CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KHU VỰC
A. Cơ chế giải quyết tranh chấp tại NAFTA:
I. Chương 20: Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc áp dụng, thi hành
và giải thích hiệp định
Chương 20 quy định việc thành lập Ủy ban thương mại tự do và Ban thư
kí - hai cơ quan thường trực gồm cả ba bên có trách nhiệm giám sát và thi hành
hiệp định. Chúng giúp cho việc quyết định liên quan đến hoạt động của Hiệp
định một cách thuận lợi.
Phần 1: Các cơ quan
ban thẩm định khoa học.
Ban thư ký hỗ trợ FTC và đảm nhận công tác hành chính cho ban hội thẩm
giải quyết tranh chấp. Chịu sự quản lý của FTC, Ban thư ký cũng hỗ trợ các ủy
ban, các nhóm làm việc và các điều kiện để thực hiện Hiệp định.
3) Ủy ban và nhóm làm việc:
FTC quy định thành lập một số ủy ban và nhóm làm việc xem xét và thảo
luận các vấn đề liên quan đến các vấn đề được phân công. Họ có thẩm quyền
giám sát việc thi hành hiệp định NAFTA trong khu vực mà hiệp định này có
ảnh hưởng
Phần 2: Giải quyết tranh chấp
Hệ thống giải quyết tranh chấp được hình thành theo thủ tục chương 20
trong ba phạm vi: sự bàn bạc giữa các bên, sự can thiệp của FTC, ban hội thẩm
tố tụng.
1, Phạm vi:
Chương 20 giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến:
(a) Việc giải thích các điều khoản và việc một bên không thực hiện nghĩa
vụ của mình theo hiệp định.
(b) Việc một bên thi hành các biện pháp hiện tại hoặc mới được đề xuât
mà việc thực thi này bị các bên khác coi là trái với Hiệp định.
(c) Việc một bên thi hành các biện pháp hiện tại hoặc mới được đề xuât
mà việc thực thi này bị các bên khác coi là việc áp dụng đó làm vô
hiệu hoặc làm suy yếu Hiệp định.
2, Sự lựa chọn tòa án WTO/NAFTA:
Khi ký kết hiệp định NAFTA, Mexico, Mỹ và Canada không từ bỏ quyền
của họ theo WTO. Do đó, các tranh chấp liên quan đến cả NAFTA và WTO sẽ
được giải quyết bởi tòa án theo ý muốn của các bên thưa kiện.(2005.1)
Quy tắc chung:
Để tránh các thủ tục song song và hơn hết là các quyết định mâu thuẫn nhau,
trong trường hợp sự viện dẫn của một quốc gia thành viên có thể hình thành nên
một sự vi phạm theo cả WTO và NAFTA, bên khởi kiện lựa chọn tòa án để giải
Nếu tham vấn không đưa ra được cách giải quyết, bất kỳ bên nào có thể đưa
ra văn bản yêu cầu FTC tổ chức một cuộc họp. FTC giải quyết vấn đề trong 30
ngày, hoặc trong một khoảng thời gian khác theo sự nhất trí của các bên.
Thư của bên khởi kiện phải nêu rõ phạm vi và các vấn đề khác hoặc các vấn
đề khác mà nước này khiếu nại, chỉ ra các điều khoản của hiệp định có liên quan
và trình bày một tuyên bố tóm tắt về kết quả của tham vấn. Bên khởi kiện phải
gửi tới các bên khác và bên thư ký của khu vực quốc đó thư khiếu nại của mình.
Cơ chế giải quyết mà FTC sử dụng : trung gian, hòa giải.
Khi được yêu cầu giải quyết, trong vòng 10 ngày kể từ khi yêu cầu được
đưa ra FTC sẽ triệu tập . FTC có thể:
Triệu tập các cố vấn chuyên môn hoặc thành lập các nhóm làm việc
hay nhóm chuyên viên cần thiết.
Dựa vào các cơ chế trung gian, hòa giải, hoặc các thủ tục giải quyết
tranh chấp khác.
Thực hiện các khuyến nghị; hoặc
Hỗ trợ các bên tranh chấp trong việc thương lượng để tìm ra giải pháp
thỏa đáng.
