Đề tài “Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam” - Pdf 11

Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thực trạng giải quyết các tranh
chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa Kinh tế - Toà án nhân dân
tỉnh Quảng Nam
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
MỤC LỤC
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Các hoạt động kinh tế luôn có vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội. Khi những hoạt động này diễn ra sẽ không thể
tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh do nhiều nguyên nhân.
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, số
lượng các tranh chấp trong kinh doanh ngày càng tăng với mức độ ngày càng
phức tạp. Vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh là điều cần thiết để
đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh.
Để thực hiện chức năng kinh tế của mình, nhà nước ta đã ban hành Hệ thống
quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Nhà nước thông
qua các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải
quyết các tranh chấp, mâu thuẫn.
Hiện nay, có thể nói, Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp quan trọng và
phổ biến nhất ở Việt Nam. Trong hệ thống Tòa án nhân dân thì giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc chức năng của Tòa kinh tế, là một
Toà chuyên trách thành lập theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 và có
hiệu lực ngày 01/07/1994.
Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cần được thực hiện đúng
đắn, kịp thời; góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
cũng như đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia.

thương mại phổ biến nhất và việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại được quy định trong khá nhiều văn bản pháp lý. Theo điều 29,
BLTTDS thì các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án rất đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế; và văn
bản pháp lý giải quyết các tranh chấp trên có thể là Bộ luật dân sự hay Luật
chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doạnh nghiệp,
3. Phạm vi nghiên cứu
Tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại là vấn đề rộng lớn, có thể nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ
khác nhau. Trong phạm vi của chuyên đề tốt nghiệp, tôi chỉ giới hạn nghiên
cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa Kinh
tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
4. Mục đích nghiên cứu
Thông qua chuyên đề, tôi muốn mô tả một “bức tranh” cụ thể về thực trạng
cũng như việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa kinh tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Và
với tình hình thực tiễn cùng với những kinh nghiệm, hiểu biết có được trong
quá trình thực tập, tôi xin đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
kinh tế - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
5. Bố cục của chuyên đề
Chuyên đề trình bày các nội dung chính sau: ngoài phần mở đầu, kết luận và
tài liệu tham khảo, nội dung được trình bày theo 3 chương:
Chương I: Pháp luật về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại tại Tòa án
Chương II: Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại Tòa Kinh tế - Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam
Chương III: Giải pháp và kiến nghị
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam

Do đó, việc có một tổ chức giúp các bên giải quyết các mâu thuẫn phát sinh
là điều quan trọng và cần thiết, để đảm bảo tâm lý và sự công bằng cho các
chủ thể khi tham gia kinh doanh.
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn
hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như
vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể phát sinh trong cả quá trình
sản xuất và tái sản xuất xã hội. Dù tồn tại dưới hình thức nào và bắt nguồn từ
nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì đặc trưng chung của tranh chấp
kinh doanh, thương mại là luôn gắn với hoạt động kinh doanh và chủ thể
tham gia chủ yếu là các cá nhân, đơn vị kinh doanh. Về bản chất, mỗi tranh
chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các
bên tham gia vào quan hệ kinh tế đó.
Khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 quy định rõ rằng những tranh chấp về kinh
doanh thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh,
thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận.
Những tranh chấp đó bao gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân
phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường
thủy nội địa; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,
đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài
chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu
trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục
đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa
các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty; các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
định.

