BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ BAN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô cùng các bạn đã giúp tôi trong thời
gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
Đặc biệt, chi phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo – TS.
Nguyễn Thị Dung – giảng viên bộ môn pháp luật Thương mại, khoa Pháp luật
Kinh tế trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình, giúp đỡ, chỉ bảo tôi hoàn
thành luận văn thạc sĩ này.
Kính chúc các thầy cô mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp.
Tòa án nhân dân tối cao
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
VKHXX
Viện khoa học xét xử
KDTM
Kinh doanh thương mại
QĐST
Quyết định sơ thẩm
QĐPT
Quyết định phúc thẩm
HĐTD
Hợp đồng tín dụng
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
mại tại Tòa án nhân dân
2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa
20
án nhân dân
2.2. Một số quy định về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh,
27
thương mại tại Tòa án nhân dân
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh,
34
thương mại tại Tòa án nhân dân và một số đánh giá
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc giải
52
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân
3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vào
52
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại
55
thời. Nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể có mâu thuẫn tự giải quyết với nhau,
nếu không giải quyết được có thể thông qua trọng tài thương mại, việc giải quyết
bằng con đường Tòa án chỉ là giải pháp cuối cùng. Nhưng chính việc giải quyết
bằng con đường Tòa án mới chỉ có thể đảm bảo tối đa quyền lợi các bên, bởi chỉ có
Tòa án mới có được các công cụ bảo đảm cho các bên thực hiện nghĩa vụ của mình
thông qua các biện pháp cưỡng chế thi hành các phán quyết của tòa án.
Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có ý nghĩa
quan trọng đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như sự phát triển lành
mạnh của nền kinh tế. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại hiệu quả,
công minh và đáng tin cậy là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng một môi
trường kinh doanh lành mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế.
Từ năm 2005 trở lại đây, tòa án áp dụng chủ yếu là BLTTDS 2004, Luật
Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 …cùng với những văn bản hướng dẫn
của ngành, và mới nhất là BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung một số điều có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Tuy nhiên, thực tiễn trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề vướng mắc cần
2
phải nghiên cứu do hệ thống các văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ, chậm được
ban hành, chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu không thống nhất và
việc vận dụng không đạt được tính thuyết phục. Điều đó làm cho hoạt động xét xử
của Tòa án mà ở đây là Tòa Kinh tế gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến tình
trạng có những vụ án kinh tế bị giải quyết kéo dài qua nhiều cấp giải quyết, hướng
dẫn của ngành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các
cấp giải quyết dẫn đến tình trạng án bị sửa, bị hủy. Hậu quả là khi bản án có hiệu
lực thì bên buộc phải thi hành đã mất khả năng thanh toán hoặc tẩu tán hết tài sản
rồi tuyên bố phá sản….
Do đó, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh
văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Vân Anh “Giải quyết tranh chấp công ty bằng
Tòa án ở Việt Nam”, luận văn thạc sỹ của Cung Mỹ Anh với đề tài “Giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Những vướng mắc và giải pháp khắc phục” (2008), đến luận án tiến sỹ: “Giải
quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam” của Đào
Văn Hội (2003)….
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành về pháp luật cũng đã có không ít các
bài viết về loại đề tài này như: “Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở
Việt Nam” của TS Phan Chí Hiếu (2005), “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004” của Viên Thế Giang (2005)…
Nhìn chung, các công trình đã nhìn thấy sự cần thiết và giới thiệu khái quát về
loại hình tài phán Tòa án kinh tế ở Việt Nam. Các công trình đã đề cập đến thủ tục
tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại dưới góc độ và những khía
cạnh khá chi tiết và đầy đủ. Tuy nhiên, những công trình được nghiên cứu cách đây
nhiều năm nên không tránh khỏi nhiều hạn chế, chưa có điều kiện để đánh giá một
cách đầy đủ, sâu sắc thực trạng việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại Tòa án. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
khi mà Việt nam đã là thành viên của WTO, sự ra đời của BLTTDS 2004 và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2004 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ
sung BLTTDS) có hiệu lực tháng 01 năm 2012, Luật Thương mại 2005…thì hầu
4
như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn tiếp tục đặt ra và có nhu cầu được giải quyết. Đó cũng chính là cơ hội để
luận văn này có thể góp phần đóng góp cho khoa học pháp lý hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Khi tiếp cận, nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề “Giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân– Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động”, người viết mạnh dạn phân tích đánh giá các quy định của pháp
từ đó thấy được những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp này tại Tòa án
thông qua các vụ án cụ thể trong thực tiễn. Qua đó đưa ra những đề xuất, phương
hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của
Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển kinh tế
về giải quyết tranh chấp để các quy định đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện nay.
