BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI
TẠI TOÀ ÁN
(MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI)
SINH VIÊN: HOÀNG VĂN HÙNG
LỚP: KINH TẾ 28F
ĐỊA ĐIỂM THỰC TẬP
(TOÀ KINH TẾ _ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ)
NĂM 2007
1
MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN II : THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG
MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ-TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ...............................
1
2.1. Vài nét khái quát về tranh chấp kinh tế, thương mại và giải
quyết Tranh chấp Kinh tế, Thương mại tại Toà án2
2.2. Khái niệm, ý nghĩa và ưu nhược điểm của phương
thức giải quyết tranh chấp tại Toà án..............................................................
3
2.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương
mại của Toà kinh tế..........................................................................................
4.........................................................................................................................
PHẦN III : QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP
KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ- TOÀ ÁN NHÂN
DÂN TỈNH PHÚ THỌ.............................................................................................................
5..................................................................................................................................................
3.1. Giới thiệu về Toà kinh tế-Toà án nhân dân Tỉnh
tại Toà kinh tế...................................................................................................
14
PHẦN VI: KẾT LUẬN...........................................................................................................
15
3
PHẦN I
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinh
doanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp. Mặt khác khi nước ta đã
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nhiều quan hệ kinh tế cũng
mang những diện mạo sắc thái mới. Tương ứng với sự đa dạng phong phú của
các quan hệ này, các tranh chấp kinh tế ngày càng muôn hình muôn vẻ và với
số lượng lớn. Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọ hình thức giải quyết
tranh chấp kinh tế bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có
hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế
thương lượng, hoà giải. Chính vì vậy, Toà án có vai trò vô cùng quan trọng.
Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền hoạt động xét xử của Toà án phải đảm
bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng
án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự. Do
vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh tế,
thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm. Đồng thời việc giải quyết
tranh chấp này còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự, đảm
bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia. Xuất phát từ vị
trí, vai trò và ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương
mại tại Toà án. Vì lẽ đó, em xin chọn chuyên đề này.
4
PHẦN II
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI
ngữ khác như “Tranh chấp thương mại”, “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” . Có
quan điểm cho rằng, tranh chấp kinh tế trong kinh doanh phần nào có sự khác
biệt với tranh chấp kinh tế nói chung. Bởi lẽ, khái niệm “kinh tế” cũng như
“Quan hệ kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “Kinh doanh”,
“Quan hệ kinh doanh”. Kinh doanh chỉ là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và
mang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ v.v… Trong khi đó,
kinh tế có sự bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác. Chính vì
vậy, việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh cũng có những nét đặc thù
so với giải quyết tranh chấp kinh tế.
Khác với quan điểm trên, một số tác giả lại đồng nghĩa “Tranh chấp
kinh tế” với “tranh chấp kinh doanh” hoặc cho rằng “Tranh chấp kinh tế” là
tranh chấp phát sinh từ vi phạm hợp đồng kinh tế.
Dưới góc độ pháp luật nội dung, “Tranh chấp kinh tế” là những tranh
chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế.
Tuy nhiên với khái niệm “Tranh chấp kinh tế” như vậy khó có thể cho phép
phân biệt được với các loại tranh chấp với các loại tài sản khác như tranh
chấp Dân sự, Thương mại vì nội hàm của nó quá rộng.
Dưới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranh
chấp Kinh tế (hay tranh chấp Thương mại) bao gồm những tranh chấp phát
sinh trong nội bộ Công ty, trong hoạt động kinh doanh v.v… Có thể nói cách
tiếp cận này có phạm vi nội hàm hẹp nên không thể bao quát hết các tranh
chấp đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Trên thế giới, khái niệm “Tranh chấp kinh tế” không được thể hiện
trong pháp luật nội dung cũng như pháp luật hình thức và không có sự phân
biệt giữa “Tranh chấp kinh tế” và “Tranh chấp dân sự”. Có chăng chỉ là có sự
phân biệt giữa “Tranh chấp Thương mại” và “Tranh chấp Dân sự”.
