Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2010 - 2014
ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI - LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG HOÀN
THIỆN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Tiến sĩ Cao Nhất Linh
Quách Minh Trí
Bộ môn:Luật kinh doanh, thương mại
MSSV: 5105925
Lớp: Luật Thương mại 1 – K36
Cần thơ, năm 2013
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA THẦY CÔ
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
Giảng viên
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
3
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luật Trong tài thương mại
LTHA
Luật thi hành án
PLTTGQVADS
Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự
PLTTGQVAKT
Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
4
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
i
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
1.4.3.
Từ ngày 01/01/2005 đến nay
Error! Bookmark not defined.
1.5. Các BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại............... Error! Bookmark not defined.
1.5.1.
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004
Error! Bookmark not defined.
1.5.2.
Theo Luật Trọng tài thương mại 2010
Error! Bookmark not defined.
Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Error! Bookmark not defined.
2.1.
Quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại Error! Bookmark
not defined.
2.1.1. Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu ............................................ Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Chủ thể có quyền yêu cầu ........................................................ Error! Bookmark not defined.
2.1.2.1.... Chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại tại
tòa án .............................................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.4.1.
Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ BPKCTT trong giải quyết tranh chấp
thương mại tại tòa án Error! Bookmark not defined.
2.4.2.
Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ BPKCTT trong giải quyết tranh chấp
thương mại tại trọng tài thương mại
Error! Bookmark not defined.
2.5.
Thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại
Error! Bookmark not defined.
2.5.1. Thủ tục áp dụng ....................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.5.2. Thủ tục thay đổi, bổ sung BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án và
trọng tài thương mại ........................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.5.3. Thủ tục hủy bỏ BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án và trọng tài
thương mại .............................................................................................................................................
Error! Bookmark not defined.
2.6.
Hiệu lực của quyết định về BPKCTT
Error! Bookmark not defined.
2.7.
Thi hành quyết định về BPKCTT của tòa án và trọng tài thương mại
not defined.
2.8.
Trách nhiệm bồi thường do áp dụng BPKCTT không đúng
defined.
Error! Bookmark not defined.
3.4.
Hạn chế trong quy định về biện pháp bảo đảm Error! Bookmark not defined.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
6
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
3.5.
Thời hạn ra quyết định áp dụng BPKCTT quá dài
3.6.
Thi hành BPKCTT còn chậm
3.7.
Căn cứ hủy bỏ BPKCTT chưa hợp lý
3.8.
Trách nhiện khi áp dụng BPKCTT không đúng Error! Bookmark not defined.
ảnh hưởng đến việc bảo vệ tính đúng đắn của vụ án và gây khó khăn công tác thi hành
án. Điều này đã dẫn đến trường hợp nhiều vụ án không thể giải quyết được vì chứng
cứ đã bị hủy hoặc đã giải quyết nhưng vẫn còn nằm trên giấy không thể thi hành án vì
đương sự đã tấu tán tài sản trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.
Để giải quyết tranh chấp thương mại, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ
sung 2011 (sau đây gọi chung là BLTTDS 2004) và Luật Trọng tài thương mại 2010
(sau đây gọi chung là LTTTM 2010) đã ra đời như một tất yếu khách quan. Với việc
quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) đã khắc phục được những hạn
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
7
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
chế nêu trên, đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết của các bên tranh chấp, giúp họ
bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình trong quá trình giải quyết tranh
chấp thương mại.
Tuy nhiên, trên thực tế những quy định về BPKCTT vẫn còn nhiều điều bất cập
tạo ra nhiều khó khăn cho người yêu cầu cũng như các cơ quan, tổ chức giải quyết
tranh chấp trong quá trình áp dụng BPKCTT, từ đó làm cho quá trình thực thi pháp
luật gặp nhiều khó khăn.