Luận văn vận dụng các phương pháp luận của triết học Mác – Lê Nin, của Lý
luận Nhà nước và Pháp luật trong điều kiện thực tế hiện nay. Bên cạnh đó, luận
văn còn sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp,
khảo sát thực tiễn…để giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Tác giả của luận văn với một mong muốn là công trình nghiên cứu có ít nhiều
gia trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt
động giảng dạy pháp lý cũng như tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp
hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Cụ thể luận văn có những đóng góp cho khoa học pháp lý như sau:
6
- Làm rõ được những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án nhân dân, về khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
và những đặc điểm, bản chất, nguyên tắc của tranh chấp này tại Tòa án.
- Hệ thống pháp luật nước ta có những bước tiến rõ rệt với sự ra đời của Luật
Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, BLTTDS 2004 và đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2011. BLTTDS là sự phát triển quan trọng của nền tư
pháp – thống nhất thủ tục tố tụng dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại. Để
bất đồng về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thương mại.
Ở góc độ ngôn ngữ phổ thông, “kinh doanh” là tổ chức, sản xuất, buôn bán sao
cho sinh lời”, “kinh tế” là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định, “thương mại” là thực hiện lưu thông hàng hóa bằng mua bán.
Theo cách hiểu này, nội hàm tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm cả tranh
chấp kinh doanh, thương mại. Có thể bao quát tranh chấp kinh tế gồm các tranh
chấp kinh doanh, thương mại: Tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư, tranh
chấp giữa quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại song
phương và đa phương, tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc
tế trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại đa phương. Kinh tế có sự
bao hàm yếu tố quản lý và yếu tố chính trị khác.
Ở góc độ pháp lý, hiện nay hầu hết quan điểm lại đồng nhất “tranh chấp kinh
tế” với “tranh chấp kinh doanh, thương mại”.
Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật Thương mại
quốc tế (UNCITRAL) đưa ra khái niệm “thương mại” với nội hàm rất rộng liên
quan đến tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại. Xuất phát từ đó mà tranh
8
chấp thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các tranh chấp
phát sinh từ các giao dịch thương mại.
Ở Việt Nam, quan niệm về tranh chấp kinh tế có những điểm khác nhau qua
mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung,
nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chi
tiêu, kế hoạch do Nhà nước giao. Hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một
hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị
kinh tế, mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước. Do
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế. Đồng thời cũng đặt
ra nhu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế.
Trong Luật Thương mại 2005 không đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại,
mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao
gồm mua bán hang hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005).
Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng đã được mở
rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này của Luật
Thương mại 2005 cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng
tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 2005 “Kinh
doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi” (Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Theo Điều 29 BLTTDS 2004 thì tranh chấp kinh doanh, thương mại được
hiểu là những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng, tranh chấp kinh doanh, thương mại
theo quy định của BLTTDS 2004 thực chất là tranh chấp kinh tế đã được mở rộng
nội hàm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế
quốc tế. Nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại được liệt kê tại Điều 29
BLTTDS 2004, thực chất cũng là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp
cận của Luật Thương mại năm 2005. Tuy có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu
10
khác nhau và có sự thay đổi trong thuật ngữ pháp lý, nhưng thực tế đều nhìn nhận
những xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ kinh doanh, thương mại là tranh
chấp kinh doanh, thương mại. Nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và
tranh chấp kinh doanh, thương mại được thể hiện qua các quy định trong văn bản
thường gay gắt, tính chất phức tạp do đó các tranh chấp kinh doanh, thương mại
nếu không được giải quyết thì không những sẽ để lại hậu quả xấu cho các bên
tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể khác, thậm chí ảnh hưởng đến nền
kinh tế cuả đất nước.
