GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
@&?

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CƯ NHÂN LUẬT
KHÓA HỌC: 2013 – 2017
ĐỀ TÀI:

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc
Bộ môn: Luật thương mại

Sinh viên thực hiện:
Đoàn Quốc Thịnh
MSSV: VT1332N068
MS Lớp: VT1332N1

Cần Thơ, tháng 12
năm 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, người viết xin gửi đến Cha Mẹ,
người thân, bạn bè và các Thầy, Cô Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ
lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần
trong suốt quá trình người viết thực hiện đề tài này. Kế đến, người viết xin
gửi lời cảm ơn đến Thư viện Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đã cung
cấp một nguồn tài liệu, sách báo phục vụ cho học tập cũng như thực hiện đề

1.1.2. Đặc điểm.........................................................................................5
1.2. Phân loại tranh chấp thương mại.......................................................7
1.3. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại....................7
1.3.1. Khái niệm.......................................................................................7
1.3.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại...................8
1.3.2.1. Thương lượng.......................................................................8
1.3.2.2. Hòa giải.................................................................................9
1.3.2.3. Trọng tài...............................................................................11
1.3.2.4 Tòa án...................................................................................13
CHƯƠNG 2....................................................................................................15
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT....................................15
TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN................................................................................................................15


2.1. Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại.............................................................................15
2.1.1. Thẩm quyền các cấp Tòa án........................................................15
2.1.2. Thẩm quyền theo nội dung tranh chấp.......................................16
2.1.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ...........................................................17
2.2. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Toà án nhân dân...........................................................................18
2.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đượng sự............18
2.2.2. Nguyên tắc hoà giải......................................................................19
2.2.3. Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh..........................19
2.2.4. Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự
.....................................................................................................................24
2.2.5. Nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự.......................24
2.3. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục sơ
thẩm tại Toà án nhân dân.........................................................................24

các nhà đầu tư, nhưng bên cạnh đó cũng không thể tránh các yếu tố rủi ro phát sinh
trong quá trình hợp tác, trao đổi buôn bán. Khi quyền lợi của các bên không được
cân bằng trong mối quan hệ này tất yếu sẽ dẫn đến những xung đột, mâu thuẫn do
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nội dung các tranh chấp thương mại
ngày càng đa dạng, phức tạp khiến các bên tham gia giải quyết tranh chấp cần cân
nhắc kĩ các hình thức giải quyết cho phù hợp.
Tranh chấp kinh doanh thương mại là một hệ quả tất yếu của quá trình vận
động các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động kinh doanh, thương
mại. Khi tranh chấp xảy ra, các bên cần có cơ chế để giải quyết tranh chấp nhằm mở
đường cho sự hợp tác và phát triển. Tòa án là một trong những phương thức giải
quyết tranh chấp như thế.
Khi các bên không thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các mâu thuẩn,
các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại và khi có yêu cầu thì tranh
chấp đó sẽ được giải quyết tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự. Pháp luật để điều chỉnh và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại sẽ được Tòa án áp dụng để giải quyết tranh chấp theo một trình tự thủ tục mà
pháp luật về tố tụng dân sự quy định. Để tìm hiểu sâu sắc vấn đề trên, tôi đã chọn đề
tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân” để làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân. Nghiên cứu những thuận lợi,
những khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại
Tòa án nhân dân. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng con đường Tòa án, đảm bảo mọi tranh chấp kinh
doanh thương mại được giải quyết kịp thời, thuận lợi, công bằng và triệt để.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân là một
hoạt động hết sức quan trọng trong nền tư pháp của nước ta. Để nghiên cứu một
cách toàn diện về vấn đề này là cần thiết, tuy nhiên trong luận văn này, người viết

phương pháp thương lượng, hòa giải, Trọng tài và đặc biệt là giải quyết tranh chấp
thương mại bằng con đường Tòa án. Từ những khái niệm cơ bản đó, làm tiền để để
người viết phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề giải quyết
tranh chấp thương mại tại Tòa án nhân dân.
Chương 2: Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân.
Trên cơ sở các khái niệm cơ bản về tranh chấp thương mại, tại Chương 2,
người viết tập trung phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến đề tài
nghiên cứu, tập trung vào các vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại.
Thứ hai, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án nhân dân.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

