Phần I: Giới thiệu về chuyên đề
Ly hôn là hiện tợng xã hội phổ biến và phức tạp đặc biệt trong tình hình
hiện nay khi nó ảnh hởng của cơ chế kinh tế thị trờng. Không chỉ ảnh hởng
đến lợi ích của các đơng sự mà ly hôn còn ảnh hởng đến lợi ích của con họ,
của gia đình và xã hội. Cùng với sự phát triển về kinh tế các án kiện ly hôn cũng
nh các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các án kiện ly hôn ngày
càng tăng. Đồng thời sự phức tạp về tranh chấp cũng theo đó mà tăng lên. Các
tranh chấp chủ yếu về xác định tài sản chung,tài sản riêng, giá trị tài sản chung,
thanh toán nghĩa vụ tài sản, về quyền sử dụng đất và nhà ở, về xác định công sức
của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình nếu vợ chồng sống chung với
gia đình
Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn việc xét xử các vụ án ly hôn nói chung và
việc phân chia tài sản (tài sản có xảy ra tranh chấp) nói riêng tại các bản án của
Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh - chủ yếu là các bản án phúc thẩm, em đã
chọn đề tài "Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong
các án kiện ly hôn" tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Chuyên đề đợc viết dựa trên những kiến thức mà em đã tiếp thu đợc tại
trờng Đại học Luật Hà Nội, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các bản án đã xét
xử, qúa trình thụ lý, nghiên cứu hồ sơ và xét xử tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng
Ninh. Với các phơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh dữ liệu em
đã phân tích và làm rõ các căn cứ pháp luật để chia tài sản giữa vợ và chồng
trong các án kiện ly hôn. Đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề cần giải quyết tại
địa phơng, với hy vọng khắc phục đợc những hạn chế này trong thời gian tới.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhng do thời gian thực tập ngắn, giữa lý
thuyết đợc học tại nhà trờng và thực tiễn xét xử có những điểm khác nhau và
do quá trình nhận thức của bản thân còn hạn chế nên bản báo cáo thực tập chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất địnhDo đó, em rất mong đợc sự
sự thông cảm, đóng góp, giúp đỡ của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của
em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
15
30
Phúc thẩm
Bảng 2: Công tác giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng
trong các án kiện ly hôn trong năm 2006
CTXX
Thụ lý
Cấp XX
Phúc thẩm
Giải quyết
Vụ án
Đơng sự
Vụ án
Đơng sự
20
40
Trang 26 Phân định tài sản của vợ và chồng khi ly hôn của tác giả Kiều
Thanh Nghĩa.
Trang 14 Một số ý kiến về phân định tài sản của vợ chồng khi ly hôn
của tác giả Tởng Duy Lợng
(Nghiên cứu tại phòng thẩm phán toà dân sự toà án nhân dân tỉnh Quảng
Ninh).
4. Báo cáo công tác ngành toà án năm 2006 và phơng hớng nhiệm vụ
công tác toà án năm 2007của Toà án nhân dân tối cao.
( Thu thập tại phòng Chánh toà dân sự Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
5. Báo cáo tham luận về công tác xét xử án hôn dân sự năm 2005 và
một số kiến nghị của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
(Nghiên cứu tại Văn phòng Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
6. Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và phơng hớng nhiệm vụ
công tác năm 2006 của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phơng hớng nhiệm vụ công
tác năm 2007 của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
(Nghiên cứu tại Văn phòng Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
7. Bản án dân sự:
- Bản án số 28/2005/LHPT ngày 08/11/2005, thụ lý số 25/2005/HNGĐ PT ngày 06/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa nguyên đơn là
chị Trịnh Thị Sơn và bị đơn là anh Nịnh Văn Mạnh.
- Bản án số 14/2006/LHPT ngày 22/05/2006, thụ lý số 11/LHPT ngày
26/04/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa nguyên đơn là chị Đàm
Thị Hờng và bị đơn là anh Trần Trung Tại.