1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Sự phát triển đa dạng của các tranh chấp kinh doanh, thương mại và yêu cầu
linh hoạt để giải quyết tranh chấp này là tất yếu khách quan hình thành sự đa dạng
về các hình thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Theo
quy định của pháp luật hiện nay có các phương thức cơ bản thường được áp dụng:
1.2.1. Thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò của
người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày
quan điểm, tìm ra các biện pháp thích hợp, trên cơ sở đó đi đến thống nhất để giải
quyết các bất đồng. Thương lượng là biện pháp khá phổ biến và thích hợp cho việc
giải quyết các tranh chấp. Đây là hình thức có tính chất đơn giản, ít tốn kém không
làm phương hại đến các quan hệ hợp tác vốn có của các bên, giữ được bí mật kinh
doanh lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý.
Thương lượng đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực và hợp tác, phải
có những kiến thức cần thiết về chuyên môn pháp luật. Đối với các vụ việc phức
tạp, mỗi bên có thể chỉ định những chuyên gia có trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm nghề nghiệp thay mặt mình để tiến hành thương lượng. Kết quả của
thương lượng thường là những cam kết, thỏa thuận về những giải pháp cụ thể
nhằm tháo gỡ những bất đồng phát sinh trước đó.
Tuy nhiên, hình thức thương lượng cũng còn một số nhược điểm: Khó thực
hiện nếu các bên đã mâu thuẫn trong vấn đề tranh chấp và không có thiện chí. Giá
12
trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa được quy định cụ thể và không có giá
trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên
tắc xét xử không công khai hoặc xử kín. Theo nguyên tắc này các bên có thể giữ
được bí mật kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình. Giải quyết trọng tài
không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm
trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình. Phán quyết của trọng tài có tính
chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng hòa giải. Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có
quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay tòa án nào.
Nhược điểm của việc giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí
tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao. Việc thi
hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi
hành bản án, quyết định của Tòa án.
1.2.4. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại Tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có
những nhược điểm nhất định. Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông
qua Tòa án là: Do là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Tòa án có
tính cưỡng chế cao. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra
Tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua
kiện có tài sản để thi hành án. So với phương thức giải quyết tranh chấp bằng con
đường trọng tài thì việc giải quyết tranh chấp tại Toà án đã bộc lộ nhiều ưu thế
hơn hẳn về trình tự tố tụng chặt chẽ, tính khả thi của hiệu lực phán quyết. Tuy
nhiên, nhược điểm của phương thức này là thủ tục tại Tòa án thiếu linh hoạt do
đã được pháp luật quy định trước đó. Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai
của Tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi
lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ, thủ tục
giải quyết phức tạp dài, chi phí cao.
Có thể nói rằng, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh,
thương mại đều có những đặc điểm và hạn chế nhất định, chỉ có các đương sự và
cấp độ xét xử. Hoạt động xét xử của Tòa án thông qua hai cấp xét xử: sơ thẩm, phúc
15
thẩm. Trong một số trường hợp cụ thể, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật còn có thể xét xử theo thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Nguyên tắc
nhiều cấp xét xử đảm bảo cho quyết định của Toà án được chính xác, công khai,
khách quan và đúng pháp luật. Việc có nhiều cấp xét xử với những Hội đồng xét xử
khác nhau là nhằm loại trừ sự thiên vị, thiếu khách quan của những người tham gia
xét xử và tạo điều kiện cho các đương sự có đủ thời gian, cơ hội chuẩn bị hồ sơ,
chứng cứ, bổ sung chứng cứ vào bất kỳ giai đoạn tố tụng nào. Tuy nhiên, nguyên tắc
nhiều cấp xét xử cũng bộc lộ hạn chế là vụ việc có thể bị xem xét kéo dài, xử đi xử
lại nhiều lần gây bất lợi cho các đương sự, nhất là các doanh nghiệp tham gia hoạt
động kinh tế.
