Tiểu luận: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA UN - Pdf 12

ICJ + UN Page 1
Tiểu luận CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP CỦA UN

ICJ + UN Page 2

Câu 1: Những cơ quan nào của UN có quyền giải quyết tranh

ICJ + UN Page 3

“The General Assembly may diHĐBAuss any questions relating to the
maintenance of international peace and security brought before it by any
Member of the United Nations, or by the Security Council, or by a state which is
not a Member of the United Nations in accordance with Article 35, paragraph 2,
and, except as provided in Article 12, may make recommendations with
reĐHĐrd to any such questions to the state or states concerned or to the Security
Council or to both. Any such question on which action is necessary shall be
referred to the Security Council by the General Assembly either before or after
diHĐBAussion.”
Art. 11(2) – UN Charter

 ĐHĐ có thẩm quyền đối với những tranh chấp mà ĐHĐ xét thấy có
thể phương hại đến lợi ích chung, hoặc làm tổn thương quan hệ hữu nghị giữa
các dân tộc.
Subject to the provisions of Article 12, the General Assembly may
recommend measures for the peaceful adjustment of any situation, reĐHĐrdless
of origin, which it deems likely to impair the general welfare or friendly relations
among nations, including situations resulting from a violation of the provisions
of the present Charter setting forth the Purposes and Principles of the United
Nations.
Art. 14 – UN Charter

1.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Đại hội đồng
 ĐHĐ có quyền thảo luận mọi vấn đề liên quan đến việc duy trì hòa
bình và an ninh quốc tế do bất cứ thành viên nào của LHQ, HĐBA hay một nước
không phải thành viên của LHQ đưa ra trước trước ĐHĐ theo điều 35 khoản 2.
ĐHĐ có thể đưa ra kiến nghị về mọi vấn đề thuộc loại này với một hoặc nhiều
nước hữu quan, hoặc với HĐBA, hoặc với cả các nước hữu quan và HĐBA. Nếu

2.1. Hội đồng bảo an có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nào?
 Những tranh chấp mà tất cả các quốc gia là thành viên của LHQ hay
không là thành viên của LHQ nhưng thừa nhận nghĩa vụ hòa bình giải quyết
tranh chấp theo quy định tại HCLHQ quốc lưu ý đến HĐBA.
ICJ + UN Page 5

1. Any Member of the United Nations may bring any dispute, or any
situation of the nature referred to in Article 34, to the attention of the Security
Council or of the General Assembly.
2. A state which is not a Member of the United Nations may bring to the
attention of the Security Council or of the General Assembly any dispute to which
it is a party if it accepts in advance, for the purposes of the dispute, the
obliĐHĐtions of pacific settlement provided in the present Charter.
Art. 35(1), (2) – UN Charter

 Những tranh chấp mà các bên không giải quyết được bằng những biện
pháp chỉ rõ trong điều 33.
Should the parties to a dispute of the nature referred to in Article 33
fail to settle it by the means indicated in that Article, they shall refer it to the
Security Council
Art. 27(1) – UN Charter

 Những tranh chấp có thể làm nguy hại đến hòa bình và an ninh
quốc tế mà ĐHĐ lưu ý đến HĐBA.
3. The General Assembly may call the attention of the Security Council to
situations which are likely to endanger international peace and security.
Art. 11(3) – Un Charter

 Những tranh chấp mà Tổng thư kí LHQ lưu ý HĐBA.
The Secretary-General may bring to the attention of the Security Council

vậy, HĐBA cần phải chú trọng mọi thủ tục mà các các đương sự đã áp dụng để
giải quyết các tranh chấp ấy. Đồng thời, HĐBA cũng cần chú trọng đến một
nguyên tắc chung là những tranh chấp pháp lý phải được các bên tranh chấp đưa
lên Tòa án Công lý quốc tế.
+ Trong trường hợp các bên tranh chấp không thể giải quyết bằng các
phương pháp nêu tại điều 33 thì theo điều 37, các bên này sẽ đưa vụ việc lên
HĐBA. Nếu HĐBA nhận thấy việc kéo dài các vụ tranh chấp trên thực tế có thể
đe doạ đến hoà bình và an ninh quốc tế, HĐBA sẽ quyết định có nên hành động
ICJ + UN Page 7

