Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các
bài học kinh nghiệm của một số nƣớc và
khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian
tới
Nguyễn Thị Hồng Anh
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Hoàng Phƣớc Hiệp
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Giới thiệu các đặc trƣng về cơ cấu, tổ chức, thủ tục giải quyết tranh chấp;
cách thức thực hiện, ƣu điểm, nhƣợc điểm giải quyết theo thỏa thuận về các quy tắc và
thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU). Nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết tranh chấp
trong WTO của các nƣớc đang phát triển. Phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp
theo DSU đối với các nƣớc đang phát triển trong thời gian qua. Đánh giá về cơ chế
giải quyết tranh chấp của tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), góc độ các nƣớc đang
phát triển. Đƣa ra những giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới thông qua việc rút ra
những vấn đề pháp lí mà Việt Nam gặp phải trong các tranh chấp quốc tế, chỉ ra
những điểm tồn tại và xu hƣớng bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trong quan
hệ thƣơng mại quốc tế. Tác giả tin tƣởng rằng với các kiến nghị này sẽ có hiệu quả khi
vận dụng cho quá trình giải quyết các vụ kiện theo DSU.
Keywords: Luật Quốc tế; WTO; Tranh chấp thƣơng mại; Thƣơng mại quốc tế
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của nghiên cứu
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO)
sau những nỗ lực vƣợt bậc vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, chính thức bƣớc vào một thời kỳ
cơ chế giải quyết tranh chấp WTO.
Có thể thấy rằng đây là nội dung có rất nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập
đến, từ những năm mà Việt Nam chúng ta chƣa trở thành thành viên WTO tuy nhiên trong các
nghiên cứu chƣa rõ mối liên hệ sâu sắc giữa nội dung của lí luận và thực tế giải quyết tranh
chấp tại các Vụ kiện trong WTO với thất bại của Việt Nam trong các vụ kiện tƣơng tự.
* Nƣớc ngoài: Thông qua các công trình nghiên cứu, tài liệu của các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ,
Trung Quốc, Canada, Nhật Bản…
Song song với quá trình xin gia nhập và hội nhập các nƣớc đều ƣu tiên hàng đầu tìm
hiểu về những rào cản thƣơng mại cũng nhƣ các biện pháp để tối đa hóa việc giảm thiểu các
tổn thất cho nền kinh tế. Đây là những tài liệu rất thiết thực để Việt Nam có 1 cái nhìn tổng
quan về định hƣớng nghiên cứu và ứng dụng trƣớc những xu hƣớng mà các thành viên đối tác
có thể đƣa ra khởi kiện.
3. Mục đích nghiên cứu
3
Trên cơ sở tổng quan thiết chế giải quyết tranh chấp trong WTO và phân tích thực tiễn
giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO của một số nƣớc, đặc biệt
là chú trọng đến các nƣớc đang phát triển, để tìm ra cho Việt Nam hƣớng giải quyết các tranh
chấp thích hợp trong một số hoàn cảnh tƣơng tự vào thời điểm hiện tại cũng nhƣ thời gian sắp
tới, khi ngày càng đối mặt với nhiều vụ kiện thƣơng mại. Từ đó có khuyến nghị hoàn thiện
chính sách thƣơng mại trong thời gian tới, chủ động giải quyết tranh chấp thƣơng mại trong
WTO.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là Phụ lục II của Hiệp định thành lập tổ chức thƣơng mại thế
giới WTO (DSU) cũng nhƣ kinh nghiệm vận dụng các giải pháp của một số nƣớc đã thành
công qua một số vụ kiện giải quyết theo DSU mà Việt Nam có nhiều điểm tƣơng đồng bị khởi
kiện do vi phạm các quy định của WTO với các nƣớc; xem đó là những kinh nghiệm quý báu
để Việt Nam học tập, vận dụng trong bối cảnh vừa mới gia nhập WTO.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, luận văn đã kết hợp sử dụng nhiều phƣơng pháp
tranh chấp tƣơng tự mà các nƣớc đã trải qua và thành công.
7. Bố cục Luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc bố cục ba
chƣơng chính nhƣ sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO.
Chƣơng I nhằm giới thiệu các đặc trƣng về cơ cấu, tổ chức, thủ tục giải quyết tranh chấp; cách
thức thực hiện, ƣu điểm, nhƣợc điểm giải quyết tại thiết chế này.
