Báo cáo " Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN " doc - Pdf 12



nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè
9
/2007
69 ThS. Lª Minh TiÕn *
ròn 40 năm ra đời và phát triển,
ASEAN đã đạt được những bước tiến
dài trên nhiều lĩnh vực hoạt động, các quan
hệ hợp tác ngày càng phát triển sâu rộng và
thiết thực hơn. Trong quá trình hợp tác toàn
diện đó, các tranh chấp, bất đồng ở các cấp
độ khác nhau (quốc gia, cơ quan nhà nước,
doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân ) xảy ra
là điều không tránh khỏi. Do vậy, cũng như
các tổ chức và liên kết khu vực khác, hoạt
động giải quyết tranh chấp của ASEAN cũng
đã dần được thể chế hóa và hoàn thiện trong
khuôn khổ pháp lí của tổ chức này.
I. CƠ CHẾ CHUNG
Do nhiều lí do khách quan và chủ quan,

kinh tế, xã hội của ASEAN.
Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp,
Điều 13 Hiệp ước Bali cũng như Điểm 2 của
Tuyên bố Bangkok năm 1967 khẳng định
việc “tôn trọng công lí và nguyên tắc luật
pháp trong quan hệ giữa các nước trong
vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến
chương Liên hợp quốc” để đạt được mục tiêu
phát triển kinh tế, thúc đẩy hoà bình và ổn
định khu vực. Theo đó, tranh chấp giữa các
nước ASEAN được giải quyết theo nguyên
tắc “từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại
sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền
độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào
T

* Giảng viên Khoa luật quốc tế
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
70 tạp chí luật học số 9/2007
cng nh bng cỏch khỏc trỏi vi nhng
mc ớch ca Liờn hp quc (khon 4
iu 2 Hin chng Liờn hp quc) v
nguyờn tc gii quyt cỏc tranh chp quc
t bng bin phỏp ho bỡnh, sao cho khụng
tn hi n ho bỡnh, an ninh quc t v
cụng lớ (khon 3 iu 2 Hin chng Liờn

gian, ho gii ). Hi ng cng cú th l bờn
trung gian hoc theo tha thun ca cỏc bờn
tranh chp, hot ng nh mt y ban trung
gian, iu tra, hũa gii.
- Trong trng hp cn thit, hi ng s
khuyn ngh nhng bin phỏp thớch hp
ngn chn tranh chp hoc tỡnh hỡnh xu i.
Nh vy, ASEAN khụng thnh lp c
quan gii quyt tranh chp chuyờn trỏch nh
Tũa ỏn cụng lớ ca Liờn hp quc hoc Tũa
liờn minh chõu u S thiu vng ca c
quan ny cú th lớ gii t gúc vn húa v
truyn thng phỏp lut ca cỏc nc
ASEAN. Mt trong nhng c trng chung
ca vn hoỏ phỏp lut ụng Nam chớnh l
vic u tiờn gỡn gi cỏc quan h iu ho
trong gia ỡnh, tp th, xó hi, trỏnh v hn
ch kin tng trc to ỏn. Thc tin gii
quyt tranh chp núi chung, tranh chp v
thng mi, u t núi riờng ca cỏc nc
thnh viờn ASEAN luụn coi trng cỏc
phng thc gii quyt tranh chp khụng
chớnh thc, cú tớnh truyn thng nh trung
gian, ho gii, trng ti, c cỏc nh nc
ASEAN tha nhn v khuyn khớch phỏt
trin bng nhiu bin phỏp nh th ch hoỏ
bng lut v ho gii, trng ti; h tr xõy
dng cỏc trung tõm, t chc gii quyt tranh
chp ngoi t tng t phỏp Indonesia
sỏng lp viờn cú nhng úng gúp to ln nht