(Nghiên cứu tại phòng th ký toà dân sự Toà án nhân dân tỉnh Quảng
Ninh)
8. Những nguyên nhân phát sinh tranh chấp về tài sản giữa vợ và
chồng trong các án kiện ly hôn
(Xin ý kiến của thẩm phán Đào Đình Trợi và Nguyễn Hồng Nam- phó
sản chung. Nếu khi vợ chồng ly hôn tại Toà án mà hai bên không thoả thuận
phân chia đợc tài sản thì Toà án sẽ quyết định trên cơ sở quy định của pháp
luật.
1.2. Căn cứ theo Luật Hôn nhân và Gia đình, các văn bản hớng dẫn thi
hành
Luật Hôn nhân và Gia đình của Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2000 và các văn bản hớng dẫn đã đặt ra nguyên tắc chia tài sản của
vợ chồng khi ly hôn. Theo điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì
"Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận đợc
thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu
của bên đó ". Nh vậy, Điều luật này chỉ đặt ra vấn đề chia tài sản chung, còn
không quy định việc phân chia tài sản riêng của hai vợ chồng. Tuy nhiên, trong
quá trình chung sống có nhiều tài sản riêng đã đợc đa vào sử dụng chung.
Việc xác định đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung đối với cơ quan xét xử là
một công việc khó khăn. Đặc biệt là đối với động sản do các bên không có đủ
căn cứ để chứng minh rằng đó là tài sản riêng của mình và tài sản riêng đó là bao
nhiêu. Cũng theo nguyên tắc của Điều 95 tại khoản 2 Luật Hôn nhân và Gia
Đình việc chia tài sản chung theo nguyên tắc là chia đôi, nhng có xem xét
hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào
việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản này. Nh vậy, trong trờng hợp cả hai
vợ chồng đều là lao động có thu nhập và thu nhập của hai vợ chồng tơng đối
ngang bằng nhau thì chỉ cần áp dụng nguyên tắc " tài sản chung của vợ chồng
đợc chia đôi" . Tuy nhiên, trong thực tế có không ít trờng hợp khối tài sản đó
là do một bên tạo lập nên, vì vậy đặt ra vấn đề chia khối tài sản đó nh thế nào
để có thể đảm bảo quyền lợi của ngời tạo lập khối tài sản đó đồng thời cũng
đảm bảo đợc quyền và lợi ích của bên kia. Trong trờng hợp này đòi hỏi cơ
quan xét xử phải nghiên cứu, xem xét hồ sơ và hỏi tại phiên toà để có thể làm rõ
công sức đóng góp của các bên để có thể đa ra quyết định đúng đắn, hợp tình
chung hay tài sản riêng, công sức đóng góp của mỗi bên vào tài sản đó nh thế
nào (trong trờng hợp đó là nhà thuộc sở hữu riêng của một bên).
2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng Trong các án
kiện ly hôn tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
2.1. Khái quát về tình hình ly hôn tại Quảng Ninh
Quảng Ninh là một tỉnh lớn, mật độ dân c đông, điều kiện kinh tế xã hội
phát triển so với cả nớc. Cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội cũng
đợc đặt ra trong đó có vấn đề quan hệ hôn nhân và gia đình. Quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình nh con đối với bố mẹ, vợ chồng với nhau có phần
xuống cấp trong một bộ phận không nhỏ của dân c. Trong xã hội ngày nay, khi
mà mọi ngời đều quan tâm tới yếu tố kinh tế và không còn chăm lo nhiều tới
gia đình mình nữa. Sự quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình giờ
đây đợc thay thế bằng việc tính toán làm ăn kinh tế, đôi khi là chơi bời truỵ lạc
đã làm cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không còn chặt
chẽ. Sự cách biệt giữa thu nhập của vợ và chồng, sự ảnh hởng của yếu tố văn
hoá ngoại lai, sự xâm nhập của những quan niệm không đúng đắn, sự nhận thức
cha đầy đủ và không thấu đáo về hậu quả của việc ly hôn của các cặp vợ chồng
trẻđó là một số các nguyên nhân trong rất nhiều các nguyên nhân làm tình
trạng ly hôn ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Ninh nói riêng gia tăng.
