Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án nhân dân tỉnh cà mau - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN THANH HIỀN

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN THANH HIỀN

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ HOÀNG ĐỨC


1.1.2. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại ............................................... 6
1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án ........................................... 7
1.2.1. Khái niệm ............................................................................................................. 7
1.2.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án ............ 7
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án .................................................................................................................................... 8
1.3. Quy định pháp luật về hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Tòa án hiện nay .................................................................................................................. 9
1.3.1. Những nguyên tắc cơ bản .................................................................................... 9
1.3.1.1. Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự ................................................. 9
1.3.1.2. Thực hiện hòa giải ........................................................................................ 9
1.3.1.3. Đương sự có nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ ......................... 10
1.3.1.4. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng ........................................... 11
1.3.1.5. Giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời ...................................................... 12
1.3.1.6. Xét xử công khai ......................................................................................... 12
1.3.1.7. Đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự ......................................................... 12
1.3.2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại
..................................................................................................................................... 14
1.3.2.1. Thẩm quyền theo vụ việc ............................................................................ 14
1.3.2.2. Thẩm quyền theo cấp Tòa án ...................................................................... 16
1.3.2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn .......................................... 18
1.3.3. Thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án ........ 19


1.3.3.1. Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm ........................................ 19
1.3.3.2. Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm .................................... 21
1.3.3.3. Giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn; Thủ tục xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật ................................................................................... 22
1.3.4. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ngoài Tòa án
................................................................................................................................. 23

Kết luận chương 2 ............................................................................................................ 39

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau ........................................41
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
......................................................................................................................................... 41
3.1.1. Nội dung chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị ............ 41
3.1.2. Yêu cầu phát triển nền kinh tế đất nước cần phải giải quyết tốt tranh chấp kinh
doanh, thương mại ....................................................................................................... 41
3.2. Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại một số nước .......... 44
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại tại Tòa án .................................................................................................................. 46
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại ................................................................................................................... 46
3.3.2. Hoàn thiện pháp luật quy định thẩm quyền của Tòa án các cấp ........................ 47
3.3.4. Giải pháp về công nhận sự tự thỏa thuận của đương sự trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại....................................................................................... 49
3.3.5. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh
doanh, thương mại ....................................................................................................... 49
3.3.6. Nâng cao hiệu quả hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
..................................................................................................................................... 51
3.4. Những giải pháp đặc thù giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án tỉnh Cà Mau ................................................................................. 53
3.4.1. Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào tố tụng tại Tòa án ..................... 53
3.4.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau .......... 57
Kết luận chương 3 ............................................................................................................ 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT


kinh doanh, thương mại. Đặc biệt, đối với một tỉnh với nền kinh tế đang phát triển
nhanh chống trong thời gian gần đây thì tình trạng tranh chấp về kinh doanh thương
mại sẽ phát sinh ngày càng nhiều, kinh nghiệm của Thẩm phán trong giải quyết loại
án này còn hạn chế thì việc nghiên cứu ra các giải pháp phát huy tốt nhất hiệu quả
giải quyết các loại án này là cấp thiết. Với vai trò không thể thiếu của Tòa án trong
việc bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong các tranh chấp kinh doanh,
thương mại hiện có nhiều bất cập cần điều chỉnh cũng như đề xuất các giải pháp để


2

nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng
con đường Tòa án là điều cần thiết, vì thế người viết đã chọn đề tài “Những vấn đề
lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
nhân dân tỉnh Cà Mau” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Trong thời gian
nghiên cứu, do năng lực chuyên môn còn hạn chế, hoàn cảnh công tác tại Tòa án
cấp huyện còn nhiều khó khăn thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Cà Mau, vì thế
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự cảm thông và góp ý chân
tình của Hội đồng để Đề tài được trở nên hoàn thiện hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, người dân quan tâm nhiều đến hoạt động của Tòa án khi mà ngày
càng có nhiều tranh chấp kinh doanh, thương mại đã lựa chọn Tòa án như là một
phương thức giải quyết hiệu quả nhất, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
trong thời gian qua, tiêu biểu sau:
- Luận án Tiến sĩ luật học: “Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân đối với
các vụ việc kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của
Nguyễn Văn Tiến, năm 2009. Trình bày những vấn đề lý luận và quy định của pháp
luật về thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp kinh doanh, thương mại, đề
xuất các giải pháp khắc phục các hạn chế của pháp luật về thẩm quyền xét xử của
Tòa án.

kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, qua đó đề ra những giải
pháp góp phần hoàn thiện pháp luật trong hoạt động giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại bằng con đường Tòa án.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về lý luận trong hoạt động
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án; thực tiễn trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau hiện nay, từ
đó phát hiện những bất cập trong hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Tòa án và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu quy
định của pháp luật hiện hành về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại Tòa án; phương pháp thống kê để thu thập và xử lý số liệu nhằm làm rõ những
vấn đề cần giải quyết trong Luận văn; phương pháp phân tích và so sánh để nêu bật
những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Làm rõ thêm cơ sở lý luận cũng như cơ sở pháp lý trong hoạt động giải quyết
các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án, giúp phát hiện
những bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án và đề ra các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện nay.


4

5.2. Giá trị ứng dụng của đề tài
Làm phong phú nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức và cá
nhân trong quá trình nghiên cứu về hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh,

Đặc điểm của kinh doanh, thương mại
Kinh doanh, thương mại bao gồm các đặc điểm sau:
- Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu cần phải có trong kinh doanh thương
mại, vốn kinh doanh có thể là các khoản vốn bằng tiền và các tài sản khác.
- Việc mua hàng hóa rồi bán lại để tìm kiếm lợi nhuận là hành vi đòi hỏi phải
được thực hiện trong kinh doanh, thương mại. Xét trên toàn bộ và cả quá trình thì
hoạt động kinh doanh, thương mại phải thực hiện hành vi mua hàng, nhưng mua
hàng không phải để mình dùng mà mua hàng để bán cho người khác nhằm thu về
lợi nhuận.
- Việc bảo toàn nguồn vốn ban đầu và phát sinh lợi nhuận sau mỗi chu kì
kinh doanh là nhiệm vụ mang tính sống còn trong kinh doanh, thương mại. Có như
vậy, mới mở rộng và phát triển kinh doanh, ngược lại thua lỗ dẫn tới doanh nghiệp
bị rơi vào tình trạng phá sản.

Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
2
Thư viện học liệu mở Việt Nam, Kinh doanh, thương mại và vai trò của kinh doanh, thương
mại,http://voer.edu.vn/c/mot-so-van-de-ly-luan-ve-hoat-dong-kinh-doanh-cua-doanh-nghiep-thuongmai/5630e7a8, [truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015].
1


6

- Hoạt động kinh doanh, thương mại luôn chịu sự chi phối của các quy luật
kinh tế, hệ thống chính sách và pháp luật của nhà nước cũng chịu ảnh hưởng bởi
môi trường kinh doanh.
- Sự vận động của hàng hóa trong hoạt động kinh doanh, thương mại là
không giống nhau tùy thuộc vào nguồn hàng, ngành hàng dẫn đến chi phí thu mua
và thời gian lưu chuyển hàng hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng.

Thứ tư, đây thường là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và có giá trị
lớn, việc giải quyết tranh chấp này là vấn đề mà các bên tranh chấp có quyền lựa
chọn.

