BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẠM VIỆT CƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH
PHẠM VIỆT CƯỜNG
2016 - 2018
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH
PHẠM VIỆT CƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
Hà Nội, đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho tôi suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện
luận văn.
Xin cám ơn Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đã hỗ trợ và tạo điều kiện
cho tôi suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng
nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện
đề tài luận văn thạc sỹ một cách hoàn chỉnh./.
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2018
Học viên thực hiện
Phạm Việt Cường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRANH
CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ
TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
TẠI TOÀ ÁN……………………………………………………………….8
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại. ........... 8
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại........... 8
1.1.2. Phân loại tranh chấp kinh doanh, thương mại. ............................... 15
1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại bằng Tòa án. ............................................................... 16
1.2.1. Khái niệm thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
bằng Tòa án. ............................................................................................. 16
1.2.2. Đặc điểm của thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại bằng Tòa án. ......................................................................... 18
LƯỢNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG
MẠI TẠI TOÀ ÁN……………………………………………………….77
3.1. Một số yêu cầu, định hướng để nâng cao chất lượng giải quyết các
tranh chấp KDTM tại Toà án. .................................................................. 77
3.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng áp dụng quy
định về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án thành phố Ninh Bình. ........................................................................... 78
KẾT LUẬN ................................................................................................ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 95
DANH MỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1.
BLTTDS 2015: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2.
BLTTDS 2004: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
3.
BLDS 2015: Bộ luật dân sự năm 2015.
4.
KDTM: Kinh doanh thương mại.
5.
Bảng 2.3 : Bảng thống kê thụ lý, giải quyết án KDTM sơ thẩm, phân loại
theo năm (trang 62).
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hoạt động kinh doanh, thương mại là một hoạt động có từ rất lâu trên thế
giới. Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện các thương gia, các nhà buôn và giữa họ diễn
ra các hoạt động trao đổi hàng hoá. Chính các hoạt động này đã góp phần không
nhỏ vào sự phát triển kinh tế, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc. Ngày nay, khái
niệm kinh doanh, thương mại ngày càng được hoàn thiện và mở rộng hơn để phù
hợp với sự phát triển của xã hội, nó không chỉ còn là một khái niệm chung chung
mà đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật. Hầu hết các quốc gia đều có các
văn bản pháp luật để điều chỉnh, mặc dù tên gọi có thể khác nhau và từ đó đã có
những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển.
Ngày nay, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho các quan hệ kinh
doanh, thương mại hình thành, phát triển đa dạng và phức tạp. Để điều chỉnh và tạo
khung pháp lý cho hoạt động KDTM, Việt Nam đã ban hành hệ thống các văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh, thương mại trong đó có Bộ luật dân sự
2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Thương mại 2005, Luật đầu tư 2014 và Luật
trọng tài thương mại 2014…, bước đầu đã giúp hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp phát triển toàn diện hơn.
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt khi nước ta đã gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO), các quan hệ kinh doanh, thương mại (KDTM)
ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới. Cùng với đó
thì việc xảy ra các tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, thương mại là điều tất yếu
khách quan. Để giải quyết tranh chấp trong KDTM các bên có thể lựa chọn một
phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt
được, mối quan hệ giữa các bên, thời gian và chi phí… Theo pháp luật Việt Nam,
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững
an ninh chính trị và tăng cường hội nhập quốc tế.
2
Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của
pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án, nhằm góp phần làm
sáng tỏ thêm về lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những bất cập trong quy định của
pháp luật cũng như những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thi hành, từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động giải quyết các vụ án KDTM theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần
thiết và rất được quan tâm trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, tôi
đã chọn vấn đề “Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án nhân dân thành phố Ninh Bình” làm đề tài thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Trên thực tế có rất nhiều đề tài nghiên cứu và cả các công trình khoa học đã
nghiên cứu về nội dung giải quyết tranh chấp KDTM ở các cấp độ khác nhau và
theo nhiều khía cạnh khác nhau như: giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án,
hoặc bằng trọng tài thương mại hoặc bằng con đường hòa giải hay thương lượng
hoặc bằng nhiều phương thức khác: Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng
viên khoa Đào tạo Thẩm phán Học viện Tư pháp về “Giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế bằng con đường Tòa án”;... Các luận án Tiến sỹ như luận án “Pháp
luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thị Kim Vinh; luận án “Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với
các vụ việc KDTM theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn
Tiến. Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong
việc giải quyết tranh chấp KDTM như:“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân cấp huyện”của tác giả Nguyễn Vũ
Hoàng;“Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư
hiện nay - Từ đó, có phương hướng đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp
luật thủ tục giải quyết các tranh chấp KDTM và nâng cao hiệu quả của pháp luật về
thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Toà án nói riêng và pháp luật giải quyết
tranh chấp KDTM nói chung, nhằm đảm bảo mọi tranh chấp KDTM đều được giải
quyết một cách thuận lợi và triệt để.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
Hệ thống được cơ sở lí luận, quan điểm khoa học, nhận thức chung về thủ
tục giải quyết tranh chấp KDTM. Đây là cơ sở khoa học làm cơ sở cho việc xác
định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.
Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải
quyết tranh chấp KDTM tại Toà án. Thực tiễn xét xử các tranh chấp KDTM tại Toà
án nhân dân thành phố Ninh Bình trong giai đoạn 05 năm (từ năm 2013 đến năm
2017). Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp
luật về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Toà án.
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại và phương hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết
tranh chấp KDTM tại Toà án, công cụ pháp lý trong lĩnh vực KDTM, tiền đề cho
cải cách tư pháp, tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là các quy phạm pháp luật hiện hành liên
quan trực tiếp đến vấn đề trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án,
theo quy định của BLTTDS 2015 năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật có
liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam
sự, thương mại.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là tư liệu góp phần giúp
các cơ quan tiến hành tố tụng và và người tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình cũng như trên phạm vi toàn quốc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong thực tiễn, đóng góp cho
việc nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp KDTM tại Toà án theo trình
tự sơ thẩm và thống nhất áp dụng pháp luật.
6
7. Cơ cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
cơ cấu thành ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại
và pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Toà án.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại bằng Toà án và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân Thành phố Ninh Bình.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại tại Toà án.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại.
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Các tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra rất đa dạng, phức tạp, các tranh
chấp này xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như: do sự khác biệt về lợi ích
giữa các bên; do hạn chế kiến thức pháp luật; do sự biến động của thị trường trong
quá trình thực hiện hợp đồng; do chưa có sự hoàn thiện của các quy định pháp luật
điều chỉnh quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại…
Theo Triết học Mac-Lenin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội, là nguồn
gốc, là động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất yếu tự
nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội. Tranh chấp
được hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi
tham gia vào các quan hệ pháp luật. Tranh chấp là những xung đột thường phát sinh
từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích riêng. Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp
lại tạo nên những phát triển của xã hội, góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện
đại, văn minh. Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì “Tranh chấp là đấu tranh,
giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai
bên” 1
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc
trong đời sống kinh tế xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khái niệm này
được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây cùng với sự
nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ
chế kế hoạch hóa đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam...
1
[ 1, tr 1024 ]
9
Do hoạt động kinh doanh và thương mại có cùng nội hàm, theo đó, chủ thể
tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ… nhằm mục đích
dân sự, tranh chấp lao động. Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc
điểm sau đây:
Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp KDTM là thương nhân; tranh chấp
phát sinh trong hoạt động KDTM đều có mục đích lợi nhuận. Quan hệ thương mại
có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên
không phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi là tranh chấp KDTM khi tranh
chấp phát sinh trong hoạt động KDTM, chủ thể trong quan hệ đó là giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Đối với tranh
chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức (không
có đăng ký kinh doanh) với nhau nhưng phải đều có mục đích lợi nhuận. Tranh
chấp mà chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận còn bên còn lại không vì mục đích
lợi nhuận sẽ không phải là tranh chấp KDTM.
Ngoài ra, cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng là chủ
thể của tranh chấp KDTM, như: tranh chấp giữa công ty và các thành viên công ty;
tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, hợp nhất, giải thể, chia, tách…công ty.
Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp KDTM là hành vi vi phạm hợp đồng
hoặc vi phạm pháp luật về KDTM.
Trong nhiều trường hợp, tranh chấp KDTM phát sinh do các bên có vi phạm
hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, nhưng cũng có thể có những vi phạm xâm
hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Nội dung của tranh
chấp KDTM là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt
động KDTM. Các quan hệ KDTM có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung
tranh chấp KDTM liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các bên. Ngoài ra,
tranh chấp KDTM còn chịu chi phối của các yếu tố cơ bản của hoạt động này như:
mục đích sinh lợi, các yêu cầu về thời cơ kinh doanh và yêu cầu giữ bí mật thông tin
liên quan đến hoạt động kinh doanh.