theo điều 36 hay không, hoặc kiến nghị các điều kiện giải quyết tranh chấp mà
HĐBA cho là phù hợp (khoản 2 điều 37).
 Theo chương VII HCLHQ, khi HĐBA nhận thấy những vụ tranh
chấp có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, theo điều 39 HĐBA sẽ kiến
nghị, quyết định những biện pháp phù hợp với các điều 41 và 42 để duy trì hoặc
khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Việc áp dụng các biện pháp tại điều 41 và
42 là nhằm chống lại hành vi đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế chứ không phải
hành vi giải quyết tranh chấp. Các bên tranh chấp vẫn có toàn quyền giải quyết
các tranh chấp theo đúng quy định của Luật quốc tế.
Như vậy, thẩm quyền của HĐBA là độc lập, riêng biệt, không cần phải
đợi đơn đệ trình của các thành viên. Tuy nhiên theo quy định của Hiến chương,
các quốc gia có thể lưu ý HĐBA về những tranh chấp mà mình là đương sự.
Theo quy định tại điều 34 của Hiến chương, một quốc gia không phải là thành
viên Liên Hợp Quốc cũng có quyền này miễn là quốc gia đó đã thừa nhận trước
đó những nghĩa vụ giải quyết hoà bình các tranh chấp như Hiến chương quy
định. Tuy nhiên điều khoản này không nhằm mục đích gây ra sự chậm chễ và sự
phụ thuộc của HĐBA vào các kiến nghị hay lưu ý của các quốc gia có liên quan.

Đại hội đồng bổ nhiệm theo kiến nghị của Hội đồng Bảo an. Tổng thư kí đứng đầu
và điều hành hoạt động của Ban Thư kí Liên hợp quốc, hoạt động trong tất cả các
cuộc họp của Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Hội đồng Thác quản và
thực hiện mọi chức năng khác do các cơ quan này giao cho.
Theo điều 99 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tổng thư kí có thể đề xuất
với Hội đồng bảo an bất kì vấn đề nào mà theo ý kiến của ông có thể đe dọa đến
hòa bình và an ninh quốc tế. Như vậy, nếu một tranh chấp quốc tế mà theo ông có
thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế thì Tổng thư kí có thể lưu ý Hội đồng
bảo an.
The Secretary-General may bring to the attention of the Security Council
any matter which in his opinion may threaten the maintenance of international
peace and security.
Art. 99 – UN Charter
ICJ + UN Page 9

Trên thực tế, Tổng thư kí Liên hợp quốc có vai trò như một nhà hòa giải
các tranh chấp quốc tế. Tổng thư kí sử dụng “good offices” (được hiểu là uy tín
của mình và sức ảnh hưởng của cộng đồng quốc tế mà ông đại diện) để gặp gỡ
công khai hoặc riêng các nhà lãnh đạo trên thế giới nhằm ngăn chặn các tranh
chấp quốc tế leo thang và lan rộng. Ví dụ, năm 1998, Tổng thư kí Kofi Anan đã
dàn xếp tranh chấp giữa Iraq và Mỹ về vấn đề thanh sát vũ khí tại Iraq. Tổng thư
kí cũng có thể cử các đại diện đặc biệt thực hiện sứ mệnh hòa giải tranh chấp
quốc tế của mình. Việc lựa chọn các đại diện này rất hạn chế và có rất ít các sự
hỗ trợ giúp họ trong việc thi hành sứ mệnh của mệnh. Họ chủ yếu phải dựa vào
uy tín cá nhân và sức ép của công luận để hoàn thành sứ mệnh của mình. Tuy
nhiên, các nhà lãnh đạo trên thế giới rất tôn trọng và tin tưởng Tổng thư kí. Do
đó, những nỗ lực nhằm hòa giải hoặc ngăn chặn tranh chấp quốc tế của Tổng thư
kí rất được các nhà lãnh đạo trên thế giới coi trọng. Nhờ có “good offices” mà rất
nhiều Tổng thư kí đã thành công trong vai trò là một “nhà hòa giải thế giới”.
Câu 2: Những biện pháp nào được sử dụng trong cơ chế giải quyết