Nhận thấy được tầm quan trọng của BPKCTT trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên tranh chấp; người có quyền và nghĩa vụ liên quan (sau đây
gọi chung là đương sự), bảo vệ tính đúng đắn của vụ tranh chấp và đảm bảo khả năng
thi hành án trong giải quyết tranh chấp thương mại, người viết chọn lĩnh vực “Biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu những quy định của pháp luật về quyền yêu
cầu áp dụng và quá trình thực hiện BPKCTT trên thực tế, những khó khăn gặp phải
trong quá trình thực thi pháp luật để đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về quy
định BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn, người viết đã sử dụng tổng hợp các phương pháp đã
được học trong chương trình cử nhân luật như phương pháp phân tích luật viết để tìm
hiểu những quy định của pháp luật về BPKCTT. Thông qua đó kết hợp với phương
pháp so sánh, đối chiếu lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật trong các văn bản
khác nhau để tìm ra những điểm tương đồng và khác nhau; đối chiếu giữa lý luận và
thực tiễn để tìm ra những bất cập đang hiện hữu. Bên cạnh những phương pháp trên,
người viết còn sưu tầm các tài liệu từ sách, báo, tạp chí và các trang web chuyên ngành
để bổ sung kiến thức đa chiều hỗ trợ tích cực cho việc hoàn thành luận văn.
5. Bố cục luận văn
Luận văn “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại
– Lý luận và hướng hoàn thiện” gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận.
Phần nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải
quyết tranh chấp thương mại
Chương này giúp người đọc hiểu được một cách khái quát về BPKCTT, đặc
điểm, ý nghĩa và lịch sử phát triển của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương
mại.
Chương 2: Quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết
tranh chấp thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Chương này giúp người đọc nắm được nội dung cơ bản về áp dụng BPKCTT
như: quyền yêu cầu, thời điểm yêu cầu, thẩm quyền và thời hạn ra quyết định, trình tự
và thủ tục áp dụng, biện pháp bảo đảm và thi hành BPKCTT trong giải quyết tranh
chấp thương mại.
thực thi điều này, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phải đảm bảo cho việc giải
quyết vụ tranh chấp được diễn ra khách quan và quá trình thi hành bản án hoặc phán
quyết (sau đây gọi chung là thi hành án) phải được đảm bảo theo đúng pháp luật. Tuy
nhiên, quá trình từ khi khởi kiện đến khi thụ lý, giải quyết, đưa ra bản án (hoặc phán
quyết) và thi hành án chiếm một khoản thời gian khá dài. Đặc biệt là đối với những
tranh chấp thương mại phức tạp và có giá trị tài sản lớn thì thời gian này còn có thể
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
10
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
kéo dài hơn thời gian giải quyết các tranh chấp thông thường. Trên thực tế, để giải
quyết được một vụ tranh chấp thương mại cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp
không thể đưa ra kết luận vội vàng mà phải trãi qua một trình tự, thủ tục theo luật định.
Trong khoản thời gian ấy, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp cần phải nhận định,
đánh giá chứng cứ, lắng nghe lời tranh luận của các bên mới có thể đưa ra một bản án
(hoặc phán quyết) khách quan, đúng đắn. Vì thời gian để giải quyết một vụ tranh chấp
thương mại là quá dài nên có thể dẫn đến chứng cứ bị sai lệch, tài sản bị tẩu tán, quyền
và lợi ích của đương sự không được đảm bảo làm ảnh hưởng đến kết quả của giải
quyết tranh chấp và quá trình thi hành án.
Xuất phát từ xung đột lợi ích đương sự có thể thực hiện các hành vi tiêu cực
như hủy hoại chứng cứ, tẩu tán tài sản,….nhằm gây ra những khó khăn nhất định cho
bên còn lại và cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp. Khi ấy, không chỉ quyền và lợi
ích của đương sự bị xâm phạm mà việc giải quyết vụ tranh chấp cũng gặp không ít khó
khăn. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phải đưa
hoàn thiện
Ở đây chúng ta cần phải xác định được các tranh chấp thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của tòa án và các tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết
của trọng tài thương mại (TTTM).2
Về tính chất, có thể xem BPKCTT là một biện pháp mang tính chất tình thế,
tạm thời giúp cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp có thể can thiệp một cách kịp thời
vào vụ tranh chấp, giúp quá trình giải quyết vụ tranh chấp được diễn ra khách quan,
thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, bảo toàn tài sản thi hành án.
