ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HÙNG KHÁNH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƢƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HÙNG KHÁNH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƢƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ CHÂU
Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại
bằng Tòa án......................................................................................... 6
1.1.1. Một số khái niệm, đặc điểm cơ bản ..................................................... 6
1.1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án ..................................................................... 13
1.1.3. Vai trò của phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án ..................................................................... 16
1.2.
Nội dung của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án.................................................................. 18
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án ..................................................................... 18
1.2.2. Nội dung của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại bằng Tòa án ................................................................................. 23
1.3.
Vai trò của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại bằng Tòa án ................................................................................ 33
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 37
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH
LAI CHÂU ........................................................................................ 39
2.1.
Một số kiến nghị ............................................................................... 58
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật ..................................................... 58
3.2.2. Một số kiến nghị đối với Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu ................. 64
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 70
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐXX:
Hội đồng xét xử
TAND:
Tòa án nhân dân
TMCP:
Thƣơng mại cổ phần
UBND:
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG
đều đƣợc lựa chọn giải quyết bằng con đƣờng tòa án, bởi các bên tham gia hoạt
động thƣơng mại khi giao kết hợp đồng thƣơng mại thƣờng không biết và
không nêu quy định lựa chọn trọng tài trong hợp đồng nên khi xảy ra tranh
chấp không đƣợc áp dụng thủ tục này nên việc lựa chọn giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thƣơng mại theo thủ tục tòa án đƣợc coi là giải pháp hữu hiệu nhất.
Vì vậy Tòa án có vai trò vô cùng quan trọng, hoạt động xét xử của Tòa
án là một hoạt động rất đặc biệt – mang tính quyền lực Nhà nƣớc, và mang
tính năng nghề nghiệp cao. Chính vì lẽ đó, hoạt động xét xử của Tòa án phải
đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác, kịp thời và tránh tình trạng tồn
đọng án, giải quyết kéo dài, gây phiền hà, mệt mỏi cho các đƣơng sự. Do vậy
việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại
theo con đƣờng Tòa án đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, đồng thời việc giải quyết
tranh chấp này cũng góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các
đƣơng sự, đảm bảo môi trƣờng kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia.
Hiện nay, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án đƣợc
quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm
2015, Quốc hội khóa XIII, em nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu
những ƣu nhƣợc điểm của phƣơng thức giải quyết nêu trên, từ đó đƣa ra
1
những kiến nghị góp phần hoàn thiện phƣơng thức giải quyết tranh chấp
thƣơng mại thông qua con đƣờng tòa án cho cả doanh nghiệp trong và ngoài
nƣớc đang tiến hành hoạt động thƣơng mại trên lãnh thổ nƣớc Việt Nam.
Trong thời gian vừa qua, công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Lai
Châu cũng đã đạt đƣợc những thành quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình
giải quyết tranh chấp thƣơng mại tại Tòa án tỉnh Lai Châu vẫn còn nhiều bất cập
nhƣ số vụ án bị kháng cáo kháng nghị còn nhiều, vẫn còn hiện tƣợng tồn đọng
án… Từ đó dẫn đến kéo dài thời gian, tiêu tốn nhiều tiền bạc cho các đƣơng sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại Tòa án nhân
dân tỉnh Lai Châu. Từ đó, đề ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thƣơng mại tại Tòa án nhân dân
tỉnh Lai Châu.
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ cụ
thể nhƣ:
(i) Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại theo con đƣờng Tòa án;
(ii) Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật điều chỉnh hoạt
động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng Tòa án;
(iii) Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại Toà án nhân dân trên
phƣơng diện luật nội dung và luật hình thức, trong đó quy định pháp luật về
luật hình thức (tố tụng quy định về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại) liên quan đến thẩm quyền của Toà án đƣợc nghiên cứu triệt để. Luận văn
3
cũng đồng thời đi sâu vào phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại tại Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu với những đặc thù nhất
định so với các địa phƣơng khác. Qua đó thấy đƣợc những hạn chế trong quá
trình giải quyết, đƣa ra những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ
thể và nâng cao chất lƣợng giải quyết kinh doanh thƣơng mại tại Tò án nhân
Chương 1. Một số vấn đề về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại và pháp luật giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án;
Chương 2. Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại
Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN
1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng
Tòa án
1.1.1. Một số khái niệm, đặc điểm cơ bản
1.1.1.1. Tranh chấp kinh doanh, thương mại
Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới khi phát triển nền kinh tế thị trƣờng
đều đề cao quyền tự do kinh doanh cho công dân, từ đó tạo ra động lực giúp
cho thƣơng nhân ra đời và phát triền một cách mạnh mẽ. Do vậy, các quan hệ
kinh doanh, thƣơng mại cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Khi các quan
hệ kinh doanh, thƣơng mại ngày càng phát triển thì tranh chấp phát sinh từ
hoạt động thƣơng mại cũng ngày càng nhiều và phức tạp.
