Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN và WTO - Pdf 34

A. LỜI MỞ ĐẦU
Hợp tác kinh tế - thương mại toàn cầu luôn ẩn chứa bên trong mâu thuẫn, tranh chấp có thể phát
sinh. Từ thực tế đó, các tổ chức hợp tác khu vực và quốc tế về luôn có cơ chế giải quyết tranh chấp
riêng của mình. Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN - Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á và WTO - Tổ chức thương mại thế giới sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về
vấn đề này.
B. NỘI DUNG CHÍNH
I. Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN và
WTO
1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN
a. Hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp
Cơ quan giải quyết tranh chấp theo quy định tại Nghị định thư 2004 bao gồm Hội nghị quan chức
kinh tế cao cấp (SEOM), Ban thư ký và ngoài ra một số cơ quan khác đó là Ban hội thẩm (do
SEOM thành lập) và Cơ quan phúc thẩm (do Hội nghị bộ trưởng kinh tế (AEM) thành lập)
- Hội nghị các quan chức kinh tế cao cấp (SEOM) (Điều 2) SEOM sẽ giám sát việc thi hành
Nghị định thư này và các quy định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của các hiệp định liên
quan, trừ khi có quy định khác trong hiệp định liên quan đó. Đồng thời, SEOM có chức năng và
thẩm quyền đó là có quyền
- Ban hội thẩm
Ban hội thẩm có chức năng là đánh giá một cách khách quan tranh chấp được Ban hội thẩm xem
xét bao gồm cả việc xem xét các tình tiết liên quan tới vụ việc, việc áp dụng và tuân thủ các điều
khoản của Hiệp định hoặc bất kỳ hiệp định liên quan nào và đưa ra kết luận và khuyến nghị liên
quan tới vụ việc.
-Cơ quan phúc thẩm (Điều 12)
Cơ quan phúc thẩm do Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) thành lập với chức năng nhiệm
vụ giải quyết các kháng cáo đối với các tranh chấp mà Ban hội thẩm đã xem xét. (lưu ý chỉ có các
bên của tranh chấp, không phải là bên thứ ba mới có quyền kháng cáo với báo cáo của Ban hội
thẩm).


- Ban thư ký (Điều 19)


Khiếu nại quyết định của Ban hội thẩm lên Cơ quan phúc thẩm (Điều 12)

Trong trường hợp không đồng ý với báo cáo của Panel, các bên tranh chấp sẽ kháng cáo lên Cơ
quan phúc thẩm. Đây là cơ quan thường trực gồm 7 thành viên do Hội nghị Bộ trưởng kinh tế
(AEM) thành lập. Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ thành lập
một nhóm phúc thẩm riêng cho từng vụ tranh chấp gồm 3 thành viên. Cơ quan phúc thẩm có nhiệm


vụ xem xét báo cáo của Ban hội thẩm nhưng chỉ xem xét đối với các kết luận và giải thích pháp lý
được nêu trong báo cáo này. Báo cáo của cơ quan phúc thẩm sẽ được đệ trình lên SEOM thông qua
theo nguyên tắc đồng thuận nghịch.
-

Thi hành phán quyết

Bên thua kiện có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của SEOM trong vòng 60 ngày kể từ khi Báo
cáo của Ban hội thẩm hoặc Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được SEOM thông qua, trừ khi các
bên thỏa thuận một khoảng thời gian dài hơn. SEOM sẽ giám sát hoạt động này thông qua việc
xem xét thực hiện các phán quyết của bên thua kiện tại mỗi cuộc họp của mình cho đến khi phán
quyết được thi hành. Tối thiểu 10 ngày trước khi mỗi phiên họp được tổ chức, bên thua kiện phải
đệ trình lên SEOM một bản báo cáo nêu rõ quá trình thực hiện phán quyết đó.
Nếu như hết thời hạn thi hành phán quyết mà bên vi phạm đã thua kiện không chịu thi hành phán
quyết, bên thắng kiện được yêu cầu bồi thường và việc bồi thường được thực hiện trên cơ sở thỏa
thuận giữa các bên.
Nếu trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thi hành phán quyết mà các bên không thỏa thuận được
về việc bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu SEOM cho phép áp dụng các biện pháp trả
đũa bằng cách đình chỉ thi hành các ưu đãi hay các nghĩa vụ khác theo các hiệp định của ASEAN.
Trong 30 ngày kể từ khi hết thời hạn thi hành phán quyết, SEOM sẽ cho phép bên thắng kiện tiến
hành các biện pháp này.

Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cho phép
báo cáo của Ban hội thẩm được xem xét lại (khi có yêu cầu), đảm bảo tính đúng đắn của báo cáo
giải quyết tranh chấp.
b. Trình tự, thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và thi hành phán
quyết.
Bao gồm các giai đoạn: Tham vấn; Môi giới, trung gian, hòa giải; Thành lập Ban hội thẩm; Hoạt
động của Ban hội thẩm; Thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm; Trình tư Phúc thẩm; Khuyến nghị
các giải pháp; Thi hành; Bồi thường và trả đũa.
Tham vấn (Consultation)
Bên có khiếu nại trước hết phải đưa ra yêu cầu tham vấn Bên kia (Điều 4 DSU). Việc tham vấn
được tiến hành bí mật (không công khai) và không gây thiệt hại cho các quyền tiếp theo của các
Bên. Bên được tham vấn phải trả lời trong thời hạn 10 ngày và phải tiến hành tham vấn trong
vòng 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu (trường hợp khẩn cấp – ví dụ hàng hoá liên quan có
nguy cơ hư hỏng, các thời hạn này lần lượt là 10 ngày và 20 ngày).


Môi giới, Trung gian, Hoà giải
Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn qui định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính
“chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự
nguyện, bí mật giữa các Bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban
hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động). Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải
do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm (Điều 5 DSU).
Thành lập Ban hội thẩm (Panel Establishment)
Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội
thẩm. Trong trường hợp có nhiều nước cùng yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xem xét cùng một
vấn đề thì DSB có thể xem xét thành lập một Ban hội thẩm duy nhất.
Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các Hiệp định
của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra
khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp.
Trình tự Phúc thẩm (Appelate Review)

Nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn
thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp cho phép áp
dụng các biện pháp trả đũa song song hoặc trả đũa chéo. Mức độ và thời hạn trả đũa do Cơ quan
Giải quyết tranh chấp (DSB) quyết định căn cứ trên thủ tục qui định về vấn đề này trong Quy tắc
Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU).
Trọng tài
Thủ tục trọng tài có thể được các Bên tranh chấp thoả thuận sử dụng trong các trường hợp sau đây:
Trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU: trọng tài có thể được sử dụng trong các thủ
tục sau:
- xác định thời hạn thực hiện khuyến nghị trong trường hợp Bên thua không thể thực hiện ngay
khuyến nghị;
- xác định mức độ trả đũa trong trường hợp Bên thua có kiến nghị về vấn đề này
Trong trường hợp này thủ tục trọng tài sẽ do các thành viên Ban hội thẩm ban đầu làm trọng tài
viên. Nếu các thành viên Ban hội thẩm không có điều kiện làm trọng tài viên thì trọng tài viên (là
một cá nhân hoặc một tổ chức) sẽ do Tổng Thư ký WTO chỉ định.
Ngoài khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU:
Các Bên tranh chấp có thể thoả thuận lựa chọn cơ chế trọng tài độc lập để giải quyết tranh chấp
của mình mà không cần sử dụng đến cơ chế của DSU (cơ chế sử dụng Ban hội thẩm, Cơ quan
Phúc thẩm…). DSU chỉ cho phép sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong đó vấn đề
tranh chấp đã được các bên xác định một cách rõ ràng và thống nhất.
II. So sánh cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN và WTO, một số ý
kiến nhận xét đánh giá.
1. So sánh


1.1.