Việc mâu thuẫn trong gia đình hiện nay ngày càng gia tăng, và ngày càng
có nhiều cặp vợ chồng muốn ly hôn. Sau khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn
nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt đợc thì Toà án quyết định cho ly hôn. Khi hai vợ chồng đã
ly hôn sẽ đặt ra một số vấn đề nh nuôi con chung, vấn đề cấp dỡng cho con, và
một vấn đề quan trọng đợc đặt ra là chia khối tài sản chung của vợ chồng tạo
lập đợc trong thời kỳ chung sống với nhau. Sau khi xem xét các đơn kháng cáo,
kháng nghị mà Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận đợc về việc yêu cầu xét
xử phúc thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình em nhận thấy lý do kháng cáo của
tach biệt nhau, chồng làm kinh tế riêng và vợ làm kinh tế riêng vì vậy mà trong
gia đình thờng có tình trạng vốn làm ăn của vợ, vốn làm ăn của chồng. Khi làm
kinh tế độc lập nh vậy họ cũng thờng huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác
nhau và chỉ có một bên vợ, chồng biết. Trong trờng hợp này nếu làm ăn thua lỗ
và một bên mắc nợ họ cũng thờng không thừa nhận.
Thứ ba: đối với tài sản riêng của mỗi bên trớc khi kết hôn cũng rất khó
xác định bởi do tập quán ngời việt khi xây dựng gia đình họ đều mong muốn là
đợc cùng nhau xây dựng hạnh phúc nên cha có một trờng hợp nào xác định
số tiền của mình trớc khi kết hôn là bao nhiêu để đóng góp vào xây dựng kinh
tế chung ngoại trừ một số trờng hợp tài sản đó do ngân hàng quản lý và có
chứng từ đầy đủ. Khi ly hôn thì các bên đều biện minh cho mình và chối đẩy
trách nhiệm nhng lại không có những chứng cứ rõ ràng để chứng minh.
Thứ t: cũng có những cặp vợ chồng đã kết hôn tơng đối lâu, kinh tế khá
giả và có những giao dịch dân sự nh vay và cho vay, nh trên đã trình bày do
đặc điểm của Việt Nam là các giao dịch thờng không có giấy tờ kèm theo nên
khi xảy ra tranh chấp đều không chứng minh đợc.
Thứ năm: việc phân chia các tài sản khác trong gia đình có nhiều trờng
hợp các bên đơng sự cũng không chấp nhận theo quyết định của Toà án sơ thẩm
do các bên cho rằng hội đồng định giá thờng định giá quá thấp tài sản và khi
chia loại tài sản này, Toà án thờng căn cứ vào nhu cầu của các bên về điều
kiện sản xuất kinh doanhvà nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao
động tạo thu nhập . Vì vậy khi bên không có nhu cầu sẽ yêu cầu Toà án định
giá lại tài sản.
Thứ sáu: về công sức đóng góp của mỗi bên vào khối tài sản chung cũng
có những bất đồng. Khi Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào công sức đóng góp của
mỗi bên để có thể phân chia tài sản thờng sẽ bị bên còn lại phản ứng không tốt
và cho rằng mình cần phải đợc hởng sự công bằng (chia đôi) khối tài sản đó.
- Đối với bất động sản: Do việc quản lý đất đai của các cấp chính quyền
các quy định của pháp luật. Sau đây em xin nêu một số vụ việc củ thể tại nơi
thực tập để thấy rõ điều này.
a. Trích án số 28/LHPT ngày 08/11/2005.
Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Sơn sinh năm 1970
Trú quán: Tổ 2 - khu II phờng Ka Long TX Móng Cái Quảng
Ninh
Bị đơn: Anh Nịnh Văn Mạnh sinh năm 1971
ĐKHK: Tổ 2 khu II phờng Ka Long TX Móng Cái Quảng
Ninh
Ngời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Vũ Mạnh Khôi là
Luật s của văn phòng luật s Minh Thành thuộc Đoàn luật tỉnh Quảng Ninh.