Mục đích của sự thi hành FTC trong chương 20 là đưa ra lời khuyên cho các
bên trong tranh chấp khuyến khích không khí đàm phán và tránh các thủ tục tốn
kém và kéo dài.
Thủ tục tố tụng ban bồi thẩm trọng tài
Nếu trong 30 ngày mà FTC không giải quyết được vấn đề, một bên tham vấn
yêu cầu FTC bằng văn bản, thành lập 1 ban bồi thẩm trọng tài gồm 5 thành viên
(4 panellists và 1 chủ tọa).
Nếu trong vòng 15 ngày các bên tranh chấp không thể thỏa thuận được chủ
tọa thì trong 5 ngày họ sẽ chọn 1 chủ tọa là 1 thành viên trong bảng phân công
và không phải là một trong những công dân của họ. Nếu các bên tranh chấp
trong 15 ngày đã chọn được chủ tọa thì các thành viên tham gia sẽ rút thăm
chọn ra trong bảng phân công một trong những công dân của các bên khác trong
tranh chấp.
thể tìm kiếm thông tin và cố vấn chuyên môn từ bất kỳ cá nhân hoặc nhóm nào
thích hợp.
4) Bên thứ 3 có liên quan
Bên thứ 3 có lợi ích xác thực tronng vụ việc có thể tham gia với tư cách
một bên thưa kiện. Để thực hiện quyền này, bên thứ ba đưa ra bản thông báo
dưới dạng viết đến các bên tranh chấp trong 7 ngày kể từ ngày Ban hội thẩm
được thành lập theo yêu cầu của 1 bên tranh chấp.
5) Bên thứ 3 không liên quan
Bên thứ 3 không phải là một bên trong tranh chấp có quyền tham gia điều
trần, tranh tụng miệng và văn bản liên lạc đến ban bồi thẩm, nhận văn bản đệ
trình từ các bên tranh chấp.
6) Các nguyên tắc khác
Nguyên tắc mẫu đề cập đến các nguyên tắc khác liên quan đến sự chỉ dẫn
và sự phát triển của thủ tục tố tụng, liên quan đến:
Sự giải quyết và thi hành của ban thư ký
Thời gian, tính toán thời gian và đình chỉ vụ kiện.
Các phương pháp liên lạc giữa các bên với FTC, ban bồi thẩm với
nhau.
Số lượng các bản sao chép của các bản thông báo.
Chữa lỗi thủ tục.
Thay thế các trọng tài viên đã chết, xin từ chức hoặc bị cách chức.
Địa điểm buổi điều trần và hướng dẫn cho các bên.
Ghi chép lại buổi điều trần.
Ngôn ngữ của văn bản đệ trình và tranh tụng.
Trách nhiệm phải đưa ra chứng cứ.
Việc chọn lọc và giải thích của ban thẩm định khoa học.
Chi trả các phí tổn cho chuyên viên, bồi thẩm viên và viên phụ
thẩm và
Các nguyên tắc đặc biệt có thể áp dụng để đình chỉ thẩm quyền của
ban bồi thẩm.
hợp được quy định rõ ràng trong chương 14.
Hơn nữa, việc đưa ra một định nghĩa rộng của đầu tư trong một hiệp định
thương mại tự do gây khó khăn cho việc đạt được một chương độc lập về đầu
tư.
Vì tất cả những điều trên, đây là các điều khoản xuyên suốt hiệp định
được điều chỉnh giữa chương này và các chương khác trong đầu tư. đặc biệt,
điều 1112 quy định rằng: trong bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chương này và các
chương khác thì các chương khác sẽ chiếm ưu thế trong phạm vi mâu thuẫn”.
Các điều khoản trọng yếu:
- Điều 1102 (Đối xử quốc gia): Mỗi bên phải đối xử, trong những trường
hợp như nhau, với các nhà đầu tư và việc đầu tư của các nhà đầu tư của
một bên khác không kém ưu đãi hơn với các nhà đầu tư và việc đầu tư
của các nhà đầu tư trong nước trong các vấn đề thành lập, thu nhập, mở
rộng, quản lý, chỉ đạo, sản xuất hay kinh doanh.
- Điều 1103 (Đối xử tối huệ quốc): Mỗi bên sẽ phải đối xử, trong trường
hợp như nhau, với các nhà đầu tư và việc đầu tư của các nhà đầu tư của
các nước không tham gia hiệp định NAFTA trong các vấn đề thành lập,
thu nhập, mở rộng, quản lý, chỉ đạo, sản xuất hay kinh doanh.