Art. 1(1) – UN Charter

Khoản 3 và khoản 4 Điều 2 của Hiến chương đã đề cập đến những nghĩa
vụ mà các thành viên của Liên Hiệp Quốc cần tuân thủ khi giải quyết các tranh
chấp quốc tế, theo đó, các thành viên LHQ cần giải quyết tranh chấp bằng các
biện pháp hòa bình và từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực.
3. All Members shall settle their international disputes by peaceful means
in such a manner that international peace and security, and justice, are not
endangered.
4. All Members shall refrain in their international relations from the
threat or use of force aĐHĐinst the territorial integrity or political independence
of any state, or in any other manner inconsistent with the Purposes of the United
Nations.
Art. 2(3-4) – UN Charter

Chương VI của Hiến chương đưa ra những quy định cụ thể nhằm giải
quyết hòa bình các tranh chấp. Khoản 1 Điều 33 quy định về các biện pháp hoàn
bình mà các bên tranh chấp có thể sử dụng, bao gồm: đàm phán, điều tra, trung
ICJ + UN Page 11

gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu
vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tuỳ theo sự lựa chọn của các bên.
“The parties to any dispute, the continuance of which is likely to endanger
the maintenance of international peace and security, shall, first of all, seek a
solution by negotiation, enquiry, mediation, conciliation, arbitration, judicial
settlement, resort to regional agencies or arrangements, or other peaceful means
of their own choice”
Art. 33(1) – UN Charter

Các điều khoản còn lại quy định vai trò của UNHĐBA đối với việc giải

(nhưng không có tính ràng buộc) nhằm hòa giải các mâu thuẫn đó hoặc đưa ra
những trợ giúp khác nếu các bên yêu cầu. Hoạt động hòa giải thường mang tính
chính thức hơn là trung gian.

 Nhóm biện pháp tư pháp
o Trọng tài (abitration): thủ tục trọng tài thường được các bên lựa
chọn hơn là thủ tục tòa án vì các bên có thể hạn chế được phạm vi các vấn đề cần
giải quyết, trong khi nếu đưa một tranh chấp lên tòa thì tòa sẽ xem xét toàn bộ vụ
việc và đưa ra các phán quyết của mình mà không phụ thuộc vào ý định giới hạn
vụ việc của các bên. Ngoài ra, thủ tục trọng tài cũng có một ưu điểm so với tòa
án là tính linh hoạt trong việc thành lập và lựa chọn trọng tài viên, đồng thời thủ
tục trọng tài cũng nhanh gọn và kín đáo hơn.
o Tòa án (judicial settlement): Thủ tục tòa án có ưu điểm so với trọng
tài ở chỗ trong các trường hợp các bên không thòa thuận được phương thức xét
xử trọng tài thì thủ tục tòa án có thể được áp dụng một cách bắt buộc do đã được
thỏa thuận trong các Điều ước quốc tế. Hơn nữa, phán quyết của tòa có tính ràng
buộc các bên và có cơ chế để đảm bảo thực hiện.
Ngoài ra, các quốc gia thành viên của LHQ có thể lựa chọn giải quyết
tranh chấp tại các tổ chức khu vực theo như quy định tại điều 52 của Hiến
chương LHQ, miễn là các thỏa thuận và hoạt động của các tổ chức đó phù hợp
với mục đích và nguyên tắc của LHQ, và các nước phải cố gắng hết sức để giải
quyết hòa bình các tranh chấp
ICJ + UN Page 13

1. Nothing in the present Charter precludes the existence of regional
arrangements or agencies for dealing with such matters relating to the
maintenance of international peace and security as are appropriate for regional
action provided that such arrangements or agencies and their activities are
consistent with the Purposes and Principles of the United Nations.
2. The Members of the United Nations entering into such arrangements or

provisional measures as it deems necessary or desirable. Such provisional
measures shall be without prejudice to the rights, claims, or position of the
parties concerned. The Security Council shall duly take account of failure to
comply with such rovisional measures.
Art. 40 – UN Charter

Điều 41 quy định các biện pháp phi vũ lực được áp dụng trong trường hợp
có những sự đe dọa đến hòa bình như quy định tại điều 39. Các biện pháp này
bao gồm cắt đứt toàn bộ hoặc từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường hàng
không, đường biển, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện thông
tin khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao.
“…complete or partial interruption of economic relations and of rail,
sea, air, postal, telegraphic, radio, and other means of communication, and the
severance of diplomatic relations”
Art. 41 – UN Charter

