của các
nước thành viên nhằm mục tiêu xây dựng một ASEAN hoà bình, ổn định và
phát triển với vị thế mới hơn, liên kết chặt chẽ hơn và ràng buộc pháp lý hơn.

2010.
Điều 22 Hiến chương ASEAN khẳng định ASEAN sẽ duy trì và thiết
lập các cơ chế giải quyết tranh chấp trong tất cả các lĩnh vực hợp tác của
ASEAN. Khi nói về “các lĩnh vực hợp tác của ASEAN”, người ta có thể nghĩ
đến các lĩnh vực hợp tác về kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, an ninh quốc
phòng… Đó cũng là lý do để các nhà lãnh đạo các quốc gia thành viên
ASEAN cùng nhau xây dựng ASEAN với 3 trụ cột chính (bao gồm Cộng
đồng an ninh - chính trị ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng
văn hoá xã hội ASEAN); tương ứng với đó là các Hội đồng (Hội đồng cộng
đồng an ninh - chính trị ASEAN, Hội đồng cộng đồng kinh tế ASEAN và Hội
đồng cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN) [18]. Trong lĩnh vực hợp tác ngoại
khối, ASEAN cũng khẳng định ASEAN sẽ phát triển các mối quan hệ hợp tác
thân thiện, đối thoại cùng có lợi với các quốc gia, khu vực, các tổ chức quốc
tế và các thể chế quốc tế [16]. Song, các cơ chế giải quyết tranh chấp trong
Hiến chương ASEAN lại không chia theo các lĩnh vực hợp tác đó. Vì vậy, khi
muốn giải quyết một tranh chấp nào đó người ta phải tìm theo các văn kiện
của ASEAN để xem lĩnh vực đang tranh chấp đó có được quy định trong các
văn kiện cụ thể nào của ASEAN không, thuộc quy định nào của Hiến chương
ASEAN, từ đó mới xem xét các quy định về các cơ chế giải quyết tranh chấp
phù hợp. Đây cũng là một trong những nét đặc thù trong các cơ chế giải quyết
tranh chấp của ASEAN theo Hiến chương ASEAN, với phương châm duy trì
các cơ chế giải quyết tranh chấp đã có và thiết lập thêm các cơ chế giải quyết
tranh chấp cho phù hợp với yêu cầu mới.
Khi nói đến một cơ chế giải quyết tranh chấp người ta thường nghĩ đến
tổng thể thống nhất các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình tự, thủ
tục giải quyết tranh chấp và việc thi hành phán quyết giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, Hiến chương ASEAN lại có một cách tiếp cận hơi khác. Mặc dù
Hiến chương có một chương quy định về giải quyết tranh chấp và có những
điều khoản cụ thể quy định về các cơ chế giải quyết tranh chấp trong các văn
kiện của ASEAN, nhưng các quy định này chỉ dừng lại ở việc đề ra những

tranh chấp liên quan đến lĩnh vực an ninh, chính trị nhưng không thuộc phạm
vi áp dụng của TAC và các quy tắc về thủ tục giải quyết tranh chấp của TAC
hoặc tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng Hiến chương và các
văn kiện khác của ASEAN… thì lại chưa có cơ chế giải quyết cụ thể và chưa
được quy định cụ thể trong Hiến chương hoặc các văn kiện khác của ASEAN.
Trong khi đó, thì phần lớn các yêu cầu thắc mắc liên quan đến việc giải
thích Hiến chương đều liên quan đến các vấn về mang tính thực tiễn thực hiện
Hiến chương chứ không chỉ đơn thuần là các tranh chấp giữa các quốc gia
thành viên ASEAN [25]. Điều 25 của Hiến chương chỉ quy định chung chung
rằng nếu không có quy định cụ thể nào khác, các quốc gia thành viên được
thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp, bao gồm cả hình thức
trọng tài để giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp
dụng Hiến chương hoặc các văn kiện khác của ASEAN. Các văn kiện khác
của ASEAN ở đây có thể hiểu là các văn kiện không quy định các cơ chế giải
quyết tranh chấp riêng hoặc các tranh chấp liên quan đến các văn kiện này
không được quy định ở bất kỳ văn bản nào. Tuy nhiên, Hiến chương không
quy định các “cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp” đó là các cơ chế nào,
quy trình thủ tục tiến hành ra sao. Do đó, tháng 4 năm 2010 tại Hà Nội, các
nhà Lãnh đạo ASEAN đã thông qua một văn kiện quan trọng đó là Nghị định
thư của Hiến chương ASEAN về cơ chế giải quyết tranh chấp (sau đây gọi tắt
là Nghị định thư năm 2010). Sự ra đời của Nghị định thư năm 2010 nhằm góp
phần khắc phục những “khoảng trống” trong khung cơ chế giải quyết tranh
chấp quy định tại Hiến chương ASEAN. Theo đó, các cơ chế này nhằm giải
quyết các tranh chấp nảy sinh từ những bất đồng do sự nhận thức khác nhau
trong quá trình thực hiện Hiến chương ASEAN và các công cụ của nó. Có 4
cách để giải quyết tranh chấp gồm: Trọng tài, môi giới, trung gian, hòa giải.
Các bên thứ ba có thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp nếu như
các bên có tranh chấp đồng ý. Văn kiện này được gọi là Nghị định thư của
Hiến chương ASEAN về các cơ chế giải quyết tranh chấp.
Ngay trong phần mở đầu của Nghị định thư năm 2010, các quốc gia