- Điều 1104 (Tiêu chuẩn đối xử): Mỗi bên đều phải tuân theo “Đối xử quốc
gia” hay “Đối xử tối huệ quốc”, tùy theo điều kiện nào là tốt hơn, với các
nhà đầu tư hoặc việc đầu tư của các nhà đầu tư của các bên khác.
- Điều 1105 (Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu): Mỗi bên có nghĩa vụ phải luôn
thỏa thuận việc đối xử với việc đầu tư của các nhà đầu tư đến từ các nước
thành viên khác theo Luật quốc tế. Có thể coi việc đối xử này là một
“base level”, bao gồm quyền được đối xử công bằng và được bảo vệ và
an ninh đầy đủ.
- Điều 1106 (Thực hiện các điều kiện cần thiết): hiệp định này cấm việc
đưa ra những yêu cầu lừa gạt trong lĩnh vực đầu tư, bóp méo chu trình
của thương mại quốc tế và đầu tư (các nước Canada, Mexico và Mỹ
không thể quy định công thức được quy định thành điều khỏan nào về sự
Trường hợp ngoại lệ: Có những trường hợp ngoại lệ được quy định trong
nguyên tắc đầu tư:
- Phần Bảo lưu được thêm vào ở cuối Hiệp định;
- Và trong Chương về các vấn đề bảo lưu cho các điều khỏan của Hiệp
định.
Cơ chế giải quyết tranh chấp: Chương 11, phần B đưa ra thủ tục cho cơ
cấu giải quyết tranh chấp đầu tư theo các nguyên tắc tồn tại dộc lập của Phần A
chương 11. Cơ chế này bao gồm các nguyên tắc:
- Đối xử ngang bằng với các nhà đầu tư của các bên theo nguyên tắc có đi
có lại.
- Bảo vệ quyền tự vệ của các bên.
- Sự công bằng trong việc thiết lập tòa án.
Những yêu cầu về mặt thủ tục:
- Trước khi tiến hành các thủ tục trọng tài,các bên tranh chấp sẽ phải trải
qua bước giải quyết đầu tiên là bàn bạc và đàm phán.
- Yêu cầu về mặt thời gian: Thủ tục tố tụng trọng tài sẽ bắt đầu trong vòng
3 năm kể từ khi nhà đầu tư phát hiện ra những cơ sở để khởi kiện thì có
thể khởi kiện. (Sau 3 năm, hết thời hạn khởi kiện thì không được khởi
kiện nữa)
- Các nhà đầu tư của tranh chấp cần phải gửi cho bên tranh chấp bản thông
cáo mà mình sẽ đưa lên trọng tài trong vòng là 90 ngày, trước khi yêu cầu
đó được đệ trình lên trọng tài. Yêu cầu có thể được đưa lên trọng tài sau 6
tháng kể từ khi phát hiện bên còn lại vi phạm nghĩa vụ của mình và gây
thiệt hại cho nhà đầu tư (điều 1120)
Các quy tắc áp dụng trọng tài:
- Công ước về giải quyết tranh chấp giữa chính phủ của các quốc gia khác
nhau (Công ước ICSID).
- Nguyên tắc bổ sung của ICSID; hoặc
- Các quy tắc trọng tài của Ủy ban Liên Hợp Quốc theo Luật thương mại
quốc tế (UNCITRAL).
sách 45 người đã nói ở trên.
- Trong trường hợp không có trọng tài thích hợp nào được chọn, các thành
viên của Tòa sẽ được Ban hội thẩm Trọng tài của ICSID lựa chọn. Nếu
không thể lựa chọn, Tổng thư kí của ICSID sẽ chỉ định ngẫu nhiên. Trong
trường hợp này, chủ tọa không được cùng quốc tịch với các bên có tranh
chấp.
Điều khoản chung:
- Thông báo và sự tham gia của các bên: Bên tranh chấp sẽ gửi văn bản
thông báo về vấn đề tranh chấp cho bên kia trong vòng 30 ngày sau khi
yêu cầu được đệ trình.
- Địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài và Luật điều chỉnh:
Thủ tục tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành ở trong lãnh thổ của bất
cứ bên nào là thành viên của công ước New York. Địa điểm tiến
hành sẽ được chọn theo các quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp.
Tòa sẽ quyết định những vấn đề của tranh chấp theo các thủ tục của
Hiệp định và quy tắc áp dụng của Luật quốc tế. Việc giải thích các
thủ tục của Ủy ban thương mại tự do (FTC) về Hiệp định là có tính
ràng buộc với Tòa trọng tài được thiết lập theo chương 11.
- Phụ lục giải thích:
Các nước thành viên của NAFTA có thể đưa ra bảo lưu và ngoại lệ
liên quan đến đầu tư, được quy định trong phụ lục I, II, III và IV
của Hiệp định.
Ủy ban thương mại tự do có thể đệ trình văn bản giải thích lên Tòa
trong vòng 60 ngày kể từ ngày đưa ra yêu cầu, và sự giải thích này
có tính cưỡng chế.
Chỉ khi Ủy ban này không đưa ra được ý kiến giải thích trong thời
gian quy định thì Tòa sẽ quyết định vấn đề này.
Các biện pháp và quyết định tạm thời
- Các biện pháp bảo vệ tạm thời: tòa án có thể chỉ thị các biện pháp bảo vệ
tạm thời để bảo đảm quyền của các bên tranh chấp, hoặc bảo đảm các
trách nhiệm bồi thường (Anti-dumping and countervailing duty) và bảo đảm
rằng luật pháp nội bộ của một bên không công bằng trong các vấn đề của thực
tiễn thương mại tạo ra những trở ngại không cần thiết cho bên kia hay sự bảo hộ
không công bằng giữa các bên đầu tư sẽ không được thông qua dưới bất cứ hình
thức nào.
Về việc ban hành Luật sửa đổi Chống bán phá giá và trách nhiệm bồi
thường:
Mỗi bên bảo lưu quyền để sửa đổi Bộ Luật chống bán phá giá và trách nhiệm
bồi thường của mình cần phải thực hiện các thủ tục:
Trước khi ban hành Luật sửa đổi, bên có đề xuất đưa ra Luật sửa đổi sẽ
phải:
Thông báo bằng văn bản cho các bên khác; và
Trao đổi ý kiến với các bên đó, nếu được yêu cầu, trước khi ban hành
Luật sửa đổi.
Luật sửa đổi được ban hành không được trái với:
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT), Hiệp
định về việc thi hành chương VI của GATT 1994 (the Anti-dumping
Code) hay Hiệp định về các biện pháp trợ cấp và bồi thường; hoặc
Mục đích của NAFTA và chương 19 (được thiết lập với các điều kiện
công bằng và có thể lường trước trong vấn đề tự do hóa thương mại
ngày càng phát triển giữa các bên trong việc duy trì tính hiệu quả và
công bằng của thực tiễn thương mại không công bằng).
Tranh chấp liên quan đến Luật sửa đổi bổ sung:
Một bên có thể yêu cầu bằng văn bản rằng những sửa đổi bổ sung Luật
chống bán phá giá và bồi thường thiệt hại của một bên khác sẽ được các
viên bồi thẩm hai bên đưa ra quan điểm giải thích nếu:
Luật sửa đổi phù hợp với các điều khoản của điều 1902.2, hoặc
Những điều khoản sửa chữa đưa ra khác với quyết định của Ban hội
thẩm trước đó.
Các thủ tục Ban hội thẩm:
nhiệm bồi thường:
Mỗi bên nếu muốn ban hội thẩm của hai bên xem xét lại việc thi hành
phán quyết cuối cùng về Luật chống bán phá giá và trách nhiệm bồi
Đưa yêu
cầu lên ban
hội thẩm
55 ngày
Thành lập
ban hội
thẩm
90
ngày
14
ngày
Phán quyết
sơ bộ
Đưa
yêu cầu
kháng án
Các bên tìm giải
pháp thích hợp
cho cả hai bên
Phán quyết
cuối cùng
90
ngày
thẩm
30
ngày
30
ngày
45
ngày
120 ngày
Tiến hành
Thẩm tra
Ra
thông cáo
Gửi
Văn bản
Đệ trình
Văn bản
Trình bày
30 ngày
Bác bỏ
nhưng lý lẽ
15-30 ngày
Điều trần
và Nghị án
Thỏahiệp
điều kiện
pháp lý
.