Điều 42 quy định khi HĐBA thấy rằng các biện pháp được nêu ra ở Điều
41 là không thích hợp hoặc đã mất hiệu lực, thì HĐBA có thẩm quyền áp dụng
mọi hành động của hải, lục, không quân mà HĐBA xét thấy cần thiết cho việc
duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế. Những hành động này có thể
là những cuộc biểu dương lực lượng, phong toả và những cuộc hành quân khác,
do các lực lượng hải, lục, không quân của các nước thành viên Liên Hợp Quốc
thực hiện.
Should the Security Council consider that measures provided for in
Article 41 would be inadequate or have proved to be inadequate, it may take
such action by air, sea, or land forces as may be necessary to maintain or restore
international peace and security. Such action may include demonstrations,
ICJ + UN Page 15

blockade, and other operations by air, sea, or land forces of Members of the

ICJ + UN Page 16

đối với các quốc gia, mà chỉ có vai trò làm vùng đệm ngăn chặn xô xát giữa các
bên tham chiến với sự chấp thuận của các bên đó. Trong trường hợp đó,
LLGGHB không thể xem là được áp dụng theo các quy định tại chương VII. Và
lực lượng này cũng lại không nằm trong phạm vi điều chỉnh của chương VI vì
đây rõ ràng là một hình thức “hành động” của HĐBA. Hay nói cách khác, hoạt
động của LLGGHB nằm giữa chương VI và cương VII; do đó nhiều người cho
rằng hoạt động của LLGGHB được dựa trên “chương VI rưỡi” của HCLHQ. Cơ
sở pháp lý của từng LLGGHB trong từng sứ mệnh đều được đề cập rất rõ và cụ
thể trong các Nghị quyết của HĐBA; trong đó nêu những nguyên tắc về tổ chức,
hoạt động, chức năng, vấn đề chi phí tài chính của LLGGHB.
Hiện nay, hoạt động của LLGGHB có sự trải rộng: từ hoạt động quân sự ở
mức thấp để bảo vệ việc cứư trợ nhân đạo, tháo gỡ mìn, cho đến đảm bảo thực
hiện ngừng bắn, giải giáp các bên tham chiến, và khi cần thiết có thể hỗ trợ quản
lý hành chính, giúp tái thiết các quốc gia được coi là yếu kém.
Câu 3: Trong số các biện pháp được UN sử dụng, biện pháp nào được
quy định ngoài điều 33?
Đó là các biện pháp theo chương VII và chương VI (rưỡi). (Về cụ
thể đã được trình bày ở câu 2). Ví dụ như trong vụ Lockerbie, thông qua các nghị
quyết 748 và 883, UN đã sử dụng các biện pháp theo Điều 41 Hiến chương UN.
- Nghị quyết 748 áp đặt một lệnh cấm máy bay vào và ra
Libya, một lệnh cấm vận vũ khí, một sự cắt giảm số lượng trong các phái
đoàn ngoại giao và đóng cửa các tất cả các cơ quan hàng không Libya ở
nước ngoài.
- Nghị quyết 883 mở rộng những biện pháp trừng phạt đến
mức làm tê liệt một phần những tài sản công cộng của Libya, cấm vận đối
với thiết bị công nghiệp dầu nhất định và thắt chặt những biện pháp đang
tồn tại.
Câu 4: Phân tích mối quan hệ giữa UN và các cơ chế giải quyết tranh

2. Other orĐHĐns of the United Nations and specialized agencies,
which may at any time be so authorized by the General Assembly, may also
request advisory opinions of the Court on leĐHĐl questions arising within the
HĐBAope of their activities.
Art. 96 – UN Charter