2.1. Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Toà án
Tranh chấp kinh doanh, thương mại là một hệ quả tất yếu của quá trình vận
động các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động kinh doanh,
thương mại. Khi tranh chấp xảy ra, các bên cần có cơ chế giải quyết tranh
chấp để mở đường cho sự hợp tác và phát triển. Tòa án là một trong những
phương thức giải quyết tranh chấp như thế.
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo nghĩa chung nhất có thể
hiểu là cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất
đồng, các xung đột, nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh,
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân và các chủ thể
kinh doanh khác, bảo vệ trật tự kỷ cương của xã hội.
Mọi công dân đều có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
(Điều 57, Hiến pháp 1992). Đó là quyền tự do trong lựa chọn hình thức tổ
chức kinh tế, lựa chọn ngành nghề, quy mô và cả lựa chọn phương thức giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tùy vào
điều kiện kinh doanh cũng như mong muốn khác nhau của các chủ thể, họ sẽ
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất với mình. Hiện
nay, theo quy định của pháp luật thì các hình thức giải quyết tranh chấp trong
thương mại gồm: thương lượng, hòa giải, giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án
(Điều 317, Luật Thương mại 2005).
Ở Việt Nam hiện nay, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết
bằng con đường Tòa án chiếm tỷ lệ lớn. Mặc dù giải quyết tranh chấp bằng
phương thức trọng tài đã có từ khá lâu, nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều cá
nhân và doanh nghiệp chưa quan tâm đến cơ chế giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài cũng như sự hiện diện của Trung tâm trọng tài thương mại. Trọng
tài thương mại không phải là điều quá mới mẻ nhưng vẫn còn mờ nhạt và khá
xa lạ trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở môi trường kinh doanh của nước
ta.

các nguyên tắc đã được quy định. Nếu có sự vi phạm các nguyên tắc này
trong quá trình thực hiện giải quyết các tranh chấp thì đều bị coi là bất hợp
pháp và phải loại bỏ.
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
Là một bộ phận của Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế phải tuân thủ theo các
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan tòa án nói chung được quy định
trong Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Bên
cạnh đó, với tư cách là một Tòa chuyên trách độc lập trong hệ thống Tòa án
nhân dân, Tòa kinh tế cũng phải tuân thủ những nguyên tắc riêng khi tiến
hành giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình. Một số các
nguyên tắc chung được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 và Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 như: nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử công
khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Tòa án đảm bảo cho đương sự
được dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước tòa; … Trên cơ sở
các nguyên tắc chung này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương
mại được xây dựng với những đặc thù riêng của mình.
Các nguyên tắc riêng mà Tòa kinh tế phải tuân thủ trong hoạt động giải quyết
các tranh chấp kinh doanh, thương mại đó là: nguyên tắc tôn trọng quyền tự
định đoạt của các đương sự; nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; nguyên
tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ;
nguyên tắc hòa giải; nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời;
nguyên tắc xét xử công khai.
3.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Trong pháp luật tố tụng, quyền tự định đoạt của đương sự biểu hiện ở khả
năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương
tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại.
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 5, BLTTDS 2004. Theo đó, các
đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam

ra tòa thì tòa án không có thẩm quyền giải quyết. Có thể thấy rằng, việc tranh
chấp có được đưa ra tòa án giải quyết hau không là sự lựa chọn của các chủ
thể. Trên thực tế, khi phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thì
các bên sẽ cố gắng tự giải quyết vì như vậy sẽ tiết kiệm được khá nhiều thời
gian và chi phí, đặc biệt là không ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn cũng như uy
tín của họ được bảo đảm; việc nhờ đến cơ quan luật pháp là sự lựa chọn cuối
cùng nếu các bên không thống nhất được với nhau.
3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc pháp lý
cơ bản của luật pháp nước ta. Điều 52, Hiến pháp 1992 có ghi rõ mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật; còn quy định cụ thể đối với các cơ sở sản
xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế thì được ghi nhận tại Điều 22,
Hiến pháp 1992.
Các chủ thể khi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh đều được pháp luật
thừa nhận quyền bình đẳng. Bình đẳng trong kinh doanh nghĩa là mọi cá
nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, từ việc lựa chọn ngành
nghề, địa điểm kinh doanh, lựa chọn hình thức kinh doanh cho đến việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh đều bình đẳng
theo quy định của pháp luật. Quyền bình đẳng không chỉ thể hiện khi các bên
tham gia vào quan hệ kinh doanh mà còn thể hiện khi họ tham gia vào quan
hệ tố tụng tại Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng (Điều 8,
BLTTDS 2004).
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
Có thể nói nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật có ý nghĩa quan trọng vì nó
không chỉ thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà còn góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Khi có tranh chấp xảy ra thì trước tòa án
sẽ không phân biệt các bên thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thuộc thành
phần kinh tế gì; các bên đều có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp
luật tố tụng. Với nguyên tắc này, các tổ chức, các nhân sẽ yên tâm và mạnh