- Extraordinary Challenge:
Một bên có thể yêu cầu Ủy ban giám sát thực nghiệm (Extraordinary
Challenge Committee) triệu tập cuộc họp nếu nhận thây rằng:
Một viên hội thẩm vi phạm nghiêm trọng vào điều lệ hướng dẫn;
Một Ban hội thẩm đã sao nhãng những nguyên tắc cơ bản của thủ tục tố
tụng; hoặc
Ban hội thẩm lạm dụng quyền hành.
- Việc thành lập ban hội thẩm hai bên: Chương 19 quy định Ban hội thẩm
của hai bên được thành lập để:
Sửa đổi, bổ sung cho Luật nội địa của quốc gia (domestic legislation);
Đưa ra phán quyết cuối cùng về Luật chống bán phá giá và trách nhiệm
bồi thường
Trong cả hai trường hợp, Ban hội thẩm đều bao gồm 5 thành viên, được
chọn từ một danh sách gồm 75 viên hội thẩm được chọn từ 3 nước (mỗi
nước chọn ra 25 người).
Theo đó,
Các bên tham gia có 30 ngày để bàn bạc, trao đổi với nhau để chỉ định
các viên hội thẩm;
Cả hai bên liên quan sẽ có 45 ngày để đề xuất các yêu cầu thích hợp mà
các bên quan tâm; và
Năm thành viên của Ban hội thẩm sẽ được chỉ định trong vòng 55 ngày
kể từ khi có yêu cầu về việc thành lập một ban hội thẩm.
B. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HIỆN HÀNH CỦA KHỐI THỊ
TRƯỜNG CHUNG NAM MỸ MERCOSUR
I. Tổng quan
1. Giới thiệu sơ lược
MERCOSUR (Viết tắt từ tiếng Tây Ban Nha Mercado Común del Sur,
tiếng Anh: Southern Common Market) tức Khối thị trường chung Nam Mỹ,
thành lập năm 1991 với 4 thành viên Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay;
Kinh tế và các ngân hàng trung ương. Chính phủ các nước chỉ định các thành
viên và người thay luân phiên các thành viên. Các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
điều phối Nhóm Thị trường Chung. (NĐT Ouro Preto, Điều 11)
b) Thẩm quyền chức năng
Nhóm Thị trường Chung là một cơ quan liên chính phủ và một cơ quan
hành pháp (HƯ Asunción, Điều 13; NĐT Ouro Preto, Điều 10). Một trong
những chức năng của cơ quan này là chịu trách nhiệm đảm bảo thực thi Hiệp
Ước Asunción, các nghị định thư của Hiệp ước này và các thoả thuận được ký
kết cũng trong khuôn khổ Hiệp Ước này. Nghị quyết của Nhóm Thị trường
chung CMG có tính ràng buộc các quốc gia thành viên (NĐT Ouro Preto, Điều
15).
Khi Nhóm Thị trường chung được yêu cầu tham gia giải quyết một vụ
tranh chấp thì cơ quan này, với tư cách cơ quan hoà giải, chỉ đưa ra các khuyến
nghị. Đồng thời tính ràng buộc của các khuyến nghị này lại không được thể hiện
rõ ràng trong Nghị định thư Olivos.
1.2. Uỷ ban Thương Mại MERCOSUR (The MERCOSUR Trade
Commission)
a. Cơ cấu tổ chức
Uỷ ban Thương mại MERCOSUR gồm bốn thành viên đến từ mỗi nước
thành viên, do các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao điều phối (NĐT Ouro Preto, Điều
17).
b. Chức năng
Uỷ ban Thương mại MERCOSUR báo cáo và hỗ trợ Nhóm Thị trường
Chung về các chính sách thương mại. Quyết định của Uỷ ban này đưa ra dưới
hình thức Chỉ thị (Directives) và Kiến nghị (Proposals). Chỉ thị có tính ràng
buộc với các thành viên. (NĐT Ouro Preto, Điều 20)
Uỷ ban Thương mại MERCOSUR có thể tham gia vào quá trình giải
quyết tranh chấp (NĐT Ouro Preto, Điều 21). Cơ quan này có thể thực hiện
tham vấn giữa các bên tranh chấp và có thẩm quyền xem xét các đơn kiện đệ
trình bởi các Tiểu ban Quốc gia, các tiểu ban của Uỷ ban Thương mại
đủ nhất để được đệ trình các lập luận và bằng chứng của mình, và đảm bảo rằng
vụ án sẽ được xem xét nhanh chóng.
