Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
____________

NGUYỄN VĂN PHỤNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
_____________

NGUYỄN VĂN PHỤNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

2015 so với Bộ luật tố tụng dân sự 2005 ...................................................................... 18


1.2.2.1. So sánh BPKCTT của BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004…… 18
1.2.2.2. Những điểm mới của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 về
BPKCTT…………………………………………………………………………. 20
1.2.3. Quy định về đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan khi áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời ........................................................................................ 23
1.2.4. Quy định về yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ........................ 24
1.2.5. Quy định về giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ............. 24
1.2.5.1. Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời .................. 24
1.2.5.2. Thực hiện việc xem xét, giải quyết đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời.............................................................................................................. 25
1.2.5.3. Ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời .................................. 28
1.2.5.4. Thay đổi, bổ sung, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ....... 28
1.2.6. Khiếu nại, kiến nghị quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời ........................................................................................................................ 31
Tiểu kết luận Chương 1 ................................................................................................... 33

Chương 2: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án - thực trạng và giải pháp .......................................34
2.1. Thực trạng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại tòa án ............................................................................................ 34
2.1.1. Trước thời điểm áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm năm 2015........ ..............34
2.1.2. Từ khi áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .........................................37

2.1.2.1. Đối với một số quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng
BPKCTT…………………………………………………………………………...39
2.1.2.2. Đối với một số biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể………………………………41



KDTM

Kinh doanh thương mại

HĐXX

Hội đồng xét xử

TTDS

Tố tụng dân sự

PLTTDS

Pháp luật tố tụng dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

VADS

Vụ án dân sự



BPKCTT trong giải quyết tranh chấp KDTM chưa cao và kiến nghị một số giải
pháp hoàn thiện. Qua đó góp phần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao phụ trách.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Áp dụng BPKCTT trong giải
quyết tranh chấp KDTM tại tòa án - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận
văn thạc sĩ của mình.


2

2. Tình hình nghiên cứu
* Trước thời điểm áp dụng BLTTDS năm 2015 (trước ngày 01-7-2016):
Trước thời điểm áp dụng BLTTDS năm 2015 đã có những nghiên cứu khoa
học trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự. Có thể
nêu ra các nghiên cứu nổi bật có liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố
tụng dân sự, cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam", của Nguyễn Văn Pha, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997;
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng
dân sự Việt Nam", của Lê Thị Thu Hằng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012;
- ThS. Trần Anh Tuấn: "Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật
Tố tụng dân sự Việt Nam", Tạp chí Luật học, Đặc san góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng
dân sự 2004 ;
- ThS. Trần Anh Tuấn: "Các qui định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
Bộ luật Tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
12/2005;
- ThS. Trần Phương Thảo: "Bảo vệ quyền và lợi ích của người bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", Tạp chí luật học,
số 1/2009...
* Từ khi áp dụng BLTTDS năm 2015 đến nay:
Từ khi áp dụng BLTTDS năm 2015 đến nay chưa có công trình nghiên cứu về

cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án;
Chương 2: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án - thực trạng và giải pháp.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với 02 chương như nội dung của đề tài, có 02 câu hỏi nghiên cứu
đòi hỏi đề tài phải phân tích, làm rõ, đó là:
1. Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về BPKCTT?
2. Nguyên nhân dẫn đến việc tòa án ít áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại?
7. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và quy
định của pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án.
Tìm hiểu thực trạng, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thực tiễn từ khi áp
dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đến nay, xác định nguyên nhân tòa án ít áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại. Qua đó, đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng
cao tỷ lệ, hiệu quả áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án; nhằm mục tiêu bảo đảm môi trường


4

kinh doanh, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Kết quả nghiên cứu đề tài hy vọng đóng góp một phần nhỏ về mặt lý luận
cũng như thực tiễn nhằm hoàn thiện hơn nữa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 với
mục tiêu nâng cao tỷ lệ, hiệu quả áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.


thích hợp, có tính bắt buộc phải thực hiện để bảo vệ tạm thời quyền, lợi ích của
đương sự.