Ngời có quyền lợi liên quan: Chị Hoàng Thị Đông - sinh năm 1955; Chị
Vũ Thuý An - sinh năm 1950; Chị Bùi Thị Thanh (tức Bùi Thị Đanh) - sinh năm
1975; Ông Lê Đức Ngọc - sinh năm 1952; Anh Phạm Văn Tùng - sinh năm
1974; Anh Nguyễn Đức Dũng - sinh năm 1962.
Phần tài sản của hai ngời nh sau:
Hai ngời có một khối tài sản chung trị giá khoảng hơn 300.000.000đ,
ngoài số tài sản hai ngời đã thống nhất, anh Mạnh chị Sơn còn cha thống nhất
đợc số tài sản sau:
- Theo chị Sơn, vợ chồng chị còn một thửa đất số 39 - lô 4 - xã Hải Hoà Móng Cái. Hội đồng định giá là 162.000.000đ. Và hiện vợ chồng chị còn nợ
Ngân hàng Nông Nghiệp Móng Cái 63.620.000đ, nợ anh Nguyễn Đức Dũng
110.000.000đ.
- Anh Mạnh thì lại cho rằng thửa đất số 39 lô 4 xã Hải Hoà vợ
chồng anh đã bán cho anh Dũng từ cuối năm 2003, giá bán 248.000.000đ, vợ
chồng anh Dũng đã trả đợc 158.000.000đ , hiện vợ chồng anh Dung còn nợ vợ
chồng anh 90.000.000đ. Về số tiền 63.620.000đ nợ Ngân hàng Nông Nghiệp,
theo anh Mạnh Khai trong số này có 50.000.000đ là vay hộ anh Dũng, còn
10.000.000đ là vợ chồng anh sử dụng.
điểm kháng cáo là thửa đất số 39 lô 4 Hải Hoà - TX Móng Cái vợ chồng anh
đã bán cho anh vợ chồng anh Dũng chị Thoa vào cuối năm 2003 giá bán
248.000.000đ, vợ chồng anh Dũng chị Thoa đã trả 158.000.000đ hiện còn nợ
90.000.000đ, nay anh Mạnh yêu cầu vợ chồng anh Dũng chị Thoa trả nốt anh
90.000.000đ thì anh se giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm thủ tục
chuyển nhợng quyền quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Dũng chị Thoa.
Chị Sơn thì cho rằng, vợ chồng chị có vay của vợ chồng anh Dũng chị
Thoa 110.000.000đ, để làm tin chị có viết giấy bán thửa đất mà anh Mạnh nói
trên cho anh Dũng chị Thoa giá bán là 248.000.000đ, chị Thoa anh Dũng có ký
vào giấy bán đất. Nay chị chấp nhận trả lại 110.000.000đ cho anh Dũng chị
Thoa.
Anh Dũng thì trình bày, vợ chồng anh không mua bán đất với vợ chồng
chị Sơn anh Mạnh mà chỉ cho chị Sơn anh Mạnh vay 110.000.000đ nay anh đòi
lại 110.000.000đ. Tuy nhiên anh Dũng không đa ra đợc các chứng cứ nào
chứng minh cho việc vay mợn này, đồng thời tại buổi hoà giải ngày 17/08/2005
ở Toà án nhân dân TX Móng Cái anh Dũng thừa nhận có mua bán đất với vợ
chồng chị Sơn anh Mạnh với giá 248.000.000đ cha làm thủ tục mà mới viết tay
với nhau, hiện anh còn nợ 90.000.000đ. Trong hồ sơ có một tờ giấy bán đất có
đầy đủ chữ ký của anh Dũng chị Thoa và anh Mạnh chị Sơn, anh Dũng cũng thừa
nhận chữ ký trong giấy bán đấ là chữ ký của anh. Nh vậy chứng tỏ việc chuyển
nhợng quyền sử dụng thửa đất số 39 giữa vợ chồng chị Sơn anh Mạnh với vợ
chồng anh Dũng chị Thoa là có xảy ra nhng hợp đồng chuyển nhợng này cha
đúng với quy định của điều 691,707,708 Bộ luật dân sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Việc chứng minh và thu thập
chứng cứ không thể thực hiện bổ sung đợc tại phiên toà.