Chƣơng 2: Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp trong WTO của một số nƣớc. Chƣơng
2 thông qua việc đƣa ra các vụ kiện tiêu biểu của một số nƣớc, mang tính lặp đi lặp lại thƣờng
bắt gặp, mang tính đặc trƣng tại các vụ kiện mà các nƣớc đag phát triển nhƣ Việt Nam thƣờng
vi phạm. Đây cũng là một nội dung thể hiện tính mới cho Luận văn của của tác giả.
Chƣơng 3: Việt Nam và cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại của WTO. Chƣơng
III luận văn xin đóng góp một số giải pháp, kiến nghị trong thời gian tới thông qua việc rút ra
những vấn đề pháp lí mà Việt Nam gặp phải trong các tranh chấp quốc tế, chỉ ra những điểm
tồn tại và xu hƣớng bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trong quan hệ thƣơng mại quốc
tế. Tác giả tin tƣởng rằng với các kiến nghị này sẽ áp dụng có hiệu quả đối với các vụ kiện
cho Việt Nam.
5
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO đƣợc hình thành trên nền tảng pháp lý là thỏa
thuận về quy tắc và thủ tục điều chỉnh về giải quyết tranh chấp, là sự kế thừa các quy định về
giải quyết tranh chấp từng phát huy tác dụng tích cực gần hơn 50 năm qua trong lịch sử
GATT 1947, đƣợc gọi là Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (DSU-Dispute Settlement
Understanding), một trong những kết quả quan trọng nhất tại Vòng đàm phán Urugoay. Hệ
thống giải quyết tranh chấp của WTO có khả năng là một hệ thống mạnh nhất trong các hiệp
định quốc tế.
1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong cơ chế giải quyết tranh chấp của của
WTO
dụng hệ thống này. Mục tiêu trọng tâm của hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là bảo đảm
sự an toàn và tính dự báo của hệ thống thƣơng mại đa phƣơng (Điều 3.2 của DSU). Do đó,
muc tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin
cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các
điều khoản của Hiệp định WTO.
1.4. Cơ quan giải quyết tranh chấp DSB
Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của WTO có 2 cấp trong đó gồm Ban Hội thẩm
(Panel) và Cơ quan Phúc thẩm (Apepellate Body). DSB không trực tiếp tham gia vào quá
trình xét xử tranh chấp mà chỉ là nơi đƣa ra quyết định chính trị trong giải quyết tranh chấp tại
WTO. Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm giữ vai trò là các thiết chế pháp lý để đánh giá
các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp.
DSB chính là Đại hội đồng của WTO, cơ quan có quyền quyết định cao nhất của tổ chức
này trong thời gian giữa các hội nghị bộ truởng. Tất cả các thành viên của WTO đƣơng nhiên
cũng là thành viên của DSB và có quyền tham dự vào tát cả các hoạt động của DSB. Trong cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO thì các chức năng chính thức quan trọng nhất thuộc về
DSB (điều 2 DSU).
1.4.1. Ban Hội thẩm
Ban hội thẩm là một cơ chế ad hoc, đƣợc DSB quyết định thành lập đối với từng
nhiệm vụ tranh chấp cụ thể và chấm dứt tồn tại sau khi đã thực hiện xong nhiệm vụ.
1.4.2. Cơ quan Phúc thẩm
7
Cơ quan phúc thẩm cũng do DSB thành lập, nhƣng khác với Ban hội thẩm, Cơ quan
phúc thẩm là một cơ quan thƣờng trực. Cơ quan phúc thẩm gồm 7 thành viên là những ngƣời
có kinh nghiệm, uy tín về pháp luật, thuơng mại quốc tế và không đại diện cho bất kỳ chính
phủ nào. Các thành viên của cơ quan phúc thẩm do DSB chỉ định với nhiệm kỳ 04 năm và có
thể đƣợc gia hạn thêm 1 lần. Thành viên của cơ quan phúc thẩm do DSB làm việc theo chế
độ luân phiên, mỗi vụ việc sẽ do 3 thành viên tham gia xem xét (điều 17 DSU).
1.5. Quy trình giải quyết tranh chấp tại WTO theo cơ chế DSB
1.5.1. Các loại khiếu kiện
phúc thẩm sẽ đƣợc bắt đầu khi một bên tranh chấp thông qua DSB về quyết định kháng cáo
của mình.