1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin., tr 161.
2
Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr 447.
3
Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr 9.


6

Về hình thức, BPKCTT chính là biện pháp thích hợp được áp dụng để giải
quyết tình trạng khẩn cấp của vụ việc. Xét về nội dung, BPKCTT thực chất là giải
pháp tạm thời cho tình trạng khẩn cấp. Thẩm phán – Phó chánh án TAND tối cao
Tưởng Duy Lượng khi nghiên cứu về BPKCTT đã khẳng định: “BPKCTT thực ra
chỉ là một giải pháp tình thế”4. Điều này còn có nghĩa là giải pháp tạm thời cho tình
trạng khẩn cấp chỉ được gọi là BPKCTT khi giải pháp đó được pháp luật quy định
và do tòa án có thẩm quyền quyết định áp dụng nhằm mục đích xử lý tạm thời, mau
chóng những dòi hỏi cấp bách trong xử lý vụ án để đảm bảo thi hành án.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại BLTTDS gồm các biện pháp
khác nhau, có những BPKCTT nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, có
những BPKCTT nhằm bảo vệ chứng cứ, có những BPKCTT nhằm bảo toàn tài sản,
đảm bảo thi hành án… Trong vụ án kinh doanh thương mại (KDTM) thì BPKCTT
hẹp hơn chủ yếu nhằm bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản hoặc đảm bảo thi hành án.
Như vậy, dưới góc nhìn rất cụ thể, trực diện và trên phương diện hình thức,
BPKCTT là các biện pháp do pháp luật quy định mà tòa án được áp dụng để tạm
thời giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản,
bảo đảm việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Dưới góc độ là một thủ tục tố tụng: Thủ tục áp dụng BPKCTT trong tố tụng là

sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình và bên thắng kiện sẽ không được đảm bảo
khả năng thi hành án dù thắng kiện. Tính khẩn cấp trong tranh chấp KDTM thể hiện
đậm nét vì đây là tranh chấp nhằm mục đích sinh lợi, tài sản tranh chấp là đối tượng
có khả năng sinh lợi cao, nên việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của đương sự
càng trở nên cấp bách hơn. Việc giải quyết kịp thời quyền lợi của họ trong quá trình
tố tụng là việc làm cần thiết làm ngay, tránh gây hậu quả không thể khắc phục được,
bảo vệ chứng cứ và đảm bảo quá trình thi hành án sau này. ần quy định trình tự áp
dụng các biện pháp này thật đơn giản về mặt thủ tục, nhanh chống về thời gian thực
hiện thì mới bảo vệ kịp thời các tình huống khẩn cấp ảnh hưởng đến nghĩa vụ về tài
sản trong tranh chấp KDTM.
1.1.2.2. Tính tạm thời
Quyết định áp dụng BPKCTT luôn có tính tạm thời. Bởi lẽ, vụ án vẫn chưa
giải quyết một cách triệt để, đây chỉ là một giải pháp tình thế để ngăn chặn, bảo vệ
tài sản tranh chấp, bảo tồn hiện trạng tài sản tranh chấp đang trong quá trình chờ các
thủ tục giải quyết, do đó chưa xác định tài sản tranh chấp thuộc về ai. Khi có bản
án, quyết định sau cùng và bản án có hiệu lực thi hành thì biện pháp khẩn cấp tạm
thời đương nhiên hết hiệu lực. Tính tạm thời thể hiện sự không ổn định và dễ thay
đổi của các BPKCTT, quá trình giải quyết vụ án phải tiến hành nhiều giai đoạn tố
tụng bắt buộc nên trải qua một thời gian nhất định thì mới có thể giải quyết toàn
diện vụ án. Do tính khẩn cấp làm nảy sinh yêu cầu áp dụng nên đồng thời cũng nảy
sinh tính tạm thời của biện pháp ngăn chặn trước mắt khi yêu cầu bảo vệ khẩn cấp
đến trước khi vụ án được giải quyết. Khi bản án được ban hành và có hiệu lực pháp
luật thì giải pháp tình thế để bảo vệ tài sản không còn cần thiết nữa. Tính khẩn cấp
và tính tạm thời có mối quan hệ với nhau. Khẩn cấp là tình huống cấp bách phát
sinh yêu cầu trực tiếp, tạm thời là việc đưa ra giải pháp giải quyết có tính tức thì,
đáp ứng yêu cầu khẩn cấp. Tính tạm thời được đảm bảo bởi nguyên tắc tự định đoạt
của đương sự trong việc yêu cầu thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong


8

vụ việc KDTM không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, biện
pháp khẩn cấp tạm thời ngày càng trở thành công cụ pháp lý vững chắc để các
đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia vào các quan hệ thương
mại.


9

1.1.4. Nguyên tắc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại
1.1.4.1. Nguyên tắc chung
- Đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời:
Đảm bảo tính nhanh nhóng, kịp thời là một nhiệm vụ bắt buộc trong việc giải
quyết vụ án kinh doanh thương mại. Vì chứng cứ dùng để giải quyết có thể bị hủy
hoại, tài sản tranh chấp có thể bị tẩu tán gây ảnh hưởng đến việc thi hành án. Đòi
hỏi áp dụng BPKCTT một cách nhanh chóng thì mới kịp thời bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án. Để thực hiện được điều đó, toà
án cần phải thực hiện các vấn đề sau:
+ Nhận đơn yêu cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp đơn yêu cầu Tòa
án áp dụng BPKCTT kể cả khi chưa thụ lí vụ án. Trong tố tụng dân sự nói chung,
dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt, các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp có
quyền yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình tố
tụng khi thấy cần thiết theo quy định khoản 1 Điều 111 BLTTDS 2015.
+ Toà án tiến hành xem xét, giải quyết ngay đơn yêu cầu của đương sự trong
thời gian ngắn nhất để đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời, quyết định áp dụng
BPKCTT chính là cơ sở pháp lí cho việc áp dụng BPKCTT. Theo quy định tại Điều
133 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thời hạn
tối đa là 3 ngày để ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu trước phiên toà, đương sự
yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT và đương sự không phải thực hiện nghĩa vụ
bảo đảm theo quy định tại Điều 136 BLTTDS năm 2015. Nếu tại phiên toà mà

trong vụ án KDTM. BPKCTT chỉ là giải pháp tạm thời nên khi tình trạng khẩn cấp
không còn, Toà án cần tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền yêu
cầu toà án thay đổi, bổ sung, huỷ bỏ BPKCTT đã được áp dụng.
- Bảo vệ quyền, lợi ích của các bên đương sự và người liên quan:
Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và người liên quan trong vụ
án sẽ phát sinh khi toà án áp dụng BPKCTT. Việc áp dụng BPKCTT của toà án
không phải để bảo vệ duy nhất quyền, lợi ích của một bên đương sự có yêu cầu mà
toà án phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các bên đương sự và cả chủ thể
khác không phải là đương sự nhưng có liên quan đến việc áp dụng BPKCTT. Toà
án ra quyết định áp dụng BPKCTT trước hết nhằm mục đích kịp thời bảo vệ bên
đương sự có yêu cầu. Khi áp dụng BPKCTT, toà án cũng phải thực hiện những
hành vi tố tụng do pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích của bên bị yêu cầu áp
dụng BPKCTT. Quyền lợi của người bị áp dụng BPKCTT cũng được bảo đảm khi
pháp luật buộc người yêu cầu toà án áp dụng BPKCTT phải thực hiện nghĩa vụ bảo
đảm, phải nộp giá trị tài sản nhất định để nếu sau khi việc yêu cầu áp dụng
BPKCTT là sai thì bồi thường cho người bị áp dụng BPKCTT tại Điều 136
BLTTDS năm 2015. Quy định này được xem là chế tài dân sự đối với những
người đưa ra yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng, nhằm ngăn chặn tình trạng
lạm quyền của những người có quyền yêu cầu. Pháp luật còn quy định các chủ thể
có quyền khiếu nại, kiến nghị về việc áp dụng BPKCTT. Việc xem xét, quyết định