Những nét tương đồng

Thứ nhất, cả hai cơ chế đều được thành lập để giải quyết những tranh chấp liên quan đến kinh tế



Về phạm vi giải quyết tranh chấp, nếu nhìn qua chúng ta sẽ thấy đều là giải quyết những tranh
chấp liên quan đến kinh tế thuơng mại nhưng thực chất phạm vi của chúng rất khác nhau về quy
mô và những tranh chấp được điểu chỉnh giải quyết ở hai cơ chế.
Phạm vi giải quyết tranh chấp của ASEAN được quy định tại Nghị định thư 2004 là những tranh
chấp kinh tế thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN có nghĩa là ở đây chỉ giải quyết
tranh chấp giữa các chính phủ, không áp dụng đối với các doanh nghiệp có tranh chấp với chính
phủ. Còn WTO là: khiếu kiện có vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện dựa trên “sự
tồn tại một tình huống khác”. Như vậy chúng ta có thể thấy phạm vi giải quyết tranh chấp của
WTO rộng hơn và được quy định cụ thể hơn ASEAN rất nhiều.
- Về cơ quan giải quyết tranh chấp ta thấy rằng, đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO,
DSB là cơ quan giải quyết nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng. DSB chỉ tham gia
vào giai đoạn đầu là thành lập ban hội thẩm bà giai đoạn cuối là thông qua các báo cáo, kết luận và
giải quyết các vụ việc. Còn đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN thì SEOM thành lập
ban hội thẩm và thông qua các báo cáo của ban hội thẩm, các đánh giá khách quan và chứng cứ để
giúp SEOM đưa ra quyết định cuối cùng, tuy vậy đối với một số trường hợp SEOM có thể trực tiếp
xử lý tranh chấp mà không cần thành lập ban hội thẩm.
- Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
Dù cùng trải qua bốn giai đoạn giống nhau nhưng ở mỗi giai đoạn lại có sự khác nhau nhất định.
Cụ thể đó là:
+ Giai đoạn tham vấn:
Ở WTO: đây là bước bắt buộc trước khi đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền xét xử. Các quốc gia
khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu bên bị tham vấn thừa nhận rằng các quốc gia
này có “quyền lợi thương mại thực chất” trong việc tham vấn này.
Ở ASEAN: đây là bước không bắt buộc. Và không có thủ tục xin can dự.
+ Giai đoạn hội thẩm:
Ở WTO: thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi bên được tham vấn từ chối
tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn
(Điều 6 Hiệp định về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO-DSU). Tuy

Ở ASEAN: các bên tranh chấp có thể kháng nghị lại phán xử của SEOM với Các Bộ trưởng Kinh
tế ASEAN ("AEM") trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày SEOM ra phán xử. AEM phải đưa
ra quyết định trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày có kháng nghị. Trong các trường hợp ngoại
lệ, AEM có thể có thêm mười (10) ngày nữa để đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp.
- Về việc thi hành phán quyết:
Ở WTO: nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày kể từ khi
hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp cho
phép áp dụng các biện pháp trả đũa song song. Mức độ và thời hạn trả đũa do Cơ quan Giải quyết
tranh chấp (DSB) quyết định căn cứ trên thủ tục qui định về vấn đề này trong Quy tắc Giải quyết
tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU).


Ở ASEAN: Với cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế- thương mại của ASEAN là đình chỉ ưu đãi,
đình chỉ thực hiện nghĩa vụ và trả đũa chéo. Ngoài ra, ASEAN không quy đỉnh rõ về mức độ và
thời gian trả đũa do cơ quan nào quyết định.
2. Một số ý kiến nhận xét, đánh giá
Sau khi tìm hiểu cũng như so sánh về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của
ASEAN và WTO, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến nhận xét về những ưu nhược điểm của cơ chế
giải quyết tranh chấp này của ASEAN, từ đó có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn vấn đề này.
Một thực tiễn cho thấy rằng ASEAN có xu hướng tạo thành một mô hình cơ chế giải quyết
tranh chấp thu nhỏ của WTO trong khu vực. Mặc dù nó thiếu đi sự độc đáo và riêng biệt nhưng
Nghị định thư 2004 và 2010 vẫn tạo ra và hoàn thành về mặt pháp lí một cơ chế giải quyết tranh
chấp theo hướng chuyển sang cơ chế xét xử mang tính pháp lí hoàn toàn. Bằng cách áp dụng một
cơ chế tương tự với DSU, tính chấp nhận của nó sẽ được đảm bảo khi 9/10 thành viên của ASEAN
là thành viên của WTO đồng thời DSU cũng được coi là một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại đáng tin cậy trong WTO.
Ngoài những mặt đã đạt được thì ta còn nhận thấy một số hạn chế mà cơ chế giải quyết của
ASEAN gặp phải, cụ thể:
Thứ nhất, khoảng thời gian giải quyết tranh chấp quá dài, tổng thời gian giải quyết tranh
chấp gần 15 tháng. Điều này dẫn đến hậu quả là vi phạm pháp luật bị duy trì, gây thiệt hại cho các
bên, tốn kém về tài chính trong quá trình duy trì giải quyết tranh chấp.