1.5.2.4 Giai đoạn thực thi các khuyến nghị hoặc quyết định của DSB
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm hoặc cơ
quan phúc thẩm, tại cuộc họp của DSB, thành viên liên quan phải thông báo cho DSB các dự
định của mình đối với việc thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của DSB.
1.6. Các quy định đặc biệt về thủ tục giải quyết tranh chấp áp dụng cho các nƣớc
đang phát triển
DSU cũng nhƣ các quy định về giải quyết tranh chấp trong các hiệp định riêng lẻ dành
cho một số ƣu tiên về thủ tục dành cho các quốc gia đang phát triển. Đây có thể coi là một
điểm nhấn quan trọng của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO nhằm khuyến khích các
nƣớc đang phát triển.
1.7. Pháp luật điều chỉnh cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO
Trên cơ sở các quy định rời rạc về giải quyết tranh chấp trong GATT (bao gồm các
điều XXII, XXIII GATT 1947; Quyết định năm 1982 về giải quyết tranh chấp; Quyết định
1989 về hoàn thiện quy tắc và các thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT), Quyết định ngày
5/4/1996 về thủ tục áp dụng Điều XXIII đối với tranh chấp giữa một nƣớc đang phát triển với
một nƣớc phát triển WTO đã thành công trong việc thiết lập một cơ chế pháp lý đầy đủ, chi
tiết trong một văn bản thống nhất để giải quyết tranh chấp thƣơng mại giữa các thành viên
WTO Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp - Phụ lục 2
Hiệp định Marrakesh thành lập WTO.
Ngoài ra còn có một số quy định riêng biệt trong các văn bản khác (đƣợc DSU viện dẫn).
9
1.8. Đánh giá về cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO
DSU có một số ƣu điểm lớn so với các phƣơng thức giải quyết tranh chấp trong Luật
quốc tế và có nhiều điểm tiến bộ hơn trong GATT, tiền thân của WTO.
Thứ nhất, việc giải quyết đƣợc tiến hành thận trọng, qua hai bƣớc bởi các cơ quan
trung lập, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia tranh chấp.
Thứ hai, cơ chế này đƣợc tiến hành theo một quy trình chặt chẽ với các thời hạn ngắn,
Hệ thống giải quyết tranh chấp là nền tảng đối với việc áp dụng chính xác và có hiệu
quả các Hiệp định quốc tế.
2.1.1.1. Các nƣớc đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp - lý thuyết và
thực tiễn
Sự tồn tại của một hệ thống giải quyết tranh chấp đa phƣơng mang tính bắt buộc là một lợi
ích đặc biệt dành cho các nƣớc đang phát triển và các thành viên nhỏ. Một hệ thống mà tất
cả các thành viên đều có khả năng tiếp cận bình đẳng và trong đó các quyết định đƣợc đƣa
ra trên cơ sở luật pháp thay vì dựa vào thế lực kinh tế đã tăng sức mạnh của các nƣớc đang
phát triển và các nền kinh tế nhỏ bằng cách dành cho “các nƣớc yếu” một vị thế bình đẳng
hơn so với “các nƣớc mạnh”.
Các nƣớc đang phát triển muốn đƣợc hƣởng lợi ích của hệ thống giải quyết tranh chấp
đang phải đối mặt với gánh nặng đáng kể. Một nƣớc thành viên đang phát triển cũng khó có
thể chịu đựng tác hại về mặt kinh tế gây ra bởi hàng rào thƣơng mại của một nƣớc thành viên
khác trong toàn bộ quá trình tố tụng. Nếu một hàng rào thƣơng mại nhƣ vậy làm phƣơng hại
tới khả năng xuất khẩu của nƣớc đang phát triển đó và đƣợc kết luận trái với WTO, thì việc
rút bỏ biện pháp này cũng không đƣợc thực hiện cho tới tận hai hay ba năm sau khi khởi kiện
trong WTO.