11

áp dụng BPKCTT của toà án cần phải được cân nhắc, xem xét theo nguyên tắc bảo
đảm hài hòa quyền, lợi ích của các bên đương sự và người liên quan đến vụ án dân
sự, không thể vì đáp ứng yêu cầu khẩn cấp của một bên đương sự mà bỏ qua quyền,
lợi ích của các bên đương sự còn lại trong vụ án.
- Bảo đảm sự tương xứng với yêu cầu của người có quyền yêu cầu Toà án áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định
của pháp luật.
5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.


12

quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập
chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không
thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.”. Đối
chiếu với các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 187 quy định về quyền khởi
kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công
cộng và lợi ích của Nhà nước thì có thể loại bỏ được chủ thể có quyền yêu cầu Tòa
án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án KDTM là cơ
quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Vì các dấu hiệu, đặc điểm của các vụ án tranh chấp KDTM không thỏa mãn theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 187 BLTTDS 2015. Vì thế, chủ thể có quyền
yêu cầu Tòa án áp dụng các BPKCTT trong giải quyết vụ án tranh chấp KDTM tại
Tòa án chỉ có thể là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự.
- Tòa án tự động áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Theo quy định tại Điều 135 BLTTDS 2015 quy định về việc Toà án tự mình
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì: “Toà án tự mình ra quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5
Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không có yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời.”. Theo đó, quy định tại các khoản 1,2,3,4 và 5 Điều
114 thì đây không phải là BPKCTT được áp dụng trong giải quyết vụ án tranh chấp
KDTM mà đa phần là được áp dụng trong vụ án tranh chấp dân sự về hôn nhân gia
đình, bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm hay vụ án lao động.
Điều này có thể khẳng định rằng tòa án không thể tự mình ra quyết định áp dụng

1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.2.1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được quy
định tại Chương VIII, bao gồm 32 điều luật, là cơ sở pháp lý quan trọng cho toà án
trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đáp ứng yêu cầu cấp
bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án. Trong
đó, quy định khá chặt chẽ về điều kiện, trình tự, thủ tục, kiến nghị, khiếu nại… liên
quan đến áp dụng BPKCTT.
* Biện pháp khẩn cấp tạm thời nói chung trong tố tụng dân sự:
1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng,
sức khoẻ bị xâm phạm.
4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh


14

nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho
người lao động.
5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
quyết định sa thải người lao động.
6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.
7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.
10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà

cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp”.
Điều 120 BLTTDS năm 2015 quy định là “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài
sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” chứ không phải là “người đang
giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” nhưng vẫn tạo ra những
cách hiểu khác nhau. Do đó, BPKCTT kê biên sẽ được áp dụng khi mà hành vi tẩu
tán, hủy hoại tài sản tranh chấp chưa xảy ra trên thực tế, mới chỉ có căn cứ cho thấy
các hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp sẽ xảy ra nên cần áp dụng ngay biện
pháp kê biên.
1.2.1.2. Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh
chấp
Tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được thay đổi, chuyển
đổi quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Biện pháp này được quy định
tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 và điều kiện áp dụng BPKCTT này được
quy định tại Điều 121 BLTTDS năm 2015, theo đó chỉ được áp dụng nếu “trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài
sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang
tranh chấp cho người khác”. Như vậy, việc cấm chuyển dịch quyền về tài sản chỉ
được phép áp dụng đối với những tài sản tranh chấp và tòa án quyết định áp dụng
biện pháp này phải là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành
vi chuyển dịch quyền về tài sản tranh chấp cho người khác nhằm trốn tránh nghĩa
vụ của họ, quyền đối với tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị chuyển dịch, cần
phải ngăn chặn việc chuyển dịch để bảo toàn tài sản tranh chấp. Nhằm đảm bảo tài
sản để thi hành án.
1.2.1.3. Biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng bên
ngoài, vốn có của tài sản tranh chấp bởi việc thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp
sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản tranh chấp. Điều này được quy định tại khoản 8
Điều 114 BLTTDS năm 2015 và điều kiện áp dụng quy định tại Điều 122 BLTTDS
năm 2015. Đối với tài sản tranh chấp, có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu
hoặc giữ tài sản đang tranh chấp này có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm

hoặc tại kho bạc nhà nước, mọi giao dịch thực hiện đối với tài sản đó đều là vô hiệu.
Biện pháp này chỉ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho
thấy người có nghĩa vụ có tài khoản mở tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc
tại kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảo cho
việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo cho việc thi hành án. Biện pháp này được áp
dụng với tất cả những tài sản có khả năng thi hành nghĩa vụ chứ không phải là đối
với tài sản đang có tranh chấp và do tình thế khẩn cấp là cần phải bảo toàn ngay tài
khoản của người có nghĩa vụ nhằm bảo đảm thi hành án.
1.2.1.6. Biện pháp phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
7

Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư
pháp, Hà nội, tr 621.


17

Tòa án cô lập tài sản của người có nghĩa vụ đang do người khác giữ, buộc
người đang giữ tài sản của đương sự không được chuyển dịch tài sản đó cho người
khác. Đây là việc tòa án cô lập những tài sản của đương sự không phải do ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước giữ mà do một cá nhân, tổ chức khác
giữ. Điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 125 BLTTDS năm
2015, theo đó, chỉ có thể áp dụng biện pháp phong tỏa này “nếu trong quá trình giải
quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện
pháp này là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo cho việc
thi hành án”. Sau khi tòa án ra quyết định phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ thì mọi
giao dịch đối với tài sản có ở nơi gửi giữ bị ngừng lại, người đang giữ tài sản đó
không được chuyển dịch tài sản đó cho đến khi có quyết định của tòa án.
1.2.1.7. Biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
Tòa án cô lập tài sản của đương sự có nghĩa vụ và hiện do chính họ nắm giữ,

còn quy định tòa án có quyền áp dụng các BPKCTT khác mà pháp luật có quy định.
Ngoài các BPKCTT được quy định trong BLTTDS năm 2015, một số văn bản pháp
luật chuyên ngành khác cũng có quy định về các BPKCTT. Tuy nhiên, nguyên tắc
áp dụng các BPKCTT trong BLTTDS và các BPKCTT trong các văn bản pháp lý
chuyên ngành chưa được quy định rõ. Có thể hiểu linh hoạt là các BPKCTT được
quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành trước hết sẽ được áp dụng trong
giải quyết các vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên ngành mà văn bản pháp luật đó điều
chỉnh nhưng khi cần thiết vẫn có thể áp dụng BPKCTT không được quy định trong
văn bản pháp lý chuyên ngành nhưng được quy định trong BLTTDS trong giải
quyết vụ việc chuyên ngành đó.
1.2.2. Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 so
với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
1.2.2.1. So sánh BPKCTT của BLTTDS năm 2015 và BLTTDS năm 2004
BLTTDS năm 2015
1. Giao người chưa thành niên,

BLTTDS năm 2004
1. Giao người chưa thành niên

người mất năng lực hành vi dân sự, cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom,
người có khó khăn trong nhận thức, làm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục.
2. Buộc thực hiện trước một phần
2. Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng.
nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Buộc thực hiện trước một phần
3. Buộc thực hiện trước một phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status