VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ BÁ TÒNG
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ BÁ TÒNG
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG
MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ
HÀ NỘI, năm 2019
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP
TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI ....................................................................................... 5
1.1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại......................................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời ................................................. 5
1.1.2. Đặc trưng của biện pháp khẩn cấp tạm thời............................................ 6
1.1.3. Thuộc tính của biện pháp khẩn cấp tạm thời .......................................... 7
1.1.4. Sự cần thiết phải có biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài thương mại......................................................................... 8
1.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ................................. 100
1.2.1. Bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự .......................................... 100
1.2.2. Bảo đảm tính hiệu quả của biện pháp được áp dụng .......................... 100
1.2.3. Bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự.......................................... .12
1.3. Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong luật trọng tài thương
mại năm 2010………………………………………………………………..13
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP
TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY ...... 22
2.1. Những điểm mới, thuận lợi trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại .................... 22
2.2. Thực trạng về những bất cập, khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ..... 42
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ TĂNG CƯỜNG NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP
TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY ...... 47
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
nhiều Điều ước quốc tế về thương mại, Việt Nam là thành viên của tổ chức
thương mại quốc tế chính thức vào ngày 11/01/2007 , sự mâu thuẩn và xung
đột về lợi ích giữa các doanh nghiệp , các quốc gia với nhau là điều tất yếu,
do đó các tranh chấp phát sinh là điều không tránh khỏi. Việc sử dụng hiệu
quả các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại, mà đặc biệt là
giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại sẽ rất cần thiết để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tranh chấp.
Hiện nay số lượng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại còn
rất khiêm tốn, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại chưa thực sự là
một hình thức giải quyết góp phần giảm tải cho Tòa án vì nó tồn tại những
điều chưa phù hợp. Việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại
chưa được chú ý khiến cho các doanh nghiệp không tin tưởng vào quá trình
giải quyết cũng như thi hành các phán quyết của trọng tài thương mại.
Luật trọng tài thương mại ra đời năm 2010, bằng việc quy định rõ hơn
về các BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại, Luật trọng tài thương mại
năm 2010 đã thổi một luồng gió mới vào hình thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại. Đặc biệt, việc quy định có tính chất mở rộng quyền của
HĐTT trong việc áp dụng các BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại.
Tuy được quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục đối với việc áp dụng
BPKCTT nhưng trong quá trình thực hiện tại trọng tài thương mại đã nảy sinh
ra nhiều khó khăn, bất cập và việc thiếu thống nhất với nhau giữa các văn
bản pháp luật điều chỉnh việc áp dụng BPKCTT. Do vậy tác giả chọn đề tài “
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng Trọng
1
tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay”. Làm đề tài nghiên cứu của
luận văn cao học luật, chuyên nghành luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
mại đối với việc áp dụng các BPKCTT.
Đánh giá thực trạng các qui định và tình hình áp dụng BPKCTT trong
thời gian qua để hoàn thiện và tăng cường hiệu quả trong áp dụng các
BPKCTT của Hội đồng trọng tài trong gải quyết các tranh chấp thương mại ở
Việt Nam, Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại
Việt Nam năm 2010 về các quy định liên quan đến áp dụng các BPKCTT
trong quá trình tố tụng trọng tài thương mại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật
Việt Nam về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại
chủ yếu các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Luật trọng tài thương mại năm
2010.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm biện chứng và duy
vật của chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm đường lối chính sách của Đảng,
Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống:
+ Phương pháp phân tích.
+ Phương pháp liệt kê.
+ Phương pháp chứng minh
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp nghiên cứu tổng hợp
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3
Luận văn góp phần hoàn thiện hơn pháp luật quy định về việc áp dụng
các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng
phương thức trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Đồng
Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam không đưa ra khái niệm về
BPKCTT mà chỉ quy định về điều kiện và thủ tục yêu cầu áp dụng BPKCTT,
theo điều 33 PLTTTM năm 2003 Trong quá trình Hội đồng trọng tài (HĐTT)
giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại
hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa
án cấp tỉnh nơi HĐTT thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số
BPKCTT.