Bởi các lẽ trên, Hội đồng xét xử quyết định huỷ phần phân chia tài sản của
bản án ly hôn số 20/HN&GĐ - ST ngày 20/09/2005 của Toà án nhân dân thị xã
Móng Cái. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị có hiệu lực pháp luật. Chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân thị xã Móng Cái
giải quyết lại phần tài sản.
Điệp anh Phạm Đình Ninh 11.900.000 đ; anh Ngô Quang Trí 2.870.000đ; chị
Bùi Thị Kim Oanh 3.636.000đ; chị Ngô Thị Minh 23.000.000đ; anh Nguyễn
Đình Khôi 7.000.000đ; anh Trần Văn Hùng 7.000.000đ và nợ vợ chồng chị
Nguyễn Thị Hơng anh Nguyễn Đình Tám 7.500.000đ.
Quan điểm của Ngân hàng tại văn bản đề nghị ngày 19/12/2005, nhất trí
để anh Tại trả nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng số 04050046/HĐTD ngày
29/03/2004; chị Hờng trả gốc và lãi của hợp đồng tín dụng số 04050119/HĐTD
ngày 23/09/2004. Và Ngân hàng không tham gia tố tụng tại toà án nhân dân
huyện Đông Triều. Quan điểm của các chủ nợ còn lại đều thừa nhận anh Tại chị
Hờng có nợ họ số tiền nh trên. Và các ngời này đều xác định đây là việc nợ
cá nhân tự đòi không yêu cầu toà án giải quyết.
Với nội dung trên toà án nhân dân huyện Đông Triều căn cứ Luật hôn
nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự quyết định về phần tài sản nh sau:
- Chị Hờng đợc quyền sở hữu toàn bộ cổ phiếu tại Công ty cổ phần bao
bì Hoàng Thạch trị giá 116.000.000đ và đợc quyền sử dụng thửa đất 100m2 tại
xóm Làng Trong-xã Tân Dơng-Thuỷ Nguyên-TP.Hải Phòng.
- Anh Tại đợc quyền sở hữu ngôi nhà ba tầng xây dựng trên diện tích đất
ở 115m2 tại khu Vĩnh Tuy 2- Mạo Khê-Đông Triều-Quảng Ninh và 01 máy xúc
SOLAR200W.
Công nhận sự thoả thuận của các đơng sự về nghĩa vụ trả nợ nh sau:
- Chị Hờng chịu trách nhiệm tự trả nợ Chi Nhánh Ngân hàng Công
thơng Nhị Chiểu là 172.820.000đ tiền gốc và số tiền lãi tơng ứng tính đến thời
điểm trả hết nợ.
- Anh Tại chịu trách nhiệm trả nợ toàn bộ số nợ còn lại gồm nợ của chi
nhánh Ngân hàng Công thơng Nhị Chiểu là 188.687.000đ tiền gốc và số tiền lãi
tơng ứng tính đến thời điểm trả hết nợ. Và nợ của anh Hoàng Thế Linh, anh
Trần Văn Viển, chị Bùi Thị Linh Năm, Công ty sản xuất vật liệu xây dựng Quyết
Tiến, anh Phan Tiến Dũng, chị Hoàng Thị Thu Hà, anh Nguyễn Mạnh Hà, vợ
chị Hờng ngày 19/07/2004. Và anh Tại còn đợc sở hữu chiếc máy xúc bánh
lốp biển kiểm soát 29LA-0060 nhãn hiệu SOLAR và 58.000.000đ tiền cổ phiếu.