Tuy nhiên, nếu xét về khía cạnh thủ tục tố tụng có thể hiểu BPKCTT chỉ là một
công đoạn tố tụng rút ngắn, giản đơn nhằm giúp cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp
can thiệp kịp thời và nhanh chóng vào những tranh chấp. Quy trình áp dụng BPKCTT
chỉ là một phần phụ phái sinh, có tính chất bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính sẽ và
đang được cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp thụ lý, giải quyết. Vì vậy, việc áp
dụng hay không áp dụng BPKCTT không làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của
việc giải quyết tranh chấp thương mại.3
1.2. Đặc điểm của BPKCTT
BPKCTT chỉ là một trong những biện pháp có thể được áp dụng trong quá trình
tố tụng nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết tranh chấp thương mại được diễn ra
khách quan và không gặp trở ngại. Do đó, để phân biệt giữa BPKCTT với các biện
pháp khác trong tố tụng chúng ta phải dựa vào những đặc điểm đặc trưng riêng biệt để
nhận biết. Đó là tính khẩn cấp và tính tạm thời.
1.2.1. Tính khẩn cấp
BPKCTT dù nhìn ở bất kỳ góc độ nào thì cũng có đặc điểm cơ bản nhất đó là
tính khẩn cấp. Tính khẩn cấp của BPKCTT được thể hiện ở những phương diện sau:
Thứ nhất, BPKCTT chỉ được áp dụng khi vụ tranh chấp kinh doanh, thương
mại đang có sự khẩn cấp.
Can thiệp nhanh chóng, xử lý nhanh và hiệu quả tức thì là những ưu điểm mà
BPKCTT mang lại đối với những vụ tranh chấp thương mại đặt ra những yêu cầu cấp
bách. Như một giải pháp tình thế tạm thời, BPKCTT được cơ quan, tổ chức giải quyết
áp dụng BPKCTT. Chẳng hạn, trong vụ tranh chấp về thanh toán tiền hàng giữa hai
công ty X và Y. Với ý định tẩu tán số hàng đã mua công ty X đã rao bán số hàng này.
Trong trường hợp này rõ ràng tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị tẩu tán, vụ tranh
chấp đang khẩn cấp nhưng vì luật chưa ghi nhận sự việc như thế nào được gọi là khẩn
cấp nên nếu nhận thấy sự cấp bách cần ngăn chặn ngay hành vi của công ty X thì công
ty Y có thể gửi đơn yêu cầu được áp dụng BPKCTT. Tóm lại, dù nhìn nhận ở khía
cạnh nào thì BPKCTT cũng chỉ được áp dụng khi vụ án có sự khẩn cấp.
Thứ hai, thời hạn ra quyết định áp dụng BPKCTT rất nhanh chóng
Cần khẳng định lại rằng BPKCTT chỉ là một phần phụ - một thủ tục phái sinh
trong một trình tự thủ tục tố tụng chung giải quyết tranh chấp. Cơ quan, tổ chức giải
quyết tranh chấp ra quyết định áp dụng BPKCTT trên cơ sở vụ tranh chấp đang có sự
khẩn cấp. Vì thế, thủ tục áp dụng BPKCTT không thể nào giống như thủ tục giải quyết
vụ án được, bởi sẽ tốn rất nhiều thời gian làm mất đi tác dụng của BPKCTT. Do đó,
việc ra quyết định áp dụng BPKCTT phải được thực hiện trong một thủ tục nhanh
chóng và rấp rút, nếu không việc áp dụng BPKCTT sẽ không còn ý nghĩa trên thực tế.
Mặc dù vậy, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp cũng không thể quá rấp rút, lơ là
trong việc cho áp dụng BPKCTT. Một khi BPKCTT được áp dụng nó sẽ có tác dụng
ngay tức khắc, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên nên phải hết sức cân nhắc, không
thể áp dụng BPKCTT chỉ trên cơ sở đơn yêu cầu của các bên tranh chấp mà phải trãi
qua sự xem xét kỹ lưỡng. Đó là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp
đóng vai trò là “trọng tài” cần phải bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tranh chấp
nhưng cần lưu ý thời gian quyết định BPKCTT cũng không nên quá lâu.