ICJ + UN Page 18

* Như vậy, mối liên hệ của ICJ với HĐBA và ĐHĐ thể hiện tập trung ở
các điểm sau:
- Các thẩm phán của ICJ đều do HĐBA và ĐHĐ bầu ra.
- Với HĐBA: Cả HĐBA và ICJ đều giải quyết tranh chấp quốc tế, trong
đó HĐBA hoạt động có tính chất chính trị cao, ICJ là cơ quan tư pháp của LHQ
giải quyết theo luật quốc tế. Theo đó, về bản chất 2 cơ quan này hoàn toàn tách
biệt nhau. Trong vụ Nicaragua, Toà ICJ đã khẳng định quyền xét xử của mình
tồn tại song song với HĐBA đối với cùng một vụ việc khi HĐBA chưa đưa ra
được cách giải quyết hay từ chối xem xét. Trong trường hợp, vụ việc đã được
HĐBA đưa ra cách giải quyết thì ICJ không có thẩm quyền để xem xét vụ việc
hay bản thân tính hợp pháp của quyết định ấy. Ngoài ra, HĐBA còn có thể được
sử dụng như một cơ quan cưỡng chế thi hành phán quyết của Tòa ICJ bởi các bên
trong tranh chấp.
- Mối quan hệ giữa ĐHĐ và ICJ chủ yếu thông qua việc sử dụng thẩm
quyền tư vấn của ICJ. Trong những vấn đề pháp lý mà ĐHĐ thấy cần thiết có ý
kiến chuyên môn thì có thể yêu cầu ICJ đưa ra ý kiến tư vấn, như một ý kiến hỗ
trợ cho việc giải quyết tranh chấp.
2. Mối liên hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp của UN và PCA
PCA được thành lập dựa trên Công ước La Hay 1899 và 1907, do đó, cơ
chế này không hề có mối liên hiện nào với LHQ cho đến khi có UNCITRAL. Từ
năm 1945 cho đến trước 1976, do có sự xuất hiện của ICJ và ICSID cùng các cơ
chế giải quyết tranh chấp mới, vai trò của PCA rất mờ nhạt. Năm 1976

(theo chương VII).

 Về các bên tranh chấp
- PCA giải quyết mọi tranh chấp được đưa lên bởi quốc gia, tổ chức quốc
tế với quốc gia, tổ chức quốc tế khác hay cá nhân.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ chỉ giải quyết các tranh chấp giữa
các quốc gia với nhau.

 Về thẩm quyền
- PCA là cơ quan xét xử và không có thẩm quyền tư vấn.
- Cơ chế của LHQ lại chiếm ưu thế bởi các khuyến nghị, tức thẩm quyền
tư vấn. Cả ba cơ quan giải quyết tranh chấp của LHQ đều có thẩm quyền tư vấn.
ICJ + UN Page 20  Luật áp dụng
- Tại PCA, luật áp dụng ưu tiên do các bên lựa chọn.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ dựa trên hệ thống luật quốc tế mà
ICJ thấy là có thể áp dụng. Cơ quan ĐHĐ và HĐBA của LHQ giải quyết trnah
chấp bằng con đường chính trị.

 Về thi hành phán quyết
- Phán quyết của PCA yêu cầu các bên tự nguyện thực hiện.
- Các quyết định có tính ràng buộc được đưa ra bởi HĐBA và ICJ được
hỗ trợ thi hành bằng quyền lực tập thể của HĐBA và cả LHQ.

3. Mối liên hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp của UN và ICSID
ICSID và LHQ không có quan hệ nào trong lĩnh vực giải quyết tranh
chấp. ICSID có mục đích giải quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư giữa nhà
đầu tư và nước nhận đầu tư, theo đó, có tính chất chuyên môn hóa vào lĩnh vực

hình sự quốc tế
a. Mối liên hệ với Tòa ICC
Không giống như tòa ICJ, tòa ICC có vị trí độc lập về mặt pháp lí cũng
như chức năng với LHQ. Tuy nhiên, quy chế Rome đã trao cho HĐBA một số
những quyền hạn. Theo như điều 13 quy chế Rome: HĐBA sẽ đệ trình lên tòa vụ
tranh chấp (situation), mà theo đó nếu không có sự đệ trình này tòa sẽ không có
quyền xem xét vụ việc.
Article 13
Exercise of jurisdiction:
The Court may exercise its jurisdiction with respect to a crime referred to
in article 5 in accordance with the provisions of this Statute if:
(a) A situation in which one or more of such crimes appears to have been
committed is referred to the Prosecutor by a State Party in accordance with
article 14;
(b) A situation in which one or more of such crimes appears to have been
committed is referred to the Prosecutor by the Security Council acting under
Chapter VII of the Charter of the United Nations; or
(c) The Prosecutor has initiated an investigation in respect of such a
crime in accordance with article 15.
ICJ + UN Page 22