1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
1.2.1. Khái niệm
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án là hình thức giải
quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh
quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể
cả bằng sức mạnh cưỡng chế.
Việc giải quyết này phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp
luật đã quy định như phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi
kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của
Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… đây chính là
thủ tục tố tụng Tòa án.
1.2.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án có
những đặc trưng sau:
Toà án là cơ quan trung gian phán xử quan hệ tranh chấp giữa các bên, đây là
cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng
Tòa án không cần phải có sự thỏa thuận trước. Các bên tranh chấp không có thỏa
thuận gì về phương thức giải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại
Toà án nếu như các bên không tự thương lượng hoặc hoà giải được. Các thành viên
tham gia Hội đồng xét xử cũng phải thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật có quy
định.
Giải quyết tranh chấp phải tuân thủ nguyên tắc tố tụng do pháp luật quy định.
Bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự pháp luật quy định và
nó có giá trị bắt buộc đối với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật, các bên phải tự
nguyện thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành.

ra, trong quá trình giải quyết vụ án, các bên vẫn có quyền chấm dứt, thay đổi các
yêu cầu của mình, hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội. Quyền tự định đoạt của các bên trong tranh chấp kinh doanh,
thương mại được quy định cụ thể tại Điều 5 BLTTDS năm 20155.
1.3.1.2. Thực hiện hòa giải
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án
về tranh chấp kinh doanh, thương mại, hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung và
đối với hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng tại Tòa án
có những đặc điểm cơ bản sau:

Điều 30 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, quy định: “1. Mọi người có
quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định
của pháp luật.”
5
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 quy định: “1. Đương
sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án thụ
lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; 2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo
đức xã hội.”
4


10

Thứ nhất, hòa giải do Tòa án tiến hành đối với các vụ án kinh doanh, thương
mại là bắt buộc, trừ một số vụ việc luật không cho phép.
Thứ hai, Tòa án chỉ có nghĩa vụ phải tiến hành hòa giải ở giai đoạn chuẩn bị

mình là có căn cứ và hợp pháp.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh
chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định. ”.


11

việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ. Đương sự phản đối
yêu cầu của người khác đối với mình thì cũng phải chứng minh sự phản đối đó là có
căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho phản đối của mình. Khi đương
sự giao nộp chứng cứ cho Tòa án thì Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận
chứng cứ theo đúng quy định pháp luật. Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập
chứng cứ trong những trường hợp luật định. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 85
BLTTDS thì trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ
và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp như lấy
lời khai của đương sự, người làm chứng; trưng cầu giám định, quyết định định giá
tài sản, xem xét, thẩm định tại chỗ, ủy thác thu thập chứng cứ để thu thập chứng cứ.
1.3.1.4. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng
Bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc quan trọng được Hiến pháp Việt
Nam ghi nhận7, cũng như BLTTDS 2015 quy định: “Các đương sự đều có quyền
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo
điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”8. Nguyên tắc bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính khách
quan, đúng pháp luật cho việc giải quyết vụ án. Theo đó, mọi chủ thể đều bình đẳng
trước pháp luật, trước Tòa án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Mọi cá nhân, tổ chức đều bình
đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề
khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng, Tòa án có
trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách

điều đương nhiên.
1.3.1.6. Xét xử công khai
Hiến pháp hiện nay có quy định: “Tòa án nhân dân xét xử công khai”, tuy
nhiên, không phải vụ việc nào việc xét xử công khai cũng được thực hiện, theo đó:
“Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân
tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng
của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xử kín”9. Trong hoạt động kinh doanh,
thương mại thì yếu tố bí mật kinh doanh trong nhiều trường hợp được xem như yếu
tố thành bại của doanh nghiệp, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi không
thể tiết lộ được cũng như không thể chia sẻ cho tất cả các doanh nghiệp khác biết;
nếu không sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định: “Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật
Nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên
hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín”10.
Với nguyên tắc xét xử công khai, người dân sẽ thực hiện quyền giám sát của
mình đối với hoạt động xét xử của Tòa án, người tiến hành tố tụng cũng như người
tham gia tố tụng nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm của mình, đồng thời nó
mang ý nghĩa giáo dục mọi công dân trong việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
1.3.1.7. Đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự

9

Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Khoản 2 Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

10


13

11

Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 quy định:
1. Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ Luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật
này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.
3. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ
thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
4. Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự.