lựa chọn biện pháp khác.
Các bên tranh chấp có thể lựa chọn các biện pháp giải quyết tranh chấp
như:
- Đàm phán;
- Lựa chọn một trong các biện pháp nêu tại Điều 33 Hiến chương liên
hợp quốc;
- Giải quyết thông qua tiến trình khu vực bằng việc thành lập Hội đồng
cấp cao để giải quyết.
Trong Nghị định thư năm 1996: Cấu trúc pháp lý của Nghị định thư năm
1996 gồm hai phần: phần giải quyết tranh chấp theo kênh tài phán và phần
giải quyết tranh chấp theo kênh ngoài tài phán. Các biện pháp giải quyết tranh
chấp theo kênh ngoài tài phán, về cơ bản không có gì xa lạ với chúng ta, đó là
các giải pháp vẫn thường được áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
thương mại – đầu tư ở các nước (chủ yếu là thương lượng, trung gian, hoà
giải) được thống nhất đưa vào Nghị định thư năm 1996 để áp dụng chung.
Trong Hiến chương ASEAN, các biện pháp giải quyết tranh chấp khá đa
dạng. Các bên tranh chấp có thể sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp
khác nhau như đề nghị bên thứ ba, hoà giải, trung gian hoặc trọng tài. Việc
lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp nào đó tuỳ thuộc vào ý chí
của các bên tranh chấp. Các Bên tranh chấp cũng có thể yêu cầu Chủ tịch
ASEAN hoặc Tổng thư ký ASEAN làm bên thứ ba, hoà giải hoặc trung gian.
Các bên có thể lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp nào đó vào bất kỳ
thời điểm nào trong quá trình tranh chấp. Ngoài ra, các bên có thể viện dẫn
các hình thức giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 33 của Hiến
chương Liên hợp quốc hoặc các văn bản luật quốc tế khác mà các quốc gia
thành viên ASEAN là bên tranh chấp tham gia miễn là các phương thức giải
quyết tranh chấp này đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của ASEAN là giải quyết
bằng hình thức “hoà bình”.
Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định các biện pháp giải
quyết tranh chấp mà các bên có thể lựa chọn; bao gồm:

ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(CEPT/AFTA), Hiệp định khung về dịch vụ (AFTA), Hiệp định khung về sở
hữ trí tuệ, Hiệp định về khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định khung về
hợp tác công nghiệp toàn diện ASEAN (AICO), Hiệp định khung ASEAN
điện tử,… Các văn kiện này đều lấy Nghị định thư năm 2004 làm cơ sở nền
tảng cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại.
Để tránh trường hợp xung đột luật áp dụng, Nghị định thư năm 2004 đã
dự liệu hai trường hợp sau: một là, nếu có sự khác biệt trong quy định về quy
tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp giữa PEDSM với các quy định của hiệp
định được áp dụng thì sẽ áp dụng các quy định của hiệp định được áp dụng;
hai là, nếu có sự khác biệt giữa các cơ chế giải quyết tranh chấp trong các
hiệp định được áp dụng thì các bên thương lượng với nhau để lựa chọn cơ chế
giải quyết phù hợp. Nếu không thương lượng được thì có thể đưa ra Hội nghị
các quan chức cao cấp về kinh tế SEOM quyết định.
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 1 của Nghị định thư năm 2004 khẳng định cơ
chế giải quyết tranh chấp của ASEAN không ảnh hưởng đến quyền của các
quốc gia thành viên trong việc tìm kiếm những giải pháp hoà bình tại các diễn
đàn quốc tế khác vào bất kì lúc nào trước khi Hội nghị các quan chức cao cấp
về kinh tế SEOM ra quyết định thành lập Ban hội thẩm. Ví dụ, các nước
ASEAN đồng thời là thành viên của WTO có thể đưa vụ việc ra giải quyết
theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Khác với Nghị định thư năm 2004, Điều 2 của Nghị định thư năm 2010
quy định Nghị định thư này được áp dụng để giải quyết các tranh chấp liên
quan đến việc giải thích hoặc áp dụng 03 loại văn kiện:
- Hiến chương ASEAN;
- Các văn kiện khác của ASEAN trừ trường hợp đã có quy định các biện
pháp giải quyết tranh chấp cụ thể nào đó;
- Các văn kiện khác của ASEAN có quy định về việc sẽ áp dụng Nghị
định thư năm 2010 hay một phần của Nghị định thư năm 2010. Nghị định thư
năm 2010 tôn trọng ý chí của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn các cơ