họ cho là đúng và cần thiết. Nếu các chứng cứ cung cấp chưa đầy đủ hoặc
chưa chính xác, thì Tòa án sẽ yêu cầu đương sự thu thập thêm chứng cứ hoặc
xác minh sự chính xác đó. Tòa án không nhất thiết phải thu thập thêm chứng
cứ mà chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi thấy cần thiết để là rõ
thên yêu cầu của các bên, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.
Như vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tranh
chấp, các đương sự cần tự mình thu thập đầy đủ các chứng cứ để xác nhận và
chứng minh cho yêu cầu của mình, phản đối yêu cầu của người khác là có
căn cứ hợp pháp.
Việc chứng minh và cung cấp đầy đủ chứng cứ của các đương sự góp phần
giúp cho hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án được nhanh chóng và
chính xác. Tuy nhiên, trong các vụ án kinh doanh, thương mại thì các đương
sự là những người tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, chính vì thế
thời gian, có thể nói là một “vấn đề” của họ. Do đó, khi “vướng” vào một vụ
tranh chấp, liệu các đương sự có thời gian thu thập đầy đủ các bằng chứng
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
hay không là một điều cần quan tâm. Việc giải quyết án một cách nhanh
chóng và đúng đắn là cấp thiết không chỉ đối với các đương sự mà còn đối
với các cơ quan chức năng có liên quan. Nhận thấy rằng việc thu thập chứng
cứ có thể mất nhiều thời gian, chi phí của các đương sự; đó là chưa kể đến
việc có những chứng cứ mà đương sự không thể tự mình thu thập được, hoặc
áp dụng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả. Trong
những trường hợp như vậy, đương sự phải làm đơn yêu cầu Tòa án tiến hành
thu thập chứng cứ, trong đơn phải ghi rõ vấn đề cần chứng minh, chứng cứ
cần thu thập, lý do không thu thập được chứng cứ, tên cơ quan, tổ chức lưu
giữ chứng cứ đó.
Nguyên tắc này tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ tranh
chấp, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của các đương sự trong hoạt
động tố tụng dân sự, cụ thể là trong tố tụng án kinh doanh, thương mại. Đây
là một nguyên tắc đặc thù của tố tụng kinh doanh, thương mại, tạo điều kiện

Theo nguyên tắc này, khi có tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra, trước
hết các bên tự tiến hành hòa giải với nhau. Khi không tự hòa giải được, các
bên mới yêu cầu cơ quan tòa án can thiệp. Nhưng khi đã yêu cầu cơ quan tòa
án can thiệp, các đương sự vẫn có thể tiến hành hòa giải dưới sự hướng dẫn,
công nhận của Tòa án. Chỉ khi hòa giải không thành, Tòa án mới đưa vụ việc
ra xét xử. Hơn nữa, tại phiên tòa, thẩm phán cũng tạo điều kiện để cho các
bên tranh chấp hòa giải được với nhau ( Điều 10, BLTTDS). Khi hòa giải,
Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận
không phù hợp với ý chí của mình. Ngoài ra, trong BLTTDS 2004 cũng quy
định những vụ án dân sự không được hòa giải và những vụ án dân sự không
tiến hành hòa giải được (Điều 181, 182 BLTTDS).
3.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, việc giải quyết tranh chấp không những
phải đảm bảo đúng pháp luật mà còn phải nhanh chóng, dứt điểm, tránh dây
dưa, kéo dài. Hoạt động kinh doanh, thương mại là một quá trình diễn ra liên
tục với mục đích sinh lời của người tham gia kinh doanh. Đối với các chủ thể
kinh doanh, dường như yếu tố thời gian có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong
công việc của họ; sự linh hoạt và năng động của môi trường kinh doanh
không cho phép họ lãng phí thời gian. Nhưng khi những tranh chấp ngoài ý
muốn phát sinh thì việc bỏ thời gian để giải quyết chúng để bảo vệ lợi ích của
mình là điều đương nhiên. Do đó, việc giải quyết các vụ án một cách đúng
đắn, nhanh chóng, kịp thời là mối quan tâm của hầu hết những người tham
gia kinh doanh, đặc biệt là các đương sự trong các vụ tranh chấp kinh doanh,
thương mại.
Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời được thể hiện trong một
số quy định của pháp luật. Chẳng hạn, trong tố tụng kinh doanh, thương mại
quy định thời gian tố tụng ngắn hơn so với các tố tụng dân sự khác; các quy
định rút ngắn thời hiệu, thời hạn; trong quá trình giải quyết vụ án, tòa không