Mặc dù có những khó khăn này, các nƣớc thành viên đang phát triển đã tham gia tích
cực vào hệ thống giải quyết tranh chấp trong vòng mƣời sáu năm qua. Thực tế thì đa số các
nƣớc thành viên WTO là nƣớc đang phát triển, nhƣng có thể kết luận rằng các nƣớc phát triển
đã tận dụng hệ thống giải quyết tranh chấp là chính, do vậy không tƣơng xứng nếu so về số
lƣợng nhóm thành viên phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, những thành viên phát triển
này, đồng thời là bên đi kiện và bị kiện trong đa số các tranh chấp của WTO, chiếm phần lớn
thƣơng mại thế giới. Với điều này, cho thấy có một thực tế khó giải quyết, từ quan điểm của
các nƣớc thành viên đang phát triển. Khối lƣợng thƣơng mại khiêm tốn có thể bị ảnh hƣởng
bởi một hàng rào thƣơng mại không hợp lệ của một nƣớc thành viên khác không phải lúc nào
cũng tƣơng xứng với lƣợng thời gian và tiền bạc cần đầu tƣ vào một tranh chấp của WTO. Do
11
vậy, rõ ràng các nƣớc thành viên đang phát triển ở trong một tình thế đặc biệt mà ở chừng
thể áp dụng những quy định ƣu đãi nhƣ đã trình bày trên đây trong tiến trình giải quyết tranh
chấp. các nƣớc đang phát triển trong việc theo đuổi các vụ kiện thƣờng là rất phức tạp và kéo
dài của WTO.
12
Phải kể đến là xét từ bản thân các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt của DSU
dành cho các nƣớc đang phát triển. Thực tế đã chứng minh rằng các quy định này mang tính
tuyên bố nhiều hơn là thực tiễnMột vấn đề khác xuất phát từ bản thân hệ thống gây khó khăn
cho các nƣớc thành viên đang phát triển đó là quy trình giải quyết tranh chấp, theo quy định,
là một quy trình phức tạp và kéo dài. Đây là một trong những nhƣợc điểm hay bị chỉ trích của
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO gây bất lợi cho tất cả các bên tham gia và càng bất lợi
hơn cho các nƣớc đang phát triển.
Giám sát thực hiện các khuyến nghị và quyết định của DSB theo DSU cũng quá yếu
không thể hiện đƣợc những điểm khác nhau giữa khả năng dành cho các nƣớc phát triển và
các nƣớc đang phát triển.
Quy định tại Điều 21.7 DSU về việc khi một vấn đề đƣợc một nƣớc đang phát triển
nêu ra, DSB sẽ xem xét hành động tiếp theo sao cho phù hợp với hoàn cảnh cũng chƣa từng
đƣợc áp dụng bởi lẽ điều kiện tiên quyết để áp dụng là nƣớc đó phải dùng các nguồn lực để
phân tích và theo đuổi vụ việc.
Liên quan đến thực thi các phán quyết, việc thực hiện cƣỡng chế thực thi các phán
quyết của cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích chính đáng của các nƣớc đang phát triển thực sự
gặp nhiều khó khăn trên thực tế. Theo quy định của DSU, chế tài duy nhất cho việc cƣỡng chế
thực thi mà quy trình giải quyết tranh chấp của WTO cho phép đó là trả đũa thƣơng mại. Tuy
nhiên, các biện pháp trả đũa dƣới hình thức trừng phạt thƣơng mại không có tính hệ thống đối
với các nƣớc đang phát triển vì hai lý do. Thứ nhất, hầu hết các nƣớc đang phát triển không
đủ sức mạnh kinh tế để đe doạ bằng các trừng phạt thƣơng mại với tƣ cách là một công cụ
quan trọng để ép buộc tuân thủ các Hiệp định WTO. Thứ hai, nếu một nƣớc đang phát triển áp
dụng trừng phạt đối với một nƣớc phát triển, điều này có thể cuối cùng làm thiệt hại hơn cho
nƣớc đang phát triển. Việc sử dụng trừng phạt thƣơng mại nhƣ một công cụ hữu hiệu đối với
việc tuân thủ Hiệp định WTO là dựa vào quan niệm của chủ nghĩa trọng thƣơng rằng xuất
(DS 339 )
.
- Nguyên đơn: , Canada
-
- .
-
93
-
- , Canada
- : Australia, Ache .
14
-
(1.1). Báo cáo của Ban Hội thẩm
(tƣơng ứng với nội dung kết luận tại mục (2) sau đây) 1994:
i)
ii)
iii)
1994
1994:
i)
2.2.2. Vụ kiện của Mỹ đối với Mexico về các biện pháp chống bán phá giá về gạo
và thịt bò
(DS 295)
(*) Các bên trong yêu cầu tại Ban Hội thẩm
- Bên khởi kiện: Hoa Kỳ
- Bên bị kiện: Mexico
- Bên thứ ba: Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ
- Nội dung: Ngày 16 tháng 6 năm 2003, Mỹ đệ đơn ra DSB kiện Mehico đã vi phạm các điều
khoản của các hiệp định: Trợ cấp và biện pháp đối kháng; Chống bán phá giá; Điều VI của
GATT 1994 đối với mặt hàng gạo và thịt bò.