2

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
Thứ ba, người viết tập trung trình bày trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân theo thủ tục sơ thẩm, từ gia đoạn thụ lý,
chuẩn bị xét xử và đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại
Tòa án nhân dân, một số điểm bất cập và giải pháp hoàn thiện
Từ những cơ sở lý luận của Chương 1 và các quy định của pháp luật tại
Chương 2 là tiền đề để người viết nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật để giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân. Qua đó, tìm ra những

sự năm 1995. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh
doanh của các doanh nghiệp, hoạt động mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là các
tranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Tình trạng này đã được cải thiện một cách đáng kể sau nỗ lực cải cách về tư
duy pháp lý lớn vào năm 2005. Kết quả là cho ra đời Bộ luật dân sự (BLDS) năm
2005, Luật thương mại năm 2005, bãi bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã
thống nhất về cách điều chỉnh hợp đồng. BLDS có vai trò như đạo luật gốc, điều
chỉnh liên thông tất cả các quan hệ dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hôn
nhân gia đình; BLTTDS năm 2004 ra đời đã thống nhất thủ tục giải quyết tranh
chấp nếu xảy ra đối với tất cả các quan hệ này.
Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì: “Kinh doanh là việc
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi”
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

4

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác”.
Với cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương
mại, có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng
dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm ... Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

5

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
động kinh doanh. Các bên tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh doanh có
tư cách thương nhân hoặc tư cách nhà kinh doanh.
Việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là các vấn đề do các
bên tranh chấp tự định đoạt.
Tranh chấp kinh doanh thương mại là những tranh chấp mang yếu tố vật chất
và thường có giá trị lớn.
Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân:
Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau
hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi
là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Ngoài ra cũng có
một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp
thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành
viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể,
chia, tách…công ty; …
Thứ hai,căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng
hoặc vi phạm pháp luật:
Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi
phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi
phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Nội dung
của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các
bên trong hoạt động thương mại. Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội
đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
1.3. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại
1.3.1. Khái niệm
Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có

thể lựa chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại
được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực
tế, tranh chấp KD – TM có thể được giải quyết bằng những con đường như
Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài, Tòa án.
Căn cứ vào Điều 317 Luật thương mại 2005 quy định về các hình thức giải
quyết tranh chấp thương mại bao gồm:
+ Thương lượng giữa các bên.
+ Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên
thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
+ Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được
tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.
Tranh chấp thương mại có thể giải quyết bằng một trong hai cách, phương
thức mang tính tài phán hoặc không mang tính tài phán. Giải quyết tranh chấp
thương mại là phương thức để giải quyết các mâu thuẩn trong kinh doanh thương


quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải
quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba trợ
giúp hay ra phán quyết.
Quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất
kỳ nguyên tắc pháp luật hay những qui định mang tính khuôn mẫu nào của pháp
luật về thủ tục giải quyết tranh chấp nào. Việc thực thi kết quả thương lượng hoàn
toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên.
- Nguyên tắc khi tiến hành thương lượng
Nguyên tắc trọng yếu trong việc tiến hành thương lượng chính là đôi bên
cùng có lợi. Dân tộc ta có câu “dĩ hoà vi quý” - tức là lấy sự hoà hợp với nhau làm
trọng. Quan điểm thiện chí góp phần giúp các bên cùng đạt được lợi ích tốt nhất.

1

Từ điển tiếng Việt- tr1174 - NXB Thanh Hoá năm 1999.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

8

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
Thương lượng hiểu quả không phải là đạt được lợi ích cho một bên mà phải là sự
cân bằng lợi ích của các bên liên quan.
Thương lượng không phải là chấp nhận thua hay thắng, nhượng bộ hay chèn
ép. Khi tiến hành thương lượng các bên có quyền lợi ngang nhau. Đó được xem như
là một giao dịch mà cả hai bên đều có quyền bác bỏ kết quả cuối cùng. Thương
lượng cũng không phải là cố chấp không khoan nhượng, vì như vậy sẽ làm mâu


Từ điển tiếng Việt - tr528 - NXB Thanh Hoá năm 1999.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