Hiện nay, ở Việt Nam, cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế thế
giới, khái niệm tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại đƣợc sử dụng ngày càng
phổ biến rộng rãi.
Trƣớc đây, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã từng tồn tại những
khái niệm khác nhau để biểu đạt loại hình tranh chấp này. Mặc dù không xây
dựng đƣợc một khái niệm khái quát nhất, chính xác nhất nhƣng Pháp lệnh về
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/CP về tổ
trong Luật Thƣơng mại 1997, cụ thể tại Điều 238 quy định “tranh chấp thương
mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
hợp đồng thương mại”. Luật Thƣơng mại số 36/2005/ QH11 (sau đây gọi chung
là Luật Thƣơng mại 2005), Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (sau đây gọi
chung là Luật Doang nghiệp 2014) và Luật Trọng tài thƣơng mại số
54/2010/QH12 (sau đây gọi chung là Luật Trọng tài thƣơng mại 2010) không
khái niệm thế nào là tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại. Trong Luật Thƣơng
7
mại 2005 chỉ đƣa ra định nghĩa hoạt động thƣơng mại “là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Tại
Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi chung là Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015) cũng chỉ quy định những trƣờng hợp tranh chấp
về kinh doanh, thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà
không có khái niệm cụ thể.
Theo tác giả Hoàng Minh Chiến: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay
tranh chấp thương mại) là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh
doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh” (2).
Theo tác giả Nguyễn Hợp Toàn: “Tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất
đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về quyền và lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau.” (33).
Theo tác giả Nguyễn Mạnh Thắng: “Tranh chấp thương mại là tranh
chấp phát sinh từ hành vi thương mại”
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại nhƣng có thể hiểu một cách chung và khái quất nhất rằng: Tranh
chấp kinh doanh, thƣơng mại là những vƣớng mắc, bất đồng, mâu thuẫn,
với nhau hoặc giữa thƣơng nhân với bên không phải là thƣơng nhân. Một
tranh chấp đƣợc coi là tranh chấp thƣơng mại khi có ít nhất một bên là thƣơng
nhân. “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá
nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký
kinh doanh” (11, Điều 6). Ngoài ra, tham gia vào các hoạt động thƣơng mại
còn có các cá nhân hoạt động thƣơng mại một cách độc lập, thƣờng xuyên
không phải đăng ký kinh doanh (Không phải là thƣơng nhân theo Luật thƣơng
mại). Tuy nhiên, cũng có một số trƣờng hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng
có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại nhƣ tranh chấp giữa
công ty với thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với
9
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách
công ty; tranh chấp giữa các bên không phải là Thƣơng nhân nhƣng có thỏa
thuận về việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Thƣơng mại và
các tranh chấp khác về kinh doanh, thƣơng mại;
Thứ tư, tranh chấp thƣơng mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh
chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của
các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế
thị trƣờng. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thƣờng xuyên,
liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế
khiến cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan
đến nhau khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể
dẫn đến tranh chấp trong mối quan hệ khác. Chẳng hạn doanh nghiệp A
vay tiền của ngân hàng để mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán
sản phẩm cho doanh nghiệp C theo các hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp
B không cung cấp đúng nguyên vật liệu nhƣ đã thoả thuận thì doanh nghiệp
A cũng sẽ không giao đƣợc hàng cho bên C nhƣ trong hợp đồng và không
thƣơng mại ngày càng phổ biến và phức tạp. Mục đích của hoạt động thƣơng
mại là sinh lợi, trong đó mục đích các thƣơng nhân hƣớng tới là lợi nhuận. Vì
vậy, để tránh các thiệt hại từ tranh chấp xảy ra, các thƣơng nhân đều tìm các
phƣơng pháp để giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích tốt nhất cho mình.
Căn cứ vào Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13
(sau đây gọi chung là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014) thì Tòa án nhân
dân là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền tƣ pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con ngƣời, quyền công dân, quyền và lợi hợp pháp của tổ chức, cá
nhân. Tòa án nhân danh nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thƣơng mại…
11
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng không quy định cụ thể về việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng phƣơng thức Tòa án, mà chỉ
liệt kê những tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại thuộc thẩm quyền của Tòa
án đó là:
(i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thƣơng mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
(ii) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
(iii) Tranh chấp giữa ngƣời chƣa phải là thành viên công ty nhƣng có
giao dịch về chuyển nhƣợng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
(iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
giữa công ty với ngƣời quản lý công ty trong công ty trách nhiệm hữu hạn
hoặc thành viên của Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty
cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên qua đến việc thành lập,
thương mại bằng Tòa án
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và hoạt động giải
quyết các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng Tòa án nói riêng là hoạt
động áp dụng pháp luật. Trong quá trình giải quyết tranh chấp thƣơng mại
bằng Tòa án, có những yếu tố ảnh hƣởng nhất định đến công tác xét xử,
phán quyết của Tòa án. Trong khuôn khổ của đề tài, em xin đƣa ra một số
yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
Một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động trực tiếp tới việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng Tòa án là hệ thống pháp luật.
Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thƣơng mại nói riêng “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” hay nói một cách khác, khi giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại, Tòa án phải tuân theo và áp dụng các quy
13
định của Hiến pháp, pháp luật Tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản Luật
chuyên ngành khác nhƣ Bộ luật Dân sự, Luật Thƣơng mại, Luật Doanh
nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tƣ, hệ thống văn bản Luật Ngân hàng…
nhằm đƣa ra bản án, quyết định chính xác nhất, đúng pháp luật, có hiệu quả
cao. Đặc biệt, trong thời gian giao thoa hiệu lực giữa các văn bản Luật với
nhau hiện nay thì vẫn còn nhiều vƣớng mắc và bất cập, ví dụ nhƣ Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015 đã có hiệu lực, tuy nhiên Tòa án cần phải có các văn bản
hƣớng dẫn để áp dụng, từ đó dẫn tới việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Xã hội thì luôn luôn vận động và phát triển, còn pháp luật thì vẫn
“đứng yên”. Trong quá trình làm luật, các nhà làm luật không thể dự liệu
đƣợc hết tất cả các tình huống có thể xảy ra, từ đó pháp luật trở nên “cũ”
không theo kịp với xu hƣớng phát triển của kinh tế, xã hội. Do vậy, khi áp
phán quyết kém chất lƣợng, từ đó dẫn đến hậu quả án bị hủy, bị sửa… làm
cho thời gian kéo dài, chi phí tốn kém. Đặc thù của kinh doanh, thƣơng mại là
mục đích lợi nhuận, cần phải nắm bắt cơ hội làm ăn… do đó, nếu vụ án kéo
dài thì các thƣơng nhân khó lòng có thể yên tâm thực hiện các công việc kinh
doanh, hoạt động thƣơng mại của mình. Vì vậy, đội ngũ Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân cũng ảnh hƣởng lớn đến việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại bằng Tòa án.
Thứ ba, về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ
Cơ sở vật chất của Tòa án và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành Tòa
án cũng có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại bằng Tòa án. Cơ sở vật chất phục vụ trực tiếp đến việc giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại bao gồm: trụ sở làm việc,
các phƣơng tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác giải quyết tranh chấp, các tài
liệu tham khảo, tài kiệu tra cứu (sách, báo, văn bản luật…) có những ảnh
hƣởng nhất định đến việc nâng cao chất lƣợng xét xử của Tòa án.
Chế độ đãi ngộ tốt sẽ khuyến khích cán bộ hăng hái làm việc, công tâm,
chống lại sự tha hóa, biến chất, bị mua chuộc, tham nhũng, nhận hối lộ… Khi
15
chế độ đãi ngộ không chú trọng, không đƣợc hợp lý thì đội ngũ cán bộ Tòa án
sẽ có hiện tƣợng lơ là công việc, vòi vĩnh các đƣơng sự… từ đó làm sai lệch
hồ sơ vụ án và có những bản án, quyết định không đúng với vụ việc tranh
chấp, không đúng tinh thần của pháp luật. Do vậy, cơ sở vật chất và chế độ
đãi ngộ ảnh hƣởng không nhỏ đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh
thƣơng mại bằng Tòa án.
1.1.3. Vai trò của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại bằng Tòa án
Khi có tranh chấp phát sinh trong hoạt động thƣơng mại, các bên phải tìm
có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị trƣờng. Mặt khác, mua bán trao đổi
là hoạt động diễn ra thƣờng xuyên, liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể
thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến cho những mối quan hệ này tạo
thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau khiến cho nếu tranh chấp phát
sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranh chấp trong mối quan hệ khác.
Từ đó, khi giải quyết triệt để đƣợc tranh chấp này sẽ làm ngăn ngừa đƣợc các
tranh chấp khác phát sinh, tránh cả một chuỗi dài nảy sinh tranh chấp dẫn đến
môi trƣờng kinh doanh bị đảo lộn không đƣợc ổn định, các hoạt động kinh
doanh, thƣơng mại của các Thƣơng nhân trong nền kinh tế cũng khó có thể
phát triển một cách ổn định, ít nhiều cũng bị ảnh hƣởng bởi các tranh chấp.
Do vậy, với hoạt động xét xử của Tòa án, Tòa án là ngƣời thứ ba đứng ra để
giải quyết, tháo gỡ các bất đồng, xung đột giữa các bên, từ đó làm giảm thiểu
đƣợc đáng kể các tranh chấp xảy ra và phòng ngừa đƣợc các tranh chấp khác
có thể phát sinh. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại của Tòa án có
vai trò ổn định môi trƣờng kinh doanh.
Thứ hai, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại bằng Tòa án có
vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm phạm
Khi thƣơng nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm, thì thƣơng nhân đƣợc quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo
17
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Quyền khởi kiện đƣợc quy định tại Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015, quy định “cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm
quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [21, Điều 186].
Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án dựa vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án và diễn biến phiên tòa để xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bên bị xâm hại. Toà án sẽ ra quyết định, bản án để buộc bên xâm hại phải chịu