Tổng cộng anh Tại đợc sở hữu 1.008.000.000đ. Anh Tại chịu trách nhiệm trả
nợ toàn bộ số nợ gồm nợ của chi nhánh Ngân hàng Công thơng Nhị Chiểu là
188.687.000 đ tiền gốc và số tiền lãi tơng ứng tính đến thời điểm trả hết nợ. Và
nợ của những ngời nh án sơ thẩm đã tuyên. Anh Tại phải thanh toán cho chị
Hờng 40.000.000đ tiền mặt.
- Chị Hờng đợc quyền sử dụng thửa đất 100m2 tại xóm Làng Trong-xã
Tân Dơng-Thuỷ Nguyên-TP.Hải Phòng và đợc quyền sở hữu 58.000.000đ cổ
phiếu tại Công ty cổ phần bao bì Hoàng Thạch, cùng với 40.000.000đ anh Tại
thanh toán. Chị Hờng chịu trách nhiệm trả nợ Chi Nhánh Ngân hàng Công
thơng Nhị Chiểu là 172.820.000đ tiền gốc và số tiền lãi tơng ứng tính đến thời
điểm trả hết nợ.
Trong vụ án này anh Tại và chị Hờng đều không đa ra một chứng cứ
nào chứng minh ai có nhiều công sức đóng góp hơn trong khối tài sản chung do
vậy đã dẫn đến việc kháng cáo của anh Tại về việc chị Hờng đợc sở hữu khối
tài sản lớn hơn của anh. Qua đó cho chúng ta thấy việc xác định công sức đóng
góp của các bên trong khối tài sản chung của vợ chồng là rất khó khăn. Bởi
không bên nào đa ra đợc chứng cứ chứng minh mình đóng góp nhiều hơn vào
khối tài sản chung. Mặt khác do khối tài sản chung là rất lớn nên các bên đều
muốn sở hữu phần nhiều nhằm đảm bảo về mặt kinh tế sau khi ly hôn.
phần IV: nhận xét và kiến nghị
1. Nhận xét chung
1.1. Về u điểm
1.1.1. Đối với công tác xét xử dân sự
Nhìn chung, công tác giải quyết các loại án của toà án tỉnh đạt kết quả tốt.
sót, vi phạm, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, thẩm phán toà án các cấp. Việc thực hiện uỷ thác
t pháp đã đợc làm chặt chẽ hơn và đúng với hớng dẫn của Toà án nhân dân
tối cao và Bộ T pháp.
1.2. Về những tồn tại và nguyên nhân
1.2.1. Những tồn tại
Trong các năm 2005-2006 còn tồn tại ngững thiếu sót nh: vi phạm thủ
tục tố tụng, nghiên cứu hồ sơ đánh giá chứng cứ cha toàn diện việc cải sửa
của cấp phúc thẩm đối với cấp sơ thẩm có trờng hợp cha chuẩn xác. Tỷ lệ các
bản án, quyết định của toà án bị huỷ, sửa đổi do lỗi chủ quan của thẩm phán vẫn
còn. Chất lợng một số phiên toà còn thấp, việc tổ chức phiên toà tuy có đổi mới
nhng vẫn cha đáp ứng yêu cầu của cải cách t pháp, đặc biệt là trong phần
tranh tụng tại phiên toà. Trình độ năng lực và tinh thần trách nhiệm của một số
cán bộ công chức toà án còn hạn chế.
1.2.2. Nguyên nhân của những tồn tại
Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xét xử cha chủ động đề
ra các biện pháp đủ mạnh và kiên quyết hoặc đề xuất với toà án cấp trên để nâng
cao chất lợng xét xử. Công tác tổng kết thực tiễn xét xử và hớng dẫn áp dụng
thống nhất pháp luật cha đáp ứng nhu cầu thực tiễn xét xử. Những quy định
mới trong các văn bản pháp luật liên quan đến công tác xét xử cha đợc hớng
dẫn kịp thời.
Trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong
công tác của một bộ phận cán bộ công chức tòa án còn hạn chế cha đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của công tác xét xử và cải cách t pháp. Công tác tổ chức
cán bộ ở toà án tỉnh thực hiện cha tốt nên không xử lý kịp thời các vấn đề.
Về kiến thức pháp luật của một số hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vẫn
còn hạn chế, tác phong trong khi xét xử cha nghiêm túc.
Hệ thống pháp luật của Nhà nớc ta đang trong quá trình hoàn thiện nên
bậc, chất lợng xét xử ngày một nâng cao. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của
toà án tỉnh cũng nh các toà án cấp huyện vẫn còn những khó khăn vớng mắc
và thiếu sót mang tính khách quan hoặc chủ quan. Để khắc phục hiện tợng này,
theo em cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
- Tăng cờng đội ngũ thẩm phán chuyên trách giải quyết các tranh chấp về
hôn nhân và gia đình.
- Cần đặc biệt chú trọng đến hoạt động đến hoạt động xét xử và chất lợng
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ thẩm phán ở toà án nhân dân cấp huyện.
Kiên quyết khắc phục các yếu kém khuyết điểm, nâng cao chất lợng hiệu quả
công tác xét xử, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tòa án trong sạch,
đủ năng lực trình độ chuyên môn. Tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ thị 01 ngày
7/2/2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về việc nâng cao tinh thần trách
nhiệm của cán bộ, công chức tòa án đặc biệt là thẩm phán và ngời đứng đầu cơ
quan, đơn vị trong công tác xét xử, gắn quyền hạn với trách nhiệm của thẩm
phán và lãnh đạo toà án các cấp.
- Trong công tác xét xử các vụ án về tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng
toà án cần có sự phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Công an và tranh thủ sự
đồng tình, ủng hộ giúp đỡ của chính quyền địa phơng để có những bản án công
bằng đảm bảo về mặt quyền lợi cho các đơng sự. Thông qua đó tuyên truyền
phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.
- Toà án nhân dân tối cao cần định kỳ ban hành các tập hợp án điển hình
để toà án cấp dới học tập và rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử, cũng nh
phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tiến tới xây dựng các tập án lệ về hôn
nhân và gia đình.
- Cần thành lập một tổ chức định giá tài sản thống nhất.
- Cần tăng cờng trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền trong việc giúp đỡ, hỗ trợ toà án nhân dân tỉnh cũng nh toà án nhân dân
cấp huyện về chuyên môn, cung cấp thông tin chứng cứ, tài liệu liên quan đến
danh mục Tài liệu tham khảo
Văn bản pháp luật:
- Bộ luật dân sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Bộ luật tố tụng dân sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Luật hôn nhân và gia đình của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
- Nghị định số 70/2001/NĐ - CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Nghị quyết số 02/2000/NQ HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hớng dẫn áp dụng một số quy định của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 của UBTVQH ngày 14 tháng 01
năm 2004.
- Chỉ thị số 69 ngày 24 tháng 12 năm 1979 của TANDTC về việc đảm bảo
chỗ ở cho các đơng sự sau khi ly hôn.
T liệu tham khảo:
- Giáo trình Luật dân sự của trờng Đại học Luật Hà Nội.
- Giáo trình Luật tố tụng dân sự của trờng Đại học Luật Hà Nội.
- Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình của trờng Đại học Luật Hà Nội.
T liệu thực tiễn:
- Báo cáo tham luận về công tác xét xử án dân sự năm 2005 và một số
kiến nghị của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và phơng hớng nhiệm vụ công
tác năm 2006 của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phơng hớng nhiệm vụ công
tác năm 2007 của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Bản án số 28/2005/LHPT ngày 08/11/2005, thụ lý số 25/2005/HNGĐ PT ngày 06/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa nguyên đơn là
1.1.1. Đối với công tác xét xử dân sự ......................18
1.1.2. Trong tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức ..........18
1.1.3. Đối với công tác giám đốc kiểm tra và thi hành án dân sự ....19
1.2. Về những tồn tại và nguyên nhân......................19