11
12
thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo luật định mà
không tiến hành hoà giải, thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền: Trong trường hợp hoà giải không
thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải
thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo luật định mà không tiến hành hoà giải, thì các
bên có quyền gửi đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết. Khi
các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc
quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết, thì các bên
có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích:
Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các
thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành, thì các bên có quyền yêu cầu Hội đồng
trọng tài lao động giải quyết. Khi Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải
không thành thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.
Thứ tư, Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại với tranh chấp dân sự.
Trên thực tế, các tranh chấp diễn ra trong hoạt động kinh doanh, thương mại
cũng như mua bán, trao đổi hàng hóa mang bản chất tương đương nhau, đồng thời
ranh giới giữa hai loại tranh chấp này lại khó xác định và khá phức tạp. Tuy nhiên,
đây lại là vấn đề khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
này tại Tòa án. Do vậy, việc xác định một tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh
chấp KDTM có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án tranh chấp. Nếu xác
định sai quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến áp dụng sai pháp luật nội dung đối
với vụ việc. Tranh chấp dân sự và tranh chấp KDTM có thể phân biệt như sau:
- Tranh chấp dân sự là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự
(cá nhân, pháp nhân) trong quan hệ pháp luật dân sự (về nhân thân và /hoặc tài sản).
- Tranh chấp KDTM là tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân có đăng
ký kinh doanh trong hoạt động thương mại, đầu tư, kinh doanh.
Trong một số trường hợp, việc xác định đâu là tranh chấp dân sự và đâu là
việc xác định loại tranh chấp cần căn cứ vào quy định tương ứng tại các văn bản
pháp luật khác.
Ví dụ: tranh chấp phát sinh giữa Tổ chức hành nghề luật sư (có Giấy đăng ký
14
hoạt động) với khách hàng là Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (có đăng ký
kinh doanh) trong việc cung ứng dịch vụ thì đây xác định là tranh chấp dân sự theo
Khoản 1 Điều 59 Luật Luật sư.
(iii) Tranh chấp mà một bên không có mục đích lợi nhuận nhưng chọn áp
dụng Luật Thương mại.
Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại quy định phạm vi điều chỉnh của Luật
Thương mại bao gồm cả “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên
trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích
sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này”. Như vậy, nếu bên không có mục đích lợi nhuận
chọn áp dụng Luật Thương mại thì liệu có thể xác định tranh chấp này là tranh chấp
KDTM và áp dụng Luật Thương mại để giải quyết hay không. Đây là vấn đề còn
vướng mắc cần làm rõ.
1.1.2. Phân loại tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Tranh chấp KDTM được phân loại dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: gồm tranh chấp thương mại trong nước và
tranh chấp thương mại quốc tế.
- Căn cứ chủ thể của tranh chấp, gồm tranh chấp hai bên và tranh chấp nhiều bên.
- Căn cứ vào việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng của các bên, gồm hai
loại tranh chấp:
Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng,
không đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của hợp đồng.
Tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không đúng, không
đầy đủ nghĩa vụ theo quy định hợp đồng.
Nói đến thủ tục là nói đến quy trình và cách thức giải quyết công việc. Thực
tế, để thực hiện có hiệu quả một công việc nhất định cần tiến hành một loạt các hoạt
động theo thứ tự trước sau và cách thức thực hiện từng bước theo những quy định
16
chặt chẽ, thống nhất. Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức giải
quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt
nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn. Hoạt
động của các cơ quan nhà nước cần phải tuân theo pháp luật, trong đó có những quy
định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công
việc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Đó chính là những quy phạm thủ tục. Quy
phạm này quy định về các loại thủ tục trong hoạt động quản lý nhà nước như: thủ
tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp, thủ tục hành chính.
Hiện nay, pháp luật chưa có khái niệm về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại bằng Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế đã có rất nhiều bài nghiên
cứu của các tác giả liên quan đến việc giải thích khái niệm giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại bằng Tòa án.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Như Phát thì: “Giải quyết tranh
chấp bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà
nước thực hiện. Toà án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết
buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà
nước. Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của tòa án như một
giải pháp để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại
trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn
đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài”.2
Theo quan điểm của tác giả Đinh Thị Trang cho rằng: “Giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết các tranh chấp
thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại do cơ quan tài phán của nhà