quan giải quyết tranh chấp của ASEAN vì nó không phải là cơ chế độc quyền cho giải quyết tranh
chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, vì vậy các bên thường chọn giải pháp tiến hành
tham vấn, sau đó cùng nhau xây dựng thêm các cơ chế nhằm hạn chế việc vi phạm các hiệp định
mà không đưa vụ việc ra giải quyết theo quy trình của Nghị định thư. Điều này lý giải tại sao cho
đến này cơ chế này rất ít được các quốc gia thành viên sử dụng trong giải quyết các tranh chấp.
Thứ sáu, là biện pháp đền bù, tạm ngừng ưu đãi hay thực hiện nghĩa vụ để thi hành phán
quyết không đem lại hiệu quả khi các nước ASEAN có sự chênh lệch về trình độ phát triển khá lớn
đồng thời cũng không có cơ quan cưỡng chế thi hành các phán quyết giải quyết tranh chấp kinh têthương mại.
Thứ bảy, Về vấn đề chi phí cho các cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế
thương mại, chưa có bất kì hướng dẫn nào của Nghị định thư về việc phân bổ chi phí này như thế
nào. Nghị định thư cũng đã quy định về việc thành lập Quỹ để trang trải chi phí với đóng góp ban
đầu có giá trị như nhau của tất cả các quốc gia thành viên, sau khi đóng góp ban đầu như vậy, Nghị


định thư quy định Quỹ sẽ được bổ sung bởi các bên tham gia tranh chấp (Quy định tại điều 17
Nghị định thư). Các chi phí này bao gồm các chi phí của các cơ quan bao gồm cả cơ quan Phúc
thẩm và bất kỳ chi phí hành chính liên quan của Ban Thư ký ASEAN. Tất cả các chi phí khác phát
sinh bởi bất kỳ bên nào, sẽ do bên đó chịu và không được chi trả bởi quỹ. Các cơ quan giải quyết
tranh chấp sẽ phân bổ chi phí cho việc giải quyết tranh chấp cho các bên tham gia, chính vì vậy,
đối với các nước thành viên với nền kinh tế còn lạc hậu và kém phát triển hơn, thì họ sẽ có xu
hướng lựa chọn một cơ chế khác mà không thông qua các cơ quan của ASEAN khi mà chưa có bất
kỳ hướng dẫn nào ở Nghị định thư về việc phân bổ chi phí này như thế nào. Chính vì vậy mà cơ
chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN từ khi ra đời cho đến nay được rất ít các
quốc gia thành viên sử dụng.
Như vậy có thể thấy mặc dù hai cơ chế giải quyết có rất nhiều điểm giống nhau nhưng cơ
chế giải quyết của ASEAN ít đạt được thành tựu bởi tổ chức được thành lập sau WTO rất nhiều và
trình độ phát triển của khu vực cũng còn chưa cao, trong khi đó cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO đã có sự kế thừa các qui định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy tác dụng tích cực
gần 50 năm qua trong lịch sử GATT 1947 rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ. Cũng
chính vì những ưu điểm này mà ASEAN sao chép cơ chế này về cho mình. Hơn nữa, đa số các


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Nghị định thư năm 2004, Nghị định thư 2010 của ASEAN.
2. Hiến chương ASEAN
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng pháp luật cộng đồng
ASEAN, Hà Nội _ 2011
4. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật Quốc Tế, Nxb
CAND, Hà Nội, 2007
5. Chuyên đề kỷ niệm 40 năm thành lập hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á- ASEAN, Tạp chí luật học, số 9/2007.
6. Hiệp định về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp trong

khuôn khổ WTO-DSU
7. www.asean.org
8. www.wto.org
9.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status