thuận ưu đãi thương mại (PTA) năm 1977,
Chương trình liên doanh công nghiệp
ASEAN (AIJV) năm 1983, Hiệp định về
khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm 1987
Đặc biệt, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4
tại Singapore năm 1992 đã đánh dấu bước
chuyển mình thực sự trong hợp tác kinh tế -
thương mại của ASEAN. Tại Hội nghị này,
nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ các
nước ASEAN đã thông qua Tuyên bố
Singapore, Hiệp định khung về tăng cường
hợp tác kinh tế ASEAN và quan trọng nhất
là quyết định thành lập Khu vực thương mại
tự do ASEAN (AFTA) trong thời hạn 15
năm. Cũng tại hội nghị này, Hiệp định về
chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực
chung (CEPT) được kí kết như công cụ
chính yếu để xây dựng AFTA. Tiếp sau đó,
các nước ASEAN cũng đã kí một loạt hiệp
định khác trong các lĩnh vực dịch vụ, sở hữu
trí tuệ, công nghiệp.
Sự phát triển cả về quy mô cũng như
chất lượng của các cam kết kinh tế - thương
mại lúc này đã đặt ra nhu cầu phải có cơ chế
giải quyết tranh chấp minh bạch, cụ thể và rõ
ràng dành riêng cho lĩnh vực kinh tế -
thương mại. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1995
nhóm công tác kĩ thuật về triển khai Hiệp
định CEPT-AFTA (lần thứ 10) đã bắt đầu
thảo luận xây dựng dự thảo cơ chế giải quyết

giải quyết tranh chấp;
- Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp;
- Thủ tục thi hành phán quyết.
2. Phạm vi giải quyết tranh chấp
- Trước hết, do ASEAN là tổ chức liên
chính phủ nên PDSM chỉ áp dụng để giải nghiªn cøu - trao ®æi
72 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2007
quyết tranh chấp giữa các chính phủ, không
áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa doanh
nghiệp với chính phủ hoặc doanh nghiệp với
doanh nghiệp.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp theo
PDSM được áp dụng đối với tất cả các tranh
chấp liên quan đến việc thực hiện, giải thích
hoặc áp dụng các hiệp định được nêu trong
Phụ lục 1 và các hiệp định kinh tế của
ASEAN trong tương lai.
Tại thời điểm kí Nghị định thư này, đã
có 47 hiệp định kinh tế của ASEAN được
đưa vào phạm vi điều chỉnh của Nghị định
thư, trong đó bao gồm cả các hiệp định rất
quan trọng của hợp tác kinh tế ASEAN như
Hiệp định CEPT/AFTA, Hiệp định khung về
dịch vụ, Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ,
Hiệp định AICO. Sau này, các hiệp định
khác như Hiệp định về khu vực đầu tư
ASEAN, Hiệp định e-ASEAN, Hiệp định về

ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành
viên trong việc tìm kiếm những giải pháp hoà
bình tại các diễn đàn quốc tế khác vào bất kì
lúc nào trước khi SEOM ra quyết định. Ví dụ,
các nước ASEAN đồng thời là thành viên của
WTO có thể đưa vụ việc ra giải quyết theo cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO.
3. Cơ quan giải quyết tranh chấp
Tương tự như WTO, các nước ASEAN
cũng không thành lập cơ quan chuyên trách
về giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại
mà quy định cho một số cơ quan trong bộ
máy của mình kiêm nhiệm thêm chức năng
giải quyết tranh chấp (Hội nghị bộ trưởng
kinh tế AEM, Hội nghị quan chức kinh tế cao
cấp SEOM và ban thư kí). Trong trường hợp
cần thiết thì thành lập một cơ quan giúp việc
có tính chất adhoc (Ban hội thẩm PANEL).
a. Hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM
Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong
giải quyết tranh chấp. Quyết định của AEM
là quyết định chung thẩm (Điều 8 PDSM)
b. Hội nghị các quan chức kinh tế cao
cấp SEOM
Là cơ quan có thẩm quyền giải quyết nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè
9

Để hỗ trợ cho việc lựa chọn thành viên
ban hội thẩm, ban thư kí ASEAN lập và duy
trì một bản danh sách trên cơ sở đề cử của
các nước thành viên, gồm các cá nhân có đủ
tiêu chuẩn thuộc các cơ quan chính phủ và
phi chính phủ. Danh sách này được các nước
thành viên bổ sung định kì và do SEOM
thông qua Bản danh sách phải chỉ rõ
chuyên môn và kinh nghiệm của từng cá
nhân trong các lĩnh vực hay các vấn đề thuộc
các hiệp định được áp dụng.
Ban hội thẩm gồm 3 thành viên, trừ
trường hợp các bên liên quan đến tranh chấp
thống nhất với nhau về số thành viên là 5 (sự
thoả thuận này phải thực hiện trong vòng 10
ngày kể từ ngày thành lập ban hội thẩm).
Các nước thành viên sẽ được thông báo ngay
về thành phần ban hội thẩm.
Các thành viên ban hội thẩm do ban thư
kí đề cử cho các bên có liên quan đến tranh
chấp. Các bên có liên quan không được bác
bỏ việc đề cử này trừ phi có lí do chính
đáng. Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày
thành lập ban hội thẩm mà không thống nhất
được danh sách các hội thẩm viên do yêu
cầu của một trong các bên liên quan thì Tổng
thư kí ASEAN, sau khi đã tham vấn Chủ tịch
SEOM, sẽ quyết định thành phần ban hội
thẩm bằng cách chỉ định những người mà
Tổng thư kí cho là thích hợp nhất đối với các

