Các nội dung cụ thể về so sánh cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế-thương mại của ASEAN và WTO - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Hợp tác kinh tế-thương mại toàn cầu luôn ẩn chứa bên trong mâu thuẫn, tranh
chấp có thể phát sinh. Từ thực tế đó, các tổ chức hợp tác khu vực và quốc tế về
luôn có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng của mình. Nghiên cứu cơ chế giải
quyết tranh chấp của ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và WTO - Tổ
chức thương mại thế giới sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề
này.
NỘI DUNG
I-Khái quát chung
1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN
a. Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng
Nghị định thư về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp được các Bộ trưởng
ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila (Philippines) đã tạo ra cơ sở hình thành
cơ chế giải quyết tranh chấp được áp dụng để giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN.
b. Cơ quan và trình tự giải quyết tranh chấp
Theo quy định của nghị định thư 2004 thì cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ
bao gồm Hội nghị quan chức cấp cao SEOM, Hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM,
ban thư ký ASEAN với những thẩm quyền riêng biệt.
Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Nghị định thư 2004 cũng
bao gồm 4 giai đoạn là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết.
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của WTO
"Tổ chức thương mại quốc tế WTO đề ra các quy tắc thương mại toàn cầu
giữa các quốc gia, chức năng chính của nó là đảm bảo tự do hóa thương mại
một cách thông suốt, tự do và có tính dự báo". 1
a. Cơ sở pháp lý: hiệp định chung về thuế quan và thương mại, thỏa thuận
về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)
b. Nguyên tắc: Ngoài việc tuân theo các nguyên tắc chung. Cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO còn ghi nhận các nguyên tắc sau: Bình đẳng giữa các
nước thành viên tranh chấp, nguyên tắc bí mật, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết
www.wto.org - The World Trade Organization (WTO) deals with the global rules of trade between
nations. Its main function is to ensure that trade flows as smoothly, predictably and freely as

Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả Yêu cầu
này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm.
ASEAN: Nếu tham vấn không giải quyết được thì vấn đề này sẽ được trình lên
SEOM.
+ Nguyên tắc đưa ra quyết định: Đối với WTO, nhờ có nguyên tắc đồng thuận
phủ quyết nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban
hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo.
Trong khi cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN: các đại diện SEOM của
các nước thành viên là các bên tranh chấp có thể có mặt trong quá trình thảo luận
nhưng không được tham gia vào việc đưa ra phán xử của SEOM. SEOM sẽ ra
phán xử trên cơ sở đa số.
+ Thành lập Ban hội thẩm:
Trong khi Ban hội thẩm của WTO Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được
lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn
không đạt kết quả trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn (Điều 6
DSU). Tuy nhiên, như trên đã đề cập, yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa
ra trước thời hạn này nếu các bên tranh chấp đều thống nhất rằng các thủ tục
tham vấn, hoà giải không dẫn đến kết quả gì. Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội
4


thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị
khiếu kiện và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện.
ASEAN: SEOM thành lập Ban hội thẩm không được muộn quá ba mươi (30)
ngày sau ngày tranh chấp được đệ trình lên. SEOM sẽ đưa ra quy định cuối cùng
về quy mô, thành phần và quy chế làm việc của Ban hội thẩm.
+ Chức năng của Ban hội thẩm trong cơ chế giải quyết tranh chấp:
WTO: Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các
qui định trong các Hiệp định của WTO mà bên nguyên đơn viện dẫn như là căn
cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp

qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo
của SAB được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ
quyết. Khác với cơ chế giải quyết của WTO các nước thành viên của ASEAN là
các bên tranh chấp có thể kháng nghị lại phán xử của SEOM với Các Bộ trưởng
Kinh tế ASEAN ("AEM") trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày SEOM ra
phán xử. AEM phải đưa ra quyết định trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày
có kháng nghị. Trong các trường hợp ngoại lệ, AEM có thể có thêm mười (10)
ngày nữa để đưa ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp.
+ Hình thức trả đũa: của ASEAN là đình chỉ ưu đãi, đình chỉ thực hiện nghĩa vụ
và trả đũa chéo. Ở WTO nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi
thường trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng
kiện có thể yêu cầu Cơ quan Giải quyết Tranh chấp cho phép áp dụng các biện
pháp trả đũa song song. Mức độ và thời hạn trả đũa do Cơ quan Giải quyết tranh
chấp (DSB) quyết định căn cứ trên thủ tục qui định về vấn đề này trong Quy tắc
Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU). Trong khi đó ASEAN
không quy đỉnh rõ về mức độ và thời gian trả đũa do cơ quan nào quyết định.
Ngoài ra trong cơ chế giải quyết của WTO còn đề cập đến các qui định đặc biệt
về thủ tục giải quyết các tranh chấp áp dụng cho các nước đang phát triển. Còn
trong cơ chế giải quyết của ASEAN thì không có quy định này.
*Nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt trên
Về sự tương đồng : ASEAN và WTO đều có nền tảng cơ bản là hợp tác kinh tếthương mại, nên phạm vi giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp,
thủ tục giải quyết đến thi hành án đều có những điểm tương đồng trong xu thế hội
nhập, học hỏi và kế thừa các yếu tố tích cực trước đó.
Về sự khác biệt :
6


WTO là tổ chức thương mại thế giới với quy mô lớn nhất thế giới hiện nay, đa
quốc gia, đa dân tộc nên có tổ chức quy củ và chi tiết hơn so với một tổ chức khu
vực như ASEAN. Bên cạnh đó, với vai trò là một tổ chức quốc tế chuyên môn về



Các cơ quan không trực tiếp thực hiện việc xem xét, giải quyết tranh chấp
mà chỉ thành lập các cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp và thông qua quyết
định của của các cơ quan đó. Vì vậy mà vai trò của các cơ quan trong giải quyết
tranh chấp không thật sự rõ ràng. Như Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN
(AEM), cơ quan này chỉ có vai trò trong việc thành lập Cơ quan phúc thẩm. Mọi
hoạt động trong việc xem xét các kháng cáo đều do Cơ quan phúc thẩm thực
hiện. AEM hoàn toàn không tham gia vào quá trình giải quyết kháng cáo.
Phạm vi hoạt động của Cơ quan phúc thẩm còn hẹp và chưa rõ ràng. Chức
năng chính của Cơ quan phúc thẩm chỉ là xem xét việc áp dụng và giải thích pháp
luật của Ban hội thẩm chứ không xem xét toàn bộ vấn đề liên quan đến vụ tranh
chấp. Vì vậy, khi phát hiện ra các tình tiết phát sinh mà chưa được Ban hội thẩm
xem xét mà tình tiết này liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hoặc khi phát
hiện kết luận của Ban hội thẩm chưa thật sự chính xác và đủ căn cứ thì Cơ quan
phúc thẩm không có đủ thẩm quyền để xử lý.
Về trình tự, thủ tục và thi hành phán quyết :
Ưu điểm :
Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN vừa mang
tính hòa giải vừa mang tính tài phán. Thủ tục được ghi nhận trong nghị định thư
về cơ chế giải quyết tranh chấp có nhiều điểm giống với thủ tục tố tụng của cơ
quan tài phán quốc tế, nhưng ASEAN luôn khuyến khích các bên liên quan tự
dàn xếp thỏa thuận để có thể đi đến một giải pháp mà các bên đều chấp nhận
được. Vì vậy, giai đoạn đầu tiên của quy trình giải quyết tranh chấp là tham vấn
và trong giai đoạn tiếp theo các bên vẫn có khả năng áp dụng các biện pháp trung
gian, môi giới, hòa giải để giải quyết tranh chấp. Điều này cũng cho thấy sự linh
hoạt trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong lĩnh vực kinh tếthương mại, cho phép các quốc gia khác có thể lựa chọn cơ chế giải quyết tranh
chấp phù hợp với yêu cầu của mình.
Trong trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của ASEAN tại Ban hội thẩm
hay Cơ quan phúc thẩm, SEOM sử dụng cơ chế đồng thuận phủ quyết, với cơ

quốc gia thành viên sử dụng trong giải quyết các tranh chấp.
Mặt khác, mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế – thương mại của ASEAN
là mô hình được mô phỏng gần như hoàn toàn và có một số thay đổi nên cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN cũng mang những hạn
chế mà WTO mắc phải cụ thể như: quy định về thời gian giải quyêt tranh chấp
quá dài, tổng thời gian giải quyết tranh chấp lên tới 445 ngày như vậy sẽ khiến
cho tình trạng vi phạm pháp luật theo các hiệp định được kí kết trong khuôn khổ
9