Theo quan điểm của em, “Tranh chấp kinh tế” hay “Tranh chấp thương
mại”cần được hiểu là những mâu thuẫn (Bất đồng hay xung đột) về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình hoạt động Thương Mại (Giáo trình luật
thương mại –Tập 2 –Trường Đại học luật Hà Nội).
7
Đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một cách
nghiêm chỉnh đúng pháp luật. Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián
đoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp.
c. Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại
tại Toà án
Có 4 phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến: Thương lượng, Hoà
giải, Trọng tài, Toà án. Trong đó giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại
Toà án là phương thức quan trọng nhất. Bởi vì, Toà án là một cơ quan Nhà
nước tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm ra một bản án hay
quyết định về vụ tranh chấp và đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế
của Nhà nước.
d. Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương
mại tại Toà án
Phương thức này mất nhiều thời gian (Từ sơ thẩm-phúc thẩm-tái thẩm-
giám đốc thẩm) và phải xét xử công khai. Do đó, dễ bị lộ về bí quyết kinh
doanh, uy tín bị giảm sút).
2.3 THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI
CỦA TOÀ KINH TẾ
Các vụ việc phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại đa dạng và
phức tạp. Quyền lựa chọn của các đương sự trong vụ tranh chấp cũng rộng
hơn, có thể thoả thuận với nhau lựa chọn con đường Toà án hoặc Trọng
tài.Trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại. Bước
đầu tiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động tố tụng
là việc khởi kiện của nguyên đơn . Sau khi nhận được đơn khởi kiện của
nguyên đơn và các chứng cứ , tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào sổ nhận
đơn và xem xét.
Sau đó cơ quan Toà án phải xem xét về điều kiện thụ lý vụ án kinh tế,
nếu nó thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế thì Toà sẽ nhận đơn khởi kiện của
động kinh doanh thương mại phải có mục đích lợi nhuận. Như vậy, điểm khác
biệt giữa pháp lệnh cũ và BLTTDS về giải quyết tranh chấp là Bộ luật coi
trọng vấn đề mục đích của các chủ thể ,vấn đề về hình thức và chủ thể của
quan hệ tranh chấp.
9
a. Thẩm quyền của Toà án các cấp
Việc phân định thẩm quyền của Toà án các cấp dựa vào nhiều tiêu chí
để đảm bảo việc giải quyết được chính xác, đúng pháp luật. Có thể căn cứ vào
mức độ phức tạp của từng loại tranh chấp để phân định thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án cấp huyện hay Toà án cấp tỉnh. Pháp lệnh cũ quy định các
tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp (Điều 29 pháp lệnh bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp). Còn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy
định Toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế có giá
ngạch dưới 50.000.000 triệu đồng trừ trường hợp có nhân tố nước ngoài.
Việc quy định giá ngạch tranh chấp để phân định thẩm quyền là không hợp
lý. Bởi có rất nhiều vụ án có giá trị tranh chấp không lớn nhưng rất phức tạp.
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều vụ án tuy có giá trị tranh chấp rất lớn nhưng
việc giải quyết tranh chấp lại rất đơn giản. Khắc phục hạn chế đó, BLTTDS
đã quy định dựa vào tính chất phức tạp của vụ việc để phân định thẩm quyền.
Điều 29, Điều 35 của Bộ luật liệt kê các tranh chấp được giải quyết tại Toà án
huyện: Mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diên, đại lý, ký
gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng
hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa.
Trong trường hợp các tranh chấp nêu trên sẽ thuộc thẩm quyền của Toà
án cấp tỉnh nếu có một trong các yếu tố:
- Có đương sự ở nước ngoài ;
- Có tài sản tranh chấp ở nước ngoài;
- Cần uỷ thác tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài.
Điều 29, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự quy định các trường hợp thuộc thẩm