14

1.3.2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp kinh doanh,
thương mại
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại là quyền xem
xét giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, quyền ra quyết định khi giải
quyết các tranh chấp đó theo quy định của pháp luật. Một khi có tranh chấp kinh
doanh, thương mại xảy ra, Tòa án chỉ giải quyết khi có yêu cầu của đương sự và
tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đối với nước ta, do hệ
thống Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, vì thế để đảm bảo cho
Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án thì việc phân định thẩm quyền
giữa các Toà án là rất quan trọng, tránh tình trạng một vụ án có thể được rất nhiều
Tòa thụ lý hoặc không có Tòa nào thụ lý, khắc phục được tình trạng chồng chéo
trong giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền của các Tòa án một
cách hợp lý và khoa học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều
kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở mỗi Tòa án và các
điều kiện khác, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo đảm cho Tòa án thực hiện được chức
năng, nhiệm vụ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước Tòa án, giảm bớt những phiền phức cho

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về
chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công
ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng
quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công
ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật12.
Như vậy, các bên tranh chấp không có mục đích lợi nhuận thì việc giải quyết
các tranh chấp này lại thuộc thẩm quyền của Tòa chuyên trách khác. Hoạt động
kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh,
thương mại mà còn bao gồm cả hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu
quả hoạt động, kinh doanh thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại trong
nền kinh tế thị trường diễn ra đa dạng, phong phú từ đó phát sinh những mâu thuẫn,
bất đồng giữa các bên là điều khó tránh khỏi. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức khi bị xâm phạm là nghĩa vụ của Nhà nước. Do đó, Nhà nước phải
có cơ chế giải quyết thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên,
tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh, thương mại phát triển, đảm bảo trật tự quản
lý kinh tế của Nhà nước. Nhà nước đã giao cho Toà án chức năng giải quyết các vụ
12

Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.


16


khoản 4 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 quy định: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư
trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt
Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt
Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
13
14


17

tỉnh. Toà Kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền “giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại
chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của Bộ luật này”15.
Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương
mại mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định kinh doanh, thương mại đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị
kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp
cao “phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng”16.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền “giám đốc thẩm,
tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo

phù hợp. Mặt khác, quy định này của pháp luật là hoàn toàn có căn cứ khoa học, bởi
vì bị đơn trong vụ án về kinh doanh, thương mại là người bị buộc phải tham gia tố
tụng. Về mặt tâm lý bị đơn, người đại diện hợp pháp của họ thường không muốn
tham gia tố tụng và thường nêu ra những khó khăn để không đến Tòa án.
- Pháp luật cho phép “các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn
bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá
nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức”19
tiến hành thụ lý giải quyết những tranh chấp kinh doanh, thương mại. Điều đó
không những tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự mà còn thể hiện sự ưu tiên và tôn
trọng của pháp luật đối với thỏa thuận của các bên, khuyến khích các bên trong
tranh chấp nên giải quyết mâu thuẫn bằng việc thỏa thuận với nhau.
1.3.2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Về nguyên tắc, một vụ tranh chấp trong kinh doanh, thương mại khi giải quyết
tại Tòa án thì chỉ có một Tòa án duy nhất có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm. Nhưng trong thực tế, nếu chỉ xác định thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc,
theo lãnh thổ có thể sẽ dẫn đến việc nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền giải quyết
hoặc có những trường hợp không thể xác định được Tòa án có thẩm quyền giải
quyết. Do vậy, pháp luật cho phép nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết
để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Điều 40 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của
nguyên đơn. Theo đó:
o Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có
tài sản giải quyết;
18
19

Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015


1.3.3.1. Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
Khởi kiện và thụ lý vụ án
Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để được
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Người khởi kiện phải nộp cho Tòa án:
- Đơn khởi kiện;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status