ASEAN sẽ bị duy trì, điều này có thể gây ra thiệt hại cho nước thành viên là bên
bị vi phạm, cũng khiến cho các bên tốn kém về tài chính khi theo đuổi việc giải
quyết tranh chấp.
Về vấn đề chi phí cho các cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế
thương mại, Nghị định thư cũng đã quy định về việc thành lập Quỹ để trang trải
chi phí với đóng góp ban đầu có giá trị như nhau của tất cả các quốc gia thành
viên, sau khi đóng góp ban đầu như vậy, đối với các nước thành viên với nền
kinh tế còn lạc hậu và kém phát triển hơn, thì họ sẽ có xu hướng lựa chọn một cơ
chế khác mà không thông qua các cơ quan của ASEAN khi mà chưa có bất kỳ
hướng dẫn nào ở Nghị định thư về việc phân bổ chi phí này như thế nào. Chính vì
vậy mà cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN từ khi ra đời
cho đến nay được rất ít các quốc gia thành viên xem xét sử dụng.
* Đối với WTO
Ưu điểm :
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có tính chuyên nghiệp cao, được tổ
chức quy củ và chặt chẽ. Trình tự và thủ tục giải quyết được quy định rõ ràng
trong các văn bản pháp luật - các hiệp định của các quốc gia thành viên.
Ở góc độ là một nước đang phát triển như việc áp dụng linh hoạt cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO sẽ mang đến cơ hội tiếp cận thị trường Tây Âu, Mỹ...
đặc biệt các nước đang phát triển có những ưu tiên nhất định như :

chấp trong ASEAN và WTO.
"Các nước đang phát triển chiếm đa số trong WTO và ASEAN. Với các ngành
thương mại trong các lĩnh vực từ dệt may và nông nghiệp, y tế và an toàn tiêu
chuẩn vững chắc hơn theo hệ thống WTO và ASEAN, các câu hỏi về việc làm thế
nào để cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và ASEAN có lợi cho tất cả các
nước thành viên mà đặc biệt là các quốc gia đang phát triển? Làm thế nào các
quốc gia đang phát triển huy động các nguồn lực hợp pháp để bảo vệ quyền lợi
của họ thông qua giải quyết tranh chấp của WTO và ASEAN?" 1
Thứ nhất là các nước đang phát triển có thể đưa ra sự quan tâm của mình
đối với các vấn đề pháp lý và thực tiễn ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.
Thứ hai, "các nước đang phát triển có thể sử dụng tốt hơn của Trung tâm
tư vấn luật của WTO và ASEAN. Là một cơ quan hỗ trợ để giải quyết tranh chấp
Developing countries have a great deal at stake in the WTO and its legal system. With trade
disciplines in areas from textiles and agriculture to health and safety standards taking firmer root
under the WTO system, questions regarding how the WTO legal system works in practice and how
it can be improved for developing countries’ benefit beg careful attention: How can developing
countries mobilize legal resources to defend their rights through WTO dispute settlement? If they
participate, will they find the system efficacious? How could the DSU be modified to enhance the
system’s effectiveness for developing countries?
11
1


trong WTO và ASEAN, Trung tâm Tư vấn có thể phát triển chuyên môn và bảo vệ
lợi ích quốc gia nhiều hơn nữa với chi phí hợp lý. Các nước đang phát triển có
thể yêu cầu sự giúp đỡ từ Trung tâm Tư vấn, hoặc tổng hợp các nguồn lực của
họ". (1).
.Thứ ba, các nước bị xâm hại quyền lợi trong WTO có thể liên minh với nhau,
cùng nhau hỗ trợ thông qua áp lực chính trị trong nước (như vụ chống lại áp lực
về bảo vệ bằng sáng chế dược phẩm Hoa Kỳ và EU) và thông qua việc cung cấp

3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng pháp luật cộng đồng ASEAN, Hà
Nội _ 2011
4. Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật Quốc Tế, Nxb CAND, Hà Nội,
2007
5. Chuyên đề kỷ niệm 40 năm thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁASEAN, Tạp chí luật học, số 9/2007.
13


6. www.asean.org
7. www.wto.org

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status