Tác giả Tưởng Duy Lượng định nghĩa trong cuốn sách về “Pháp luật tố
tụng dân sự và thực tiễn xét xử” xuất bản năm 2009, về BPKCTT như sau “
BPKCTT là biện pháp Tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý và trong
quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của
đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại
không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án” [10, tr.225]. Với
định nghĩa này cũng nêu rõ mục đích của việc áp dụng BPKCTT, đồng thời
cũng chỉ rõ hơn về thời điểm áp dụng BPKCTT trong tố tụng dân sự.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là những biện pháp khẩn cấp
cần được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt, để tạm thời giải quyết
những vấn đề cấp bách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên
tranh chấp hoặc nhằm ngăn chặn các sự việc, hiện tượng hoặc hành vi có hại
5
cho các bên, cũng như cho quá trình thụ lý và giải quyết tranh chấp tại trọng
tài thương mại.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) trong tố tụng trọng tài thương
mại là những biện pháp khẩn cấp, cần thiết được trọng tài tạm thời áp dụng
trong quá trình thụ lý và giải quyết tranh chấp, trước khi ra quyết định cuối
cùng về vụ việc tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các
bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài cũng như bảo đảm cho
đẳng. Do vậy, ngoài người yêu cầu, người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT là
đương sự của vụ tranh chấp thì người liên quan đến đối tượng bị áp dụng
cũng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1.1.3. Thuộc tính của biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tính “khẩn cấp”: cần được tiến hành, được giải quyết ngay không chậm
trễ, có tính chất nghiêm trọng, đòi hỏi phải có ngay những biện pháp tích cực
để đối phó, không cho phép chậm trễ.
Tính “tạm thời”: thể hiện ở chỗ, quyết định áp dụng BPKCTT không
phải là quyết định cuối cùng giải quyết tranh chấp, chỉ tạm thời được áp dụng
nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên có liên quan hoặc nhằm giúp cho
thủ tục tố tụng trọng tài được thực thi một cách hiệu quả. Sau khi quyết định
áp dụng BPKCTT, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì HĐTT hủy
quyết định này.
Tính khẩn cấp cũng được hiểu là BPKCTT được áp dụng khi quyền lợi
của một bên đương sự đang bị đe dọa, đang trong tình thế cấp bách, hoặc khi
chứng cứ đang có nguy cơ bị tiêu hủy, tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị
tẩu tán. Do vậy tính khẩn cấp của biện pháp này thể hiện ở chổ HĐTT phải ra
ngay quyết định áp dụng BPKCTT và quyết định này phải được thi hành ngay
nếu không thì việc ra quyết định không còn giá trị.
7
Một tính chất không thể thiếu của BPKCTT nữa đó chính là tính có
hiệu lực thi hành ngay, tính “ kịp thời” của quyết định áp dụng BPKCTT tính
chất này xuất phát từ tính khẩn cấp tạm thời và được thi hành ngay mà không
bị kháng cáo kháng nghị, cơ quan thi hành án phải chủ động tổ chức thi hành
quyết định ngay.
Tính khẩn cấp của BPKCTT chỉ được bảo đảm khi và chỉ khi quyết
định áp dụng BPKCTT hợp pháp dựa trên điều kiện, thủ tục, thời hạn áp
Quy định BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quá trình thụ lý tranh chấp bảo
toàn tình trạng tài sản, bảo đảm đối tượng của vụ tranh chấp không bị thay
đổi trước khi trọng tài ra phán quyết về vụ tranh chấp.
Việc áp dụng BPKCTT mang nhiều ý nghĩa không những đối với việc
giải quyết vụ kiện của trọng tài mà cả đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các bên tranh chấp. Điều này tạo lòng tin cho các doanh nghiệp khi
họ muốn lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại,
Họ hiểu rằng dù cơ quan giải quyết tranh chấp là Tòa án hay Trọng tài thương
mại thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong tố tụng vẫn được pháp luật
thừa nhận và bảo vệ.