Thứ ba, BPKCTT được thi hành rất nhanh
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
13
SVTH: Quách Minh Trí
BPKCTT chỉ là thủ tục tố tụng rút ngắn tạm thời mang tính chất bổ trợ cho thủ tục tố
tụng giải quyết tranh chấp kinh thương mại đang diễn ra nên việc cho hay không cho
áp dụng BPKCTT sẽ không ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của quá trình giải quyết
tranh chấp.
Như vậy, Tính khẩn cấp và tính tạm thời là hai đặc điểm quan trọng để nhận
biết BPKCTT với các biện pháp khác của quá giải quyết tranh chấp thương mại.
1.3. Mục đích và ý nghĩa của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
14
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
Bảo vệ quyền và lợi ích của hợp pháp của đương sự là một trong những nguyên
tắc cơ bản của tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài. Trên thực tế, vì xung đột về lợi ích
nên có những trường hợp đương sự thực hiện việc tẩu tán tài sản, hủy bỏ chứng
cứ,…nhằm gây khó khăn cho bên còn lại trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ và tạo ra các trở ngại cho cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, đối
với các tranh chấp thương mại phức tạp, có giá trị tài sản lớn thì những hành vi này rất
dễ xảy ra, nhanh hơn và tinh vi hơn. Vì thế, việc áp dụng BPKCTT trong giải quyết
tranh chấp thương mại nhằm mục đích giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo
toàn tình trạng tài sản tranh chấp, bảo vệ chứng cứ. Từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự và đảm bảo thi hành án. Không chỉ thế, BPKCTT còn mang nhiều
ý nghĩa đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại:
Thứ nhất, giúp cho việc giải quyết vụ tranh chấp được chính xác, chống lại các
hành vi gây trở ngại trong quá trình giải quyết.
hợp đồng khác. Trong trường hợp này nếu công ty B không kịp thời yêu cầu áp dụng
BPKCTT thì dù thắng kiện công ty B cũng khó thu hồi nợ và có thể dẫn đến vỡ nợ.
Tuy nhiên nếu áp dụng BPKCTT phong tỏa tài khoản của công ty A kịp thời thì khả
năng thu hồi nợ của công ty B sẽ được đảm bảo, giúp công ty B tránh được nguy cơ vỡ
nợ và sớm ổn định hoạt động.
Thứ ba, giúp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật từ sự áp dụng linh hoạt
BPKCTT
BPKCTT chỉ áp dụng khi vụ án đang có sự khẩn cấp. Khi có những nhu cầu
cấp bách thì đương sự mới có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT. Điều này tránh sự tùy
tiện trong việc áp dụng BPKCTT. Mặt khác, Nếu BPKCTT đã được áp dụng mà sau
một thời gian sự khẩn cấp ấy đã không còn thì cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp
cũng sẽ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT. Sự linh hoạt này giúp hạn chế tối đa tình trạng
đương sự lạm dụng BPKCTT để gây khó khăn, trở ngại cho bên còn lại, ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của
công dân.
1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp
thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam
1.4.1. Từ ngày 01/01/1990 đến ngày 01/7/2003
Ngày 01/01/1990 Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQVADS) bắt
đầu có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật TTDS ở Việt Nam. Đây
cũng được xem là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận BPKCTT trong giải quyết vụ
án. Tại pháp lệnh này, BPKCTT được quy định tại chương VIII gồm 2 điều: 41 và 42.
Theo đó, để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc để bảo vệ chứng
cứ thì tòa án tự mình áp dụng, viện kiểm sát hoặc đương sự có thể yêu cầu áp dụng các
BPKCTT sau đây:
1. Buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng;
2. Giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chăm
nom;
3.
Có thể nói, lần đầu tiên BPKCTT được ghi nhận trong một chương riêng của
Pháp lệnh đã cho thấy được tầm quan trọng của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ
án. Tuy nhiên, vì lần đầu được ghi nhận nên vẫn còn nhiều thiếu soát, hạn chế như
không thể thay đổi BPKCTT, không quy định về biện pháp đảm bảo, thời hạn xem xét
ra quyết định áp dụng BPKCTT và trách nhiệm bồi thường khi áp dụng không đúng.