2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Tòa Kinh tế
Tòa kinh tế là một tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân, được thành lập theo
lập theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức tòa án nhân dân
ngày 28/12/1993. Tòa kinh tế được tổ chức ở hai cấp. Ở trung ương, Tòa kinh
tế được thành lập trong Tòa án nhân dân tối cao; ở địa phương, Tòa kinh tế
chỉ được tổ chức ở cấp tỉnh.
2.3.1. Chức năng của Tòa Kinh tế
Tòa kinh tế thuộc cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án nhân dân ra đời đáp
ứng yêu cầu xây dựng thiết chế tài phán kinh tế trong nền kinh tế thị trường
và yêu cầu giải quyết nhiều loại tranh chấp khác nhau. Tòa kinh tế nói riêng
và Tòa án nhân dân nói chung đều là cơ quan xét xử của nhà nước, nằm trong
hệ thống cấu trúc, hoạt động từ nguồn kinh phí được cung cấp từ ngân sách
nhà nước. Tòa kinh tế nhân danh nhà nước giải quyết các vụ tranh chấp kinh
doanh, thương mại; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham
gia kinh doanh. Theo quy định của pháp luật thì Tòa kinh tế có hai chức năng
cơ bản là chức năng xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại và chức năng
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
• Chức năng xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại
Đây là chức năng cơ bản của tòa án nói chung được quy định tại Điều 127,
Hiến pháp năm 1992 “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa
phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó, pháp
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
luật nước ta khẳng định, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có chức năng
xét xử nhân danh nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định
về chức năng của Tòa án được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân
được Quốc hội thông qua ngày 2 tháng 4 năm 2002. Theo đó, Tòa kinh tế
được gắn với chức năng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Theo BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2005, Tòa kinh tế
không chỉ giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế mà còn giải quyết các

1994. Hiện nay, để thực hiện chức năng này, Tòa kinh tế dựa vào các quy
định của Luật phá sản 2004 là chủ yếu và một số quy định khác liên quan của
pháp luật.
2.3.2. Nhiệm vụ của Tòa Kinh tế
Điều 1, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 2
tháng 4 năm 2002 có quy định cụ thể về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân nói
chung và Tòa kinh tế nói riêng. Theo đó, “ trong phạm vi chức năng của
mình, tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước,
của tập thể; bảo về tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân”.
Ngoài ra, Tòa án nói chung có nhiệm vụ trong việc góp phần giáo dục, củng
cố việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của
Thực trạng giải quyết tranh chấp KD - TM tại Tòa Kinh tế - TAND tỉnh Quảng Nam
xã hội; nâng cao ý thức đấu tranh chống các vi phạm pháp luật của các doanh
nghiệp cũng như các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại.
2.4. Thẩm quyền của Tòa kinh tế trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại
Việc xác định đúng thẩm quyền của cơ quan giải quyết là điều cần thiết trong
hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng kinh doanh, thương mại nói riêng. Khi
có tranh chấp phát sinh, cần xác định rõ cơ quan nào có thẩm quyền giải
quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo việc giải quyết được đúng đắn,
chính xác và hợp pháp. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại của Tòa kinh tế là quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa kinh tế trong
lĩnh vực giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Việc xác định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc thụ lý,
chuẩn bị hồ sơ và giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại, cũng
như thi hành quyết định, bản án của Tòa kinh tế. Tòa cần phải cẩn trọng xem
xét cáo trạng, yêu cầu khởi kiện hoặc nội dung kháng cáo, kháng nghị, cân
nhắc thật kỹ các yêu cầu mới phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status