(1) Yêu cầu tham vấn
Ngày 16 tháng 6 năm 2003, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn với Mexico liên quan đến các
biện pháp chấm dứt chống bán phá giá thịt bò và gạo trắng hạt dài và các quy định liên quan
của Mehico theo Luật thƣơng mại quốc tế và Bộ luật Tố tụng dân sự liên bang. Hoa Kỳ khẳng
định rằng các biện pháp này không phù hợp với nghĩa vụ của Mexico theo quy định của
GATT 1994, Hiệp định Chống bán phá giá và Hiệp định SCM.
(2) Thông báo của ban Hội thẩm
Ngày 11 tháng 8 năm 2004, Chủ tịch Hội đồng thông báo với DSB rằng họ sẽ không
thể hoàn tất công việc trong sáu tháng do sự phức tạp của vấn đề. Ngày 06 tháng 6 năm 2005,
Báo cáo của Hội đồng đã đƣợc phát cho các thành viên.
Trong Báo cáo phân tích rõ: Hội đồng tán thành tất cả các yêu cầu của Hoa Kỳ liên quan đến
cả các tổn thƣơng và biên độ bán phá giá xác định của cơ quan điều tra Mehico trong việc
điều tra lúa. Áp dụng kinh tế tƣ pháp đối với một số yêu cầu liên quan khác đối với các khiếu
nại liên quan đến Mehico của Luật Thƣơng mại quốc tế.
Hội đồng bác bỏ tuyên bố của Hoa Kỳ đối với Thủ tục tố tụng dân sự trong Luật Dân
sự liên bang Mehico (Mặc dù Hoa Kỳ đã đề cập trong trong yêu cầu tham vấn chống bán phá
giá áp đặt các biện pháp chấm dứt của Mexico vào việc nhập khẩu thịt bò từ Hoa Kỳ.
(*) Vụ việc chuyển lên Cơ quan phúc thẩm
- Bên khiếu kiện: Mexico.
Ngày 20 tháng Bảy 2005, các thông báo về khiếu nại đƣợc gửi bởi Mexico.
nhƣ trong các vụ kiện khác rất thƣờng xuyên và mang lại kinh nghiệm quý báu cho các thành
viên không tham gia thƣờng xuyên vào quá trình giải quyết tranh chấp nhƣ Việt Nam.
(4). Chuẩn bị các chứng cứ liên quan để theo đuổi vụ kiện đến cùng khi mà bên khiếu kiện có
tiềm lục kinh tế mạnh hơn nƣớc bị kiện. Cùng thế mạnh với Mehico là sản phẩm gạo, Việt
Nam cần để ý đến những tình tiết mà các nƣớc mạnh thƣờng áp dụng đối với sản phẩm để áp
thuế chống bán phá giá, những tình tiết này sẽ có thể sẽ giúp cho Việt Nam xem xét, nghiên
cứu để đƣa ra các giải pháp phù hợp với chiến lƣợc của nƣớc nhập khẩu.
18
CHƢƠNG 3. VIỆT NAM VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
CỦA WTO
3.1. Việt Nam trong các tranh chấp thương mại quốc tế trước khi gia nhập WTO
Trƣớc khi là thành viên của WTO, Việt Nam đã phải đƣơng đầu với khá nhiều vụ tranh chấp
thƣơng mại quốc tế. Tổng số vụ tranh chấp liên quan đến phòng vệ thƣơng mại (trade
remedies) quốc tế mà Việt Nam phải đối phó trong thời gian qua lên đến 34 vụ, còn tranh
chấp TMQT đến nay chƣa có tài liệu thống kê cụ thể, tuy nhiên theo các chuyên gia Ban Cạnh
tranh, Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thƣơng cho biết, chủ yếu là đa phần là các vụ kiện
chống bán phá giá và Việt Nam thƣờng là bên bị kiện (theo http://wto.nciec.gov.vn).