Điều 16 cho phép HĐBA được quyền yêu cầu tòa hoãn điều tra vụ việc
trong thời gian là 12 tháng. Bên cạnh đó, sự trì hoãn này cũng có thể khôi phục
lại bởi HĐBA. Tòa án hợp tác với HĐBA trong rất nhiều lĩnh vực, bao gồm cả
việc chia sẻ thông tin và những hỗ trợ hậu cần. Tòa án phải báo cáo những hoạt
động của mình cho UN hàng năm. Mối liên hệ giữa ICC và UN được kiểm soát
bởi Hiệp định “Relationship Agreement between the International Criminal
Court and the United Nations”

b. Mối liên hệ với Tòa ICTY và ICTR

 Cơ cấu tổ chức
- Phòng xét xử: Ba phòng xét xử và phòng phúc thẩm được thành lập với
những thẩm phán thông qua bầu cử bởi ĐHĐ từ một danh sách được HĐBA đệ
trình lên.
- Cơ quan Công tố (OTP): HĐBA chỉ định trưởng ban công tố của Toà
hình sự Rwanda - ông Hassan Bubacar Jallow người Gambia. Phó ban công tố là
ông Bongani Majola (South Africa).
- Ban Thư ký: Trưởng ban Thư ký đứng đầu ban này và là đại diện của
Tổng thư ký LHQ.

5. Mối liên hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp của UN và các tổ
chức khu vực
Mối liên hệ giữa cơ chế giải quyết tranh chấp của LHQ và các tổ chức khu
vực được quy định tại điều 33, điều 52, 53, 54 của HCLHQ. Đặc biệt, Điều 52
ghi nhận một vai trò tương đối rõ nét của các tổ chức cũng như các hiệp định khu
vực trong việc hòa giải các mâu thuẫn giữa các quốc gia thành viên. Ngoài ra nó
cũng thừa nhận vai trò của các tổ chức khu vực trong việc duy trì hòa bình và an
ninh quốc tế. Tuy nhiên vai trò này bị hạn chế trong phạm vi các vụ việc xảy ra
tại khu vực đó cũng như các hoạt động của họ phải phù hợp với các mục đích và
nguyên tắc của LHQ.

Art. 33 – UN Charter
1. The parties to any dispute, the continuance of which is likely to
endanger the maintenance of international peace and security, shall, first of all,
seek a solution by negotiation, enquiry, mediation, conciliation, arbitration,
ICJ + UN Page 24

judicial settlement, resort to regional agencies or arrangements, or other
peaceful means of their own choice.
2. The Security Council shall, when it deems necessary, call upon the

2. The term enemy state as used in paragraph 1 of this Article applies to
any state which during the Second World War has been an enemy of any
signatory of the present Charter.

Art. 54 – UN Charter
The Security Council shall at all times be kept fully informed of activities
undertaken or in contemplation under regional arrangements or by regional
agencies for the maintenance of international peace and security.

Nhiều cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa tổ chức khu vực và LHQ đã nổ
ra trong thời gian chiến tranh lạnh, tập trung chủ yếu vào 2 vấn đề: (i) Thẩm
quyền hạn chế của các tổ chức khu vực trong việc giải quyết các vụ liên quan tới
gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, (ii) Căn cứ để xác định những biện pháp giải
quyết của các tổ chức khu vực là không hữu hiệu và cần tới sự can thiệp của
HĐBA. Tuy nhiên, sau chiến tranh lạnh, những cuộc tranh luận về chuơng VII
của HCLHQ đã chuyển sang một huớng mới, chủ yếu đi vào giải quyết xem các
tổ chức khu vực và LHQ sẽ cùng hợp tác giải quyết những tranh chấp này như
thế nào.
Điều 53(1) của HCLHQ làm hạn chế thẩm quyền giải quyết tranh chấp
của các tổ chức khu vực. Điều khoản này quy định HĐBA có thẩm quyền sử
dụng các hiệp định và các tổ chức khu vực để tiến hành những sự cưỡng chế cần
thiết của mình, nghiêm cấm bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào được tiến hành
bởi các tổ chức khu vực nếu không có sự cho phép của HĐBA.
Điều 52(2) quy định các thành viên kí kết hay thành lập ra những tổ chức
khu vực phải cố gắng giải quyết tranh chấp hòa bình bằng những biện pháp quy
định trong hiệp định của tổ chức đó, trước khi đưa những tranh chấp đó ra
HĐBA xem xét. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số quốc gia lại cố tìm
cách đưa vụ tranh chấp lên HĐBA trước khi tổ chức khu vực mà nước đó là
thành viên có cơ hội xem xét giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, trong vụ tranh chấp
biên giới lãnh thổ giữa Morocco và Algieri, Morocco ngay lúc đầu đã có khuynh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status