Mặc dù vậy, việc quy định BPKCTT đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cấp bách thực
tế của đương sự trong việc giải quyết vụ án lúc bấy giờ.
Tiếp theo PLTTGQVADS, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(PLTTGQVAKT) có hiệu lực ngày 01/7/1994 tiếp tục ghi nhận về BPKCTT tại
chương VIII từ Điều 41 đến Điều 44 bao gồm các BPKCTT sau đây:
1.
2.
vi nhất định;
3.
4.
Kê biên tài sản đang tranh chấp, phong tỏa tài khoản;
Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hành
Cho thu hoạch và bảo quản sản vật có liên quan đến tranh chấp;
Cho bán sản phẩm, hàng hóa dễ hư hỏng.
Nhìn chung PLTTGQVAKT cũng quy định tương tự như PLTTGQVADS về
chủ thể, thời điểm yêu cầu, cách thức yêu cầu, thời điểm thi hành BPKCTT, khiếu nại
và giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, so với PLTTGQVADS
thì PLTTGQVAKT đã có một số điểm mới tích cực đáng ghi nhận như:
- Quy định thời hạn xem xét ra quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án là 03
ngày;
- Có thể thay đổi BPKCTT đã được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án;
- Lần đầu tiên trách nhiệm bồi thường của bên yêu cầu, áp dụng BPKCTT được
ghi nhận.
3. Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;
4. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;
5. Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ;
6. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng.
Nhìn chung những quy định về BPKCTT cũng tương tự với những Pháp lệnh ở
giai đoạn trước nhưng có một số điểm mới sau đây:
- Bên yêu cầu áp dụng BPKCTT phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu của mình là có căn cứ.
- Biện pháp bảo đảm được đặt ra đối với bên yêu cầu áp dụng BPKCTT để tránh
tình trạng lạm dụng BPKCTT gây thiệt hại cho phía đương sự bên kia.
- Thời hạn để Thẩm phán được phân công phải xem xét và ra quyết định áp dụng
BPKCTT là 05 ngày kể từ ngày nhận được giao.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
18
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
Như vậy, có thể nói trong giai đoạn này BPKCTT đã được quy định khá hoàn
chỉnh, là tiền đề để các văn bản pháp luật về Tố tụng trọng tài ở giai đoạn sau hoàn
thiện hơn.
1.4.3. Từ ngày 01/01/2005 đến nay
Trong giai đoạn này tư duy lập pháp của nước ta có sự thay đổi theo chiều
hướng mới tích cực hơn. Thay vì phân chia thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh
tế, lao động ra nhỏ lẽ để quy định trong từng văn bản tố tụng khác nhau thì nay chúng
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
quyền và lợi ích của người khác được yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, lại không
quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT. Cũng như các Pháp lệnh
trước, Tòa án cũng có thể tự áp dụng BPKCTT nếu xét thấy cần thiết nhưng chỉ trong
một số trường hợp luật định.
Thời điểm yêu cầu áp dụng: Trước khi thụ lý vụ án cùng thời điểm nộp đơn
khởi kiện hoặc trong quá trình giải quyết vụ án. Thay đổi này giúp bảo vệ quyền và lợi
ích của đương sự kịp thời.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng không đúng BPKCTT được quy
định rõ ràng hơn và bổ sung căn cứ hủy bỏ BPKCTT để tránh tình trạng thực hiện theo
cảm tính và việc lợi dụng BPKCTT để gây khó khăn cho đương sự bên kia.
Trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được quy định rõ ràng hơn
tạo điều kiện cho công dân dễ dàng tiếp cận quy định pháp luật để tự bảo vệ quyền và
lợi ích của mình khi cần thiết.
Có thể nói BLTTDS 2004 là văn bản ghi nhận một cách đầy đủ nhất về
BPKCTT trong giải quyết vụ án dân sự nói chung ở nước ta. Những điểm mới của
BLTTDS 2004 đã phát huy được hiệu quả quan trọng của BPKCTT trong quá trình
giải quyết vụ án.