3.2. Việt Nam trong các tranh chấp sau khi gia nhập WTO
Việc bị coi là nền kinh tế phi thị trƣờng đồng nghĩa với việc bị đối xử một cách bất
bình đẳng. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của Việt Nam, ngay cả khi đã trở thành
thành viên của WTO vì thời hạn Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trƣờng kéo dài đến 12
năm sau khi gia nhập WTO. Việt Nam chỉ có thể sử dụng đƣợc một cách hiệu quả cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO khi không còn bị coi là có nền kinh tế phi thị trƣờng. Chỉ đến khi
đó, Việt Nam mới có thể đệ trình những bằng chứng chống lại các buộc tội Việt Nam phá giá
và cũng có thể tuyên bố các nƣớc khác bán phá giá tại thị trƣờng Việt Nam. Cho đến khi VN
chƣa đƣợc công nhận là “nền kinh tế thị trƣờng”, các đối tác thƣơng mại lớn nhƣ Mỹ và EU
sẽ không chấp nhận các dữ liệu từ Việt Nam để xem xét trong cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO. Đây là một trong những khía cạnh cần đƣợc xem xét cụ thể hơn vì có tác động
nghiêm trọng đến việc vận dụng có hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đối với
Việt Nam vẫn đang bị coi là có nền kinh tế phi thị trƣờng, nghĩa là nền kinh tế mà
Nhà nƣớc giữ độc quyền thƣơng mại hoặc giá cả do nhà nƣớc ấn định. Quyết định về nền
kinh tế phi thị trƣờng mang nhiều tính chính trị hơn là dựa trên những đánh giá kinh tế.
Một khó khăn khác phải kể đến đối với Việt Nam đó là tính minh bạch của hệ thống
pháp luật trong nƣớc và việc hoàn thiện hệ thống này cho phù hợp với WTO. Điều đó thể hiện
qua việc quy định các thủ tục hành chính áp dụng chung và điều hành hoạt động thƣơng mại ở
các cấp, đặc biệt là ở địa phƣơng vẫn chƣa đƣợc rõ ràng và thống nhất
3.2.2. Bài học kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp theo WTO
Một là cần xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật phù hợp với các quy định
của WTO cũng nhƣ các cam kết của Việt nam trong WTO. Điều này rất quan trọng vì mục
tiêu của cơ chế DSU là làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên WTO thông
qua việc giải thích các quy định trong các Hiệp định có liên quan.
Hai là, xây dựng kế hoạch cụ thể chuẩn bị và đối phó với các tranh chấp; cần phải thực
hiện chuẩn bị về kiến thức pháp lý, đội ngũ luật sƣ giỏi chuyên về giải quyết tranh chấp
thƣơng mại quốc tế, các thủ tục và luật pháp liên quan về các loại tranh chấp thƣơng mại
trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp của WTO.
Ba là, học tập kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế từ các vụ
tranh chấp đã đƣợc giải quyết liên quan đến các nƣớc thành viên đang phát triển hoặc thông
qua các hình thức tham gia với tƣ cách là bên thứ ba trong các vụ kiện.
Bốn là là sử dụng các bên tƣ vấn (hỗ trợ từ các điều kiện tiếp cận thị trƣờng, khuyến
khích bằng chứng bên ngoài từ các tổ chức phi chính phủ), ví dụ nhƣ ACWL là cơ quan hỗ trợ
thúc đẩy các nƣớc đang phát triển và các nƣớc kém phát triển nắm bắt đƣợc những quyền và
nghĩa vụ của mình theo luật WTO và có đƣợc cơ hội bình đẳng để bảo vệ lợi ích của mình
trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Thứ năm là tìm kiếm sự ủng hộ của các thành viên WTO, khởi xƣớng các vụ tranh
chấp cùng với các thành viên WTO giàu kinh nghiệm.
20
Thứ sáu, một kinh nghiệm đƣợc các nƣớc hay dùng đó là trì hoãn lại các vụ tranh chấp
càng lâu càng tốt khi vụ kiện chƣa bắt đầu, hoặc một khi vụ kiện đã bắt đầu thì phải cố gắng
các vụ kiện liên quan đến những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động.
Hơn nữa, hậu quả của các vụ kiện chống bán phá giá, tự vệ cũng tác động tiêu cực tới
hiệu quả cũng nhƣ nỗ lực của Chính phủ, doanh nghiệp trong công tác xúc tiến thƣơng mại,
đa dạng hoá và mở rộng thị trƣờng xuất khẩu.
21
3.4. Những bài học kinh nghiệm từ một số vụ kiện vừa qua
3.