Trên thực tế vì lợi ích của mình hoặc do sự thiếu thiện chí của một
trong số các bên tranh chấp đã có hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ
việc áp dụng BPKCTT trong những trường hợp này, một mặt có tác động
chống lại các hành vi đó nhằm bảo vệ được chứng cứ, mặc khác còn bảo toàn
được tình trạng tài sản và giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành quyết
định của trọng tài thương mại sau này.
Việc áp dụng BPKCTT sẽ giúp các doanh nghiệp trong việc bảo toàn
vốn, bảo vệ tình trạng tài sản của doanh nghiệp và trong nhiều trường hợp là
bảo vệ tài sản của Nhà nước, tài sản chung của các cổ đông.
9
Quy định về các BPKCTT trong tố tụng trọng tài thương mại góp phần
nâng cao uy tín của các tổ chức trọng tài thương mại nói chung và của việc
giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại nói riêng.
Có thể nói áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một thủ tục mang lại
kết quả giải quyết vụ việc tranh chấp có hiệu quả nhất. Áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời là một trong những hoạt động tố tụng được hội đồng trọng
tài có thẩm quyền áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ
lợi và đặc biệt là việc đảm bảo cho việc thi hành quyết định trọng tài.
Tính hiệu quả của BPKCTT thể hiện trước hết ở tính kịp thời của nó,
sự chậm trễ trong áp dụng BPKCTT có khi dẫn đến việc vô hiệu hóa toàn bộ
kết quả hoạt động tố tụng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên có lợi ích hợp
pháp, kéo theo nhiều hệ lụy về trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh
thương mại cho các bên tranh chấp mà khó có thể khắc phục được trên thực
tế. Theo khoản 4 điều 50 LTTTM năm 2010 trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đơn, ngay sau khi bên yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo
đảm theo quy định thì HDTT xem xét ra quyết định áp dụng BPKCTT.
Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, HĐTT thông báo bằng văn bản nêu rõ
lý do cho bên yêu cầu biết. Việc thi hành quyết định áp dụng BPKCTT của
HĐTT được thưc hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
(theo khoản 5 điều 50 LTTTM năm 2010).
Theo khoản 5 điều 49 LTTTM năm 2010 Hội đồng trọng tài áp dụng
BPKCTT khác hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng BPKCTT của bên yêu cầu mà
gây thiệt hại cho bên yêu cầu, bên bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người bị
thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
11
1.2.3. Bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự
Quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự là một trong những
nguyên tắc cơ bản thể hiện sự tôn trọng nguyện vọng của các đương sự. Theo
khoản 1 điều 4 LTTTM năm 2010 Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận
của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình (theo khoản 3 điều 4 LTTTM năm 2010- Nguyên
tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài).
tài sản hoặc người khác đang có hành vi làm thay đổi hiện trạng của tài sản
như phá hủy, tháo dỡ, lắp ghép xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay
đổi hiện trạng tài sản, người yêu cầu áp dụng BPKCTT đã thực hiện nghĩa vụ
bảo đảm tài chính.
Đương sự yêu cầu áp dụng BPKCTT phải đưa ra tài liệu, chứng cứ
chứng minh bên đang chiếm hữu, giữ tài sản đang có hành vi làm thay đổi
hiện trạng tài sản. HĐTT hoặc Thẩm phán phải xem xét các yêu cầu, các căn
cứ mà đương sự đã đưa ra để quyết định có áp dụng BPKCTT đó hay không.
- Nghiêm cấm các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng
tài.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu thấy đương sự nào đó đang
có hành vi mà hành vi đó sẽ tác động gây bất lợi cho quá trình tố tụng trọng
tài thì đương sự bên kia có quyền yêu cầu trọng tài hoặc Tòa án áp dụng biện
pháp cấm hoặc buộc bên tranh chấp thực hiện một hoặc một số hành vi nhất
định. Khi có đương sự yêu cầu áp dụng BPKCTT này, nếu thấy yêu cầu đó là
chính đáng và đương sự đã xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho
việc cần thiết phải áp dụng BPKCTT này thì Trọng tài hoặc Tòa án phải áp
dụng ngay.