Quyền xác định thẩm quyền xét xử
Nếu một bên đặt nghi vấn về thẩm quyền của Toà trọng tài ad hoc với lập
luận rằng vấn đề trong tranh chấp nằm ngoài phạm vi các Thoả thuận và Nghị
định thư của MERCOSUR, các trọng tài viên sẽ xác định xem liệu mình có
thẩm quyền xét xử đối với vụ việc hay không.
Thẩm quyền xét xử
Phán quyết của các Toà trọng tài ad hoc được thông qua bằng đa số
phiếu. Để đảm bảo tính độc lập của trọng tài viên, phán quyết sẽ không đề cập
đến phiếu chống mà ý kiến mỗi trọng tài viên sẽ được giữ bí mật. Phán quyết
của các Toà trọng tài mang tính rằng buộc với các bên và khi chấm dứt thời hạn
kháng cáo lên Toà Kháng án Thường trực các phán quyết đó sẽ có hiệu lực res
judicata (hiệu lực của một vụ việc đã giải quyết, đã phân xử hoàn tất).
Ngoài ra, Toà trọng tài ad hoc có thể đưa ra các biện pháp tạm thời. Trên
cơ sở yêu cầu của bên có lợi ích bị ảnh hưởng (interested party) và trong chừng
mực giới hạn có cơ sở đáng tin cậy rằng nếu còn duy trì tình trạng đang diễn ra
đó sẽ có thể gây nên những thiệt hại nghiêm trọng và không thể bù đắp cho một
trong các bên tranh chấp, thì Toà trọng tài ad hoc có thể quyết định các biện
pháp tạm thời nếu Toà nhận thấy điều đó là phù hợp nhằm ngăn chặn những
thiệt hại này (NĐT Olivos, Điều 15).
1.4. Toà Phúc thẩm Thường trực PRT (Permanent Review Tribunal) (NĐT
Olivos, Điều 18)
a) Cơ cấu tổ chức
Toà bao gồm 5 trọng tài viên và các trọng tài viên thay thế. Mỗi quốc gia
thành viên của MERCOSUR chỉ định một trọng tài viên, mỗi trọng tài viên có
nhiệm kỳ 2 năm, có thể được bầu lại trong 2 nhiệm kỳ liên tiếp sau đó. Trọng tài
viên thứ 5 được bầu ra theo sự nhất trí của tất cả thành viên, có nhiệm kỳ 3 năm;
không được bầu lại trừ trường hợp các nước thành viên có thoả thuận khác. Chủ
tọa được chọn từ danh sách 8 người do 4 quốc gia thành viên chỉ định. Trong
vấn về những vấn đề pháp lý được điều chỉnh bởi luật MERCOSUR. Những ý
kiến tư vấn này không ràng buộc hoặc mang tính chất cưỡng chế, bởi vì chúng
đơn thuần chỉ là những ý kiến pháp lý; theo đó, chúng không cấu thành tiền
phán quyết (prejudgement) đối với bất kỳ một tranh chấp có thể xảy ra nào.
Yêu cầu xin ý kiến tư vấn có thể đệ trình bởi:
(a) Các bên cùng đưa ra yêu cầu, hoặc các cơ quan hoạch định quyết sách
của MERCOSUR (Hội đồng Khối thị trường Chung, Nhóm Thị trường Chung
và Uỷ ban Thương mại MERCOSUR), nếu các yêu cầu xin ý kiến tư vấn đó liên
quan đến vấn đề pháp lý điều chỉnh bởi luật MERCOSUR;
(b) Các toà án cấp cao của các quốc gia, cơ quan có thẩm quyền xét xử
quốc gia, nếu đó là vấn đề về giải thích luật MERCOSUR.
Lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp (Choice of Forum)
Có những tranh chấp nằm trong phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp
MERCOSUR mà cũng có thể được đưa lên cả cơ chế giải quyết tranh chấp của