Một văn bản pháp luật tiêu biểu khác quy định về BPKCTT trong giai đoạn này
là Luật Trọng tài thương mại 2010 có hiệu lực ngày 01/01/2011. Kế thừa và phát huy
những quy định về BPKCTT trong Pháp lệnh TTTM 2003, LTTTM 2010 tiếp tục ghi
nhận BPKCTT trong phương thức giải quyết tranh chấp tại TTTM. Những điểm mới
đáng chú ý:
Các BPKCTT có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của
biện pháp này được quy định chung cho giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia
đình, lao động và thương mại. Mỗi biện pháp điều có những đặc tính riêng của nó nên
tùy vào các quan hệ tranh chấp mà áp dụng các biện pháp phù hợp. Có những biện
pháp phù hợp với các loại tranh chấp nhưng cũng có những biện pháp chỉ thích hợp
với một loại tranh chấp nhất định. Trong phạm vi đề tài người viết chỉ đề cập tới các
biện pháp có thể áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại, một loại tranh chấp
vốn đa dạng và có các đặc trưng riêng về chủ thể và lợi ích tranh chấp nên không thể
áp dụng hết các biện pháp nêu trên mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp sau đây:
1. Kê biên tài sản đang tranh chấp;
2. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp;
3. Cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp;
4. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác;
5. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, các tổ chức tính dụng khác, kho bạc
nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
6. Phong tỏa tài khoản của người có nghĩa vụ;
7. Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định;
8. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định.
1.5.2. Theo Luật Trọng tài thương mại 2010
Các BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại tại TTTM được quy định
tại khoản 2 Điều 49 LTTTM 2010 bao gồm 6 biện pháp:
1. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
21
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH VỀ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TRONG HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
Trong giải quyết tranh chấp thương mại, BPKCTT là giải pháp hữu hiệu để bảo
vệ chứng cứ và tài sản tranh chấp trong những trường hợp cấp bách. Để BPKCTT phát
huy tốt hiệu quả, pháp luật cần thiết phải có những quy định thật cụ thể và rõ ràng về
quyền và thời điểm yêu cầu cũng như trình tự, thủ tục để áp dụng BPKCTT trong các
giai đoạn giải quyết tranh chấp thương mại.
2.1. Quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại
2.1.1. Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu
Điều 2 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “ Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”. Vì thế mọi công dân đều phải sống và
làm việc theo đúng pháp luật, nghĩa là công dân chỉ được làm những gì mà pháp luật
không cấm và cho phép. Để công dân biết và làm theo đúng pháp luật thì luật phải quy
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
23
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
2004. Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến hai chủ thể là đương sự và người đại diện hợp
pháp của đương sự.
Thứ nhất, đương sự
Là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và
nghĩa vụ liên quan thỏa mãn năng lực pháp luật TTDS (khả năng có các quyền và
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
24
SVTH: Quách Minh Trí
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại – Lý luận và hướng
hoàn thiện
nghĩa vụ trong TTDS) và năng lực hành vi TTDS (khả năng tự mình thực hiện quyền,
nghĩa vụ hoặc ủy quyền cho người đại diện)4.
Ví dụ: A (15 tuổi) vay của B (30 tuổi) 50 triệu, đến hạn A không thể trả cho B
lúc này B có quyền khởi kiện và yêu cầu A phải trả tiền đã vay khi đó ta nói B đã thỏa
mãn năng lực pháp luật TTDS. Về năng lực hành vi TTDS thì trong trường hợp này
đã hơn 18 tuổi và không thuộc trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
nên B đã thỏa mãn năng lực hành vi TTDS theo quy định tại khoản 3 Điều 57 của
BLTTDS 2004. Riêng đối với A chưa đủ 18 tuổi nên chưa thỏa mãn năng lực hành vi
TTDS, mặt khác vì A chưa đủ 16 tuổi nên việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của A
phải thông qua người đại diện theo quy định tại khoản 4 Điều 57 BLTTDS 2004.
Thứ hai, người đại diện hợp pháp của đương sự
Là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng và thực hiện thay các quyền và
nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng. Trong TTDS nói chung, sự có mặt của người đại
diện có ý nghĩa rất lớn trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thực hiện
quyền và nghĩa vụ. Người đại diện hợp pháp theo trong TTDS bao gồm: người đại
SVTH: Quách Minh Trí