- Các phán quyết của Toà án được bảo đảm thi hành bằnh sức mạnh cưỡng
chế của Nhà nước.
- Toà án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và theo
nguyên tắc đa số.
Việc Tòa án xét xử các tranh chấp kinh doanh, thương mại góp phần ổn định
các quan hệ kinh tế thị trường mà còn tác động tích cực vào các quan hệ đó, đảm
bảo cho các quan hệ kinh tế này tồn tại và phát triển phù hợp với định hướng phát
triển kinh tế chung của đất nước. Khi Tòa án đưa ra một phán quyết giải quyết
tranh chấp, có nghĩa là Nhà nước đã gián tiếp tuyên bố lợi ích hợp pháp, quyền
bình đẳng và tự do kinh doanh theo pháp luật của các tổ chức, cá nhân được Nhà
nước tôn trọng và bảo vệ. Các quan hệ kinh tế diễn ra trong khuôn khổ pháp luật,
luôn được sự bảo hộ về mặt pháp lý từ phía Nhà nước.
1.3.2. Nguyên tắc của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án nhân dân
Trong kinh doanh, giữa các cá nhân, đơn vị kinh doanh luôn phải có sự liên kết
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.
Về nguyên tắc các quan hệ kinh tế là những quan hệ được xác lập một cách tự
nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng
17
ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện. Nói cách khác, sự xác lập các quan hệ
kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định, và được Nhà nước bảo đảm nếu không trái
với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội . Chính vì thế, khi phát sinh tranh
chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình; nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm
cho dù đã có yêu cầu Nhà nước bảo vệ. Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động
kinh doanh đúng pháp luật. Nhà nước chỉ tham gia giải quyết khi các đương sự có yêu
cầu. Cơ quan tài phán không tự đưa các tranh chấp kinh doanh, thương mại của các bên
ra xét xử, mà phải có đơn khởi kiện của một trong các bên tranh chấp.
Đương sự có quyền tự hòa giải ở tòa án, quyền rút đơn kiện, quyền thay đổi
nội dung đơn kiện, quyền tự do lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp
khác nhau. Nguyên tắc này được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố
tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc,
các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận
với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc thực
hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá
trình thi hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Quyền tự định đoạt còn được thể hiện các bên có thể ủy quyền cho luật sư
hoặc người khác thay mặt mình mà không cần trực tiếp phải tham gia tố tụng.
b. Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ
được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các
bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh
doanh, thương mại. Đồng thời làm tốt hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền
bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân,
hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp. BLTTDS cũng quy định cụ
thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi
chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được
hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những
vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
19
Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế. Việc hòa
giải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán. Xu hướng chung của các
Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc
chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận
(nhiều hay ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân
nhượng hợp tác trong kinh doanh của các bên đương sự. Tòa án chỉ đưa vụ án ra
xét xử khi hòa giải không thành.
d. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Về nguyên tắc khi giải quyết các vụ việc thương mại phải nhanh chóng, kịp
thời đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm. Trong BLTTDS quy định cụ
thể thời hạn ở các giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng
cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng
cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm... Phần lớn Toà
án các cấp đều giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định.
Để thực hiện được nguyên tắc này, bản thân tòa án phải được tổ chức và hoạt
động sao cho có hiệu quả, đặc biệt là trình độ của Thẩm phán được nâng cao không chỉ
trong lĩnh vực pháp luật nói chung mà còn cả trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
c) Phân phối;
d) Đại diện, đại lý;
đ) Ký gửi;
e) Thuê, cho thuê, thuê mua;
g) Xây dựng;
h) Tư vấn, kỹ thuật;
i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội
địa;
k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;
l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;
m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;