ngoại lệ, ban hội thẩm có thể có thêm 10 ngày
nữa để trình những tài liệu này lên SEOM.
Trong khoảng thời gian này, ban hội thẩm sẽ
dành cơ hội thích đáng cho các bên tranh chấp
xem lại báo cáo trước khi đệ trình.
d. Ban thư kí
Điều 11 PDSM quy định ban thư kí
ASEAN phải có trách nhiệm:
- Giúp đỡ ban hội thẩm, đặc biệt là về
phương diện lịch sử và thủ tục của những
vấn đề đang được xử lí; hỗ trợ về mặt kĩ
thuật và hành chính.
- Theo dõi và duy trì giám sát việc thực
hiện quyết định của SEOM và phán quyết
của AEM trong trường hợp có thể.
- Hoà giải hoặc làm trung gian để hỗ trợ
các quốc gia thành viên giải quyết tranh chấp.
4. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
Tổng thời gian để giải quyết một tranh
chấp theo PDSM không được quá 290 ngày
(Điều 10), bao gồm các bước sau:
- Tham vấn, trung gian hoặc hoà giải;
- Tố tụng tại SEOM;
- Kháng nghị quyết định của SEOM lên
Hội nghị các bộ trưởng kinh tế;
- Thực hiện quyết định của SEOM hoặc AEM;
a. Tham vấn, trung gian hoặc hòa giải
- Tham vấn:
Điều 2 PDSM quy định nếu có bất đồng
liên quan đến việc thực hiện, giải thích hay

Điều 11 của PDSM thì ban thư kí ASEAN
có thể tự nguyện giúp các bên giải quyết
tranh chấp với tư cách là người trung gian,
hoà giải.
b. Giải quyết tranh chấp tại SEOM (Điều
7 PDSM)
Theo các điều 5, 6 và 7 PDSM, nếu trong
vòng 60 ngày mà việc tham vấn, thương nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè
9
/2007
75

lượng trực tiếp hay trung gian, hoà giải
không giải quyết được tranh chấp thì vụ việc
sẽ được đưa lên SEOM giải quyết.
Trong vòng 30 ngày sau ngày tranh chấp
được đệ trình, SEOM sẽ thành lập một ban
hội thẩm (Panel) để giúp SEOM trong việc
giải quyết vụ việc hoặc nếu có thể, chuyển
vấn đề cho ban chuyên trách phụ trách các
quy tắc và thủ tục bổ sung hoặc xem xét theo
các hiệp định thuộc Phụ lục 1.
- Quy trình làm việc của ban hội thẩm

đến lượt bên khiếu nại. Các bên phải nộp bản
ý kiến bác bỏ lên ban hội thẩm trước cuộc
họp này.
+ Bất kì lúc nào, ban hội thẩm cũng có
thể nêu câu hỏi và yêu cầu các bên giải thích
hoặc trong quá trình họp với các bên hoặc
bằng văn bản.
+ Các bên tranh chấp phải cung cấp cho
ban hội thẩm lời phát biểu của mình bằng
văn bản.
+ Để đảm bảo tính rõ ràng thì việc khiếu
nại, bác bỏ hay phát biểu phải được đưa ra
với sự có mặt của các bên. Ngoài ra, văn bản
của mỗi bên bao gồm cả nhận xét về báo cáo
hay trả lời những câu hỏi của ban hội thẩm
phải được cung cấp cho các bên khác.
Ban hội thẩm phải đệ trình báo cáo và
kết luận về vụ việc lên SEOM trong vòng 60
ngày kể từ ngày thành lập. Trong những
trường hợp ngoại lệ, ban hội thẩm có thể có
thêm mười ngày nữa để trình những tài liệu
này lên SEOM.
- Quyết định của SEOM
SEOM sẽ xem xét báo cáo của ban hội
thẩm trong quá trình thảo luận của mình và
đưa ra quyết định về tranh chấp trong vòng
30 ngày kể từ ngày ban hội thẩm trình báo
cáo, thời hạn này có thể kéo dài thêm 10
ngày trong trường hợp ngoại lệ. Các đại diện
SEOM của các nước thành viên là các bên