- Kê biên tài sản đang tranh chấp
13
Kê biên tài sản chỉ áp dụng cho trường hợp người chiếm giữ tài sản
đang có tranh chấp có hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản đang có tranh chấp gây
khó khăn trong việc xem xét, giải quyết của HĐTT hoặc thi hành án sau này,
thì theo yêu cầu của một trong các bên đương sự HĐTT hoặc Tòa án có quyền
áp dụng BPKCTT này.
Khi lập biên bản kê biên phải ghi rõ ngày, giờ, loại tài sản, mô tả đầy
đủ, chính xác tình trạng tài sản. Nếu cơ quan , người thứ ba được giao quản lý
tài sản kê biên có thể được hưởng thù lao theo quy định của pháp luật.
- Kê biên tài sản tranh chấp;
- Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;
- Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ;
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng.
Theo khoản 2 điều 49 LTTTM năm 2010 các BPKCTT bao gồm:
- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;
- Cấm các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
- Kê biên tài sản đang tranh chấp;
- Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của
một hoặc các bên tranh chấp;
-Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp.
Tuy nhiên, LTTTM năm 2010 lại không quy định về biện pháp phong
tỏa tài khoản tại ngân hàng, phong tỏa tài sản nơi gửi giữ, phong tỏa tài sản
của người có nghĩa vụ… Điều này là không phù hợp với tính chất của hoạt
động thương mại vì trong thực tiễn kinh doanh hiện nay các doanh nghiệp
thường giao dịch với nhau thông qua ngân hàng nơi có tài khoản của họ,vì
vâỵ khi xảy ra tranh chấp nếu một bên có ý đồ không tốt như cố tình không
15
thực hiện nghĩa vụ bằng cách tẩu tán tài sản chuyển khoản sang tài khoản của
người khác thì HĐTT sẽ rất khó kiểm soát được hành vi này.
Thẩm quyền áp dụng BPKCTT của HĐTT
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một trong các bên tranh chấp yêu
cầu HĐTT áp dụng BPKCTT thì HĐTT có quyền áp dụng BPKCTT và chỉ
được áp dụng các BPKCTT mà đương sự đã yêu cầu.
Theo điều 49 LTTTM năm 2010 thì HĐTT có quyền áp dụng BPKCTT
đối với các bên tranh chấp mà không có thẩm quyền đối với bên thứ ba. Điều
có thể áp dụng BPKCTT khi có đủ bốn điều kiện sau:
- Phải có đương sự yêu cầu áp dụng một hoặc một số BPKCTT cụ thể;
- Người yêu cầu phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự
cần thiết phải áp dụng BPKCTT đó;
- Người yêu cầu áp dụng BPKCTT đã thực hiện nghĩa vụ bảo đảm về
tài chính để đảm bảo việc bồi thường những thiệt hại do việc yêu cầu áp dụng
BPKCTT không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng;
- Chưa có đương sự nào yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT
Nếu thiếu một trong bốn điều kiện nói trên thì HĐTT sẽ không áp dụng
BPKCTT.
Thủ tục áp dụng BPKCTT của HĐTT theo điều 50 LTTTM
- Bên yêu cầu áp dụng BPKCTT phải làm đơn gửi đến HĐTT theo
khoản 1 điều 50 LTTTM năm 2010.
- Đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT phải có các nội dung chính sau đây
theo khoản 2 điều 50 LTTTM năm 2010.
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của bên có yêu cầu áp dụng BPKCTT;
c) Tên, địa chỉ của bên bị yêu cầu áp dụng BPKCTT;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp;
17
đ) Lý do cần phải áp dụng BPKCTT;
e) BPKCTT cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể;
Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT, bên yêu cầu phải cung cấp
cho HĐTT chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT
đó.
Theo quyết định của HĐTT, bên yêu cầu áp dụng BPKCTT phải gửi
một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do HĐTT ấn định
tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do do áp dụng BPKCTT không