Chính phủ, không áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp với
Chính phủ hoặc doanh nghiệp với doanh nghiệp. Như vậy, các doanh nghiệp,
dù có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm hại, không thể tự khởi động thủ tục
giải quyết tranh chấp mà phải thông qua Chính phủ của mình. Thủ tục giải
quyết tranh chấp của ASEAN chỉ giới hạn trong các nước thành viên và các
cá nhân không được phép tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp.
1.6. CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP – BỘ PHẬN CẤU
THÀNH QUAN TRỌNG CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA ASEAN
Tương tự như WTO, ASEAN cũng không thành lập cơ quan chuyên
trách để giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh mà quy định cho một
số cơ quan trong bộ máy của mình kiêm nhiệm thêm chức năng giải quyết
tranh chấp, đó là Hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM, Hội nghị quan chức kinh
tế cao cấp SEOM và Ban thư ký. Trong trường hợp cần thiết, ASEAN sẽ
thành lập một cơ quan giúp việc có tính chất adhoc là Ban hội thẩm Panel.
* Hội nghị bộ trưởng kinh tế (ASEAN Economic Ministers – AEM):
Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong giải quyết tranh chấp, Quyết định
của AEM là quyết định chung thẩm.
* Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials
Meetings – SEOM): Là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nhưng
quyết định của SEOM không có giá trị chung thẩm và các bên có thể kháng
cáo. Tương tự như cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body –
DSB) của WTO, SEOM có quyền thiết lập Ban hội thẩm, thông qua báo cáo
của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, giám sát việc thi hành các kết luận
và khuyến nghị trong báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm đã
được SEOM thông qua và cho phép tạm ngừng ưu đãi và các nghĩa vụ khác
theo các hiệp định liên quan [11].
* Ban hội thẩm:
- Thành phần của Ban hội thẩm: Ban hội thẩm do SEOM thành lập, bao
gồm những cá nhân có trình độ thuộc các cơ quan chính phủ hoặc phi chính

từng là quan chức cao cấp về chính sách thương mại của một nước thành viên.
Ban thư ký ASEAN sẽ đề cử các thành viên của Ban hội thẩm với các bên
tranh chấp, các bên tranh chấp không được phản đối các hội thẩm viên được
đề cử trừ khi có những lý do bắt buộc. Thủ tục này cung cấp sự hình thành
nhanh chóng Ban hội thẩm. Trong các đề cử của Ban hội thẩm, cá nhân công
dân của nước thành viên ASEAN được ưu tiên, người mang quốc tịch của
nước thành viên mà Chính phủ là một trong các bên tranh chấp sẽ không tham
gia Ban hội thẩm liên quan đến vụ tranh chấp đó, trừ phi các bên tranh chấp
có thoả thuận khác. Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày SEOM ra quyết định
thành lập Ban hội thẩm mà không có sự nhất trí về thành viên của Ban hội
thẩm, theo yêu cầu của bất kì bên nào, Tổng Thư ký ASEAN sau khi tham
khảo ý kiến của SEOM phải xác định thành phần của Ban hội thẩm bằng việc
chỉ định các hội thẩm viên mà Tổng thư ký ASEAN cho là phù hợp nhất, sau
khi tham khảo ý kiến của các bên tranh chấp và phù hợp với các quy tắc hoặc
thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung có liên quan của hiệp định có liên quan đang có
tranh chấp. Thủ tục này được tiến hành trong điều kiện nhất định, cụ thể là
trong vòng 10 ngày.
* Ban thư ký
Ban thư ký có trách nhiệm trợ giúp Ban hội thẩm và Cơ quan phúc
thẩm, đặc biệt là các yếu tố về pháp lý, lịch sử và thủ tục của các vấn đề được
giải quyết, đồng thời hỗ trợ về mặt thư ký và kỹ thuật. Ban thư ký là đầu mối
tiếp nhận tất cả các tài liệu có liên quan đến tranh chấp và xử lý các tài liệu
này một cách thích hợp. Bên cạnh đó, Ban thư ký ASEAN sẽ hỗ trợ SEOM
trong việc giám sát và theo dõi việc thực hiện các kết luận và khuyến nghị
trong báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được SEOM thông
qua. Trên cơ sở tham vấn với SEOM, Ban thư ký ASEAN sẽ cập nhật danh

Trích đoạn ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT ASEAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ THƯƠNG MẠ TÌNH HÌNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TRONG QUAN HỆ SO SÁNH VỚI CƠ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIÊN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ THƯƠNG MẠ Quan điểm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại của Việt Nam Giải pháp hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại để hài hoà với cơ chế giải quyết tranh chấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status