5. Thi hành phán quyết của SEOM
hoặc AEM
a. Tuân thủ các quyết định
Do việc tuân thủ ngay lập tức các quyết
định của SEOM hoặc phán quyết của AEM
là vấn đề căn bản để đảm bảo hiệu quả của
việc giải quyết tranh chấp nên các nước
thành viên là các bên tranh chấp phải tuân
thủ các quyết định hoặc phán quyết đó trong
một khoảng thời gian hợp lí. Theo khoản 3
Điều 8 của PDSM, khoảng thời gian hợp lí là
khoảng thời gian do các bên tranh chấp cùng
nhau thoả thuận nhưng trong bất kì trường
hợp nào cũng không vượt quá 30 ngày kể từ
khi SEOM ra quyết định hoặc trong trường
hợp chung thẩm là 30 ngày kể từ khi AEM ra
phán quyết. Các nước thành viên liên quan
phải nộp cho SEOM hoặc AEM (tùy trường
hợp cụ thể, liên quan tới SEOM hoặc AEM thì
nộp cho cơ quan đó) báo cáo bằng văn bản về
tình hình thực hiện quyết định hoặc phán quyết
nói trên của SEOM hoặc AEM.
b. Đền bù hoặc đình chỉ ưu đãi (Điều 9 PDSM)
Nếu nước thành viên liên quan thấy biện
pháp giải quyết tranh chấp không phù hợp
với Hiệp định hoặc bất kì hiệp định nào được
áp dụng và nước thành viên này cũng không
có cách nào để tuân thủ được các quyết định
của SEOM hoặc phán quyết của AEM trong
khoảng thời gian hợp lí thì nước thành viên

77

giải quyết tranh chấp của nó. Trong khi đó đại
đa số thành viên của ASEAN lúc này đồng
thời là thành viên của WTO nên về cơ bản cơ
chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại
của ASEAN là sự mô phỏng cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO với một vài thay đổi cho
phù hợp với đặc thù của ASEAN.
Thứ hai, một trong những hạn chế không
thể không đề cập của PDSM là đã không ghi
nhận nguyên tắc đồng thuận nghịch trong
quy trình ra quyết định của cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO (theo nguyên tắc này,
báo cáo của ban hội thẩm hoặc cơ quan phúc
thẩm thường trực sẽ được Đại hội đồng
WTO thông qua gần như tự động, trừ phi tất
cả các nước thành viên đều phủ quyết). Với
nguyên tắc đa số của mình, SEOM hoặc
AEM của ASEAN sẽ rất khó có thể ban
hành phán quyết khi có những nước muốn
cản trở quá trình này.
Thứ ba, về mặt thực tiễn, mặc dù với các
quy định và thủ tục về cơ bản là rất cụ thể, rõ
ràng và chặt chẽ nhưng kể từ khi ra đời cho
đến nay, cơ chế này rất ít khi được sử dụng,
nếu các nước thành viên có sử dụng thì cũng
chỉ dừng lại ở giai đoạn tham vấn. Mỗi khi
có tranh chấp xảy ra là các nước thành viên
tiến hành tham vấn, sau đó lại cùng nhau xây

nữa, ASEAN không chỉ là tổ chức hợp tác về
kinh tế - thương mại mà là tổ chức hợp tác
toàn diện cả về chính trị, an ninh, xã hội
nên khi giải quyết tranh chấp trong bất kì
lĩnh vực nào các nước thành viên luôn phải
cân nhắc thỏa đáng mọi khía cạnh, đôi khi
vượt ra khỏi phạm vi tranh chấp đó để gìn
giữ quan hệ hợp tác hữu nghị, hài hòa theo
phương châm “thống nhất trong đa dạng”
(3)

giữa các nước thành viên./.

(1).Xem: Viện Đông Nam Á, “Các nước Đông Nam Á
lịch sử và hiện tại”, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990 tr. 79-81.
(2).Xem: Báo cáo về hợp tác kinh tế cuối năm 1997
của ban thư kí ASEAN.
(3).Xem: “35 năm ASEAN - Hợp tác và phát triển”,
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia,
Viện kinh tế thế giới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội
2003, tr. 22.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status