9

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
Có hai loại hoà giải là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng.
+ Hòa giải trong tố tụng được hiểu là việc hòa giải được tiến hành khi
vụ án đã nằm trong vòng tố tụng, tức là khi Tòa án hoặc Trọng tài đã thụ lý đơn
khởi kiện. Thông thường, việc hòa giải trong tố tụng sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng
đứng ra thực hiện.
+ Hòa giải ngoài tố tụng là việc các bên trong vụ việc tự thương
lượng hòa giải với nhau hoặc thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay
đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại các bên có thể được hòa giải bởi các
hòa giải viên thương mại được điều chỉnh bởi Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày
24/02/2017 của Chính phủ về việc hòa giải thương mại. Thông thường, hòa giải
ngoài tố tụng được tiến hành trước khi vụ việc được đưa đến tòa án. Phần trình bày
sau đây chủ yếu tập trung bàn về hoà giải ngoài tố tụng.
- Các nguyên tắc của hòa giải
Nguyên tắc hoà giải là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mà khi tiến hành
hoạt động hoà giải phải tuân thủ một cách đầy đủ, toàn diện và nghiêm túc. Dựa vào
Điều 4 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, hoạt động hoà giải trong
tranh chấp thương mại cần bảo đảm các nguyên tắc sau:
+ Thứ nhất, tôn trọng sự tự nguyện, quyền tự định đoạt của các bên
tranh chấp

bảo toàn các yếu tố bí mật, bí quyết kinh doanh trong quá trình hòa giải; tôn trọng
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Trong quá trình thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải phải giữ bí mật yếu tố
bí mật, bí quyết kinh doanh trong quá trình hòa giải của các bên tranh chấp. Khi đã
được các bên tranh chấp tin tưởng và thổ lộ thông tin bí mật của mình cho hoà giải
viên, thì hoà giải viên không được phép tiết lộ thông tin đó cho người khác.
Bên cạnh đó, hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng. Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp dụng cho mọi loại
hình hoà giải các tranh chấp kể cả việc hoà giải được thực hiện bởi Toà án và tổ
chức Trọng tài.
+ Thứ tư, kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp
luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra và đạt được kết quả hoà giải.
1.3.2.3. Trọng tài
- Khái niệm
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục Trọng tài là trình
tự áp dụng tại cơ quan Trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thương mại. Theo Luật Trọng tài thương mại thương mại
(có hiệu lực từ 01/1/2011), thủ tục này gồm 2 loại : giải quyết tranh chấp tại Hội
đồng Trọng tài do Trung tâm Trọng tài tổ chức (Trọng tài quy chế) hoặc tại Hội
đồng Trọng tài do các bên thành lập (Trọng tài vụ việc).
 Trọng tài viên :3
Để trở thành Trọng tài viên phải hội đủ các điều kiện sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan.
- Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ năm năm
trở lên.
- Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích không được làm Trọng tài viên.


- Điều kiện giải quyết bằng hình thức Trọng tài
Để giải quyết theo thủ tục Trọng tài, trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp,
phải có thỏa thuận về việc nhờ cơ quan Trọng tài giải quyết. Thỏa thuận Trọng tài
phải được lập thành văn bản. Các hình thức khác như thư, điện báo, telex, fax, thư
điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ
tranh chấp bằng Trọng tài cũng được cvoi là thỏa thuận bằng văn bản. Thỏa thuận
này có thể ghi hẳn trong hợp đồng hoặc ghi riêng. Trường hợp đã có sự thỏa thuận
của hai bên về việc chọn Trọng tài mà sau đó một trong hai bên đưa ra Tòa án để
giải quyết thì Tòa án phải từ chối thụ lý trừ trường hợp thỏa thuận Trọng tài vô hiệu.
1.3.2.4 Tòa án
- Khái quát về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
tại Tòa án nhân dân
Toà kinh tế nói riêng và Toà án nhân dân nói chung đều là cơ quan xét xử của
Nhà nước, nằm trong hệ thống cấu trúc cơ quan Nhà nước, hoạt động bằng nguồn
kinh phí được cấp từ ngân sách Nhà nước. Toà án nhân danh Nhà nước để giải
quyết các vụ án và các việc khác do pháp luật quy định, có vai trò bảo vệ trật tự
4

Theo quy định của Chương IV Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

12

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
công cộng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh và bảo vệ
pháp chế XHCN.

doanh thương mại tại Tòa án nhân dân bao gồm:
+ Giai đoạn thụ lý vụ án kinh doanh thương mại;
+ Giai đoạn hòa giải tại Tòa án;

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

13

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
+ Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp kinh doanh
thương mại;
+ Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại;
+ Hiệu lực của bản án sơ thẩm và giai đoạn thi hành án kinh doanh
thương mại.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

14

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
2.1. Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong giải quyết tranh chấp kinh doanh

định của pháp luật tố tụng, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

15

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
luật của Tòa án nhân dân các cấp địa phương trực thuộc đơn vị quản hạt của mình
theo quy định của pháp luật tố tụng.
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ
án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố
tụng.
Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
Căn cứ Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân cấp huyện
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại
theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các
vụ án kinh doanh thương mại theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015. Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm tất cả các vụ án kinh doanh thương mại trừ những vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.5
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện
quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mà Tòa án nhân dân cấp
tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội
đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối
với tất các các nội dung tranh chấp nêu trên.9
2.1.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Vấn đề xác định thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ chỉ được đặt ra khi các
bên tranh chấp có trụ sở hoặc nơi đăng ký ở khác địa phương. Về nguyên tắc các
bên không được lựa chọn Toà án giải quyết mà pháp luật tố tụng sẽ quy định loại
thẩm quyền này. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật cho phép
các bên được thoả thuận với nhau hoặc nếu không có sự thoả thuận trước đó thì bên
nguyên đơn có quyền đơn phương lựa chọn Toà án. Điều này nhằm bảo đảm tính
khả thi của quyền khởi kiện và giúp quá trình giải quyết tranh chấp được thuận lợi,
tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc cho các bên tham gia. Việc xác định thẩm
quyền phải dựa trên các nguyên tắc sau:
- Xác định thẩm quyền của Toà án theo luật định.
Khi phát sinh tranh chấp, nguyên đơn phải khởi kiện tại Toà án có thẩm
quyền là:
- Toà án là nơi cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc là nơi bị đơn có
trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những tranh chấp về kinh doanh, thương mại.10
- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa
án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ
sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp
về kinh doanh, thương mại.11

cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên
đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải
quyết;
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác
nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải
quyết.
2.2. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Toà
án nhân dân
2.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng của
chủ thể kinh doanh, Nhà nước không can thiệp vào những hoạt động kinh doanh
đúng pháp luật. Cơ chế thị trường vốn dĩ đã dung nạp nhiều phương thức giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại khác nhau như: thương lượng, hoà giải, giả quyết
thông qua Trọng tài hoặc theo phương thức tố tụng tại Toà án. Các bên tranh chấp
có quyền tự do lựa chọn một phương thức giải quyết có lợi cho mình nhất. Toà án
chỉ giải quyết khi đương sự có yêu cầu hoặc trường hợp thoả thuận Trọng tài vô
hiệu.
Khi tranh chấp xảy ra đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện, chủ
động đề xuất các yêu cầu, phạm vi mức độ quyền và lợi ích cần được bảo vệ. Ngay
cả khi đã đưa vụ án tranh chấp ra giải quyết, các bên vẫn có quyền thay đổi nội
dung yêu cầu, tự hoà giải hoặc rút đơn kiện.
Các đương sự có quyền cho luật sư hoặc người khác thay mình tham gia tố
tụng mà không cần trực tiếp tham gia tố tụng.
2.2.2. Nguyên tắc hoà giải
13

Khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và đưa ra chứng cứ để chứng minh.
Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết. Toà
án không bắt buộc phải thu thập thêm chứng cứ mà chỉ tiến hành xác minh, thu thập
thêm chứng cứ khi thấy cần thiết để đảm bảo giải quyết vụ án được chính xác.
Chứng minh và chứng cứ luôn là vấn đề cốt lõi trong quá trình giải quyết vụ
án. Chứng cứ cho phép xác định sự thật của vụ án. Từ đó các bên sẽ chứng minh
cho quan điểm của mình trước Tòa án. Xuất phát từ nguyên tắc tự định đoạt, trong
tố tụng dân sự (nói chung) trên hầu hết các nước trên thế giới đề xác định nghĩa vụ
chứng minh thuộc về đương sự. Sở dĩ như vậy vì quan hệ dân sự là quan hệ rất
riêng tư giữa hai bên. Trong quan hệ đó, hai bên tự thiết lập giao dịch, tự lựa chọn
cách thức giải quyết tranh chấp. Tòa án không tạo ra sự ràng buộc giữa các bên mà
14
15

Khoản 2 Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

19

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh


Đề tài: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
chỉ hối thúc các bên tuân thủ sự thỏa thuận của chính mình. Và khi có tranh chấp,
quyền và lợi ích của hai bên đối kháng nhau thì Tòa án không thể chứng minh hộ
bên nào. Điều đó sẽ gây bất bình đẳng cho bên kia và ngược lại. Nếu Tòa án có
quyền tự chứng minh vụ án thì quyền tùy ý chứng minh của Tòa án sẽ ảnh hưởng
tới sự khách quan của vụ án và ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.


GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hoa Cúc

20

SVTH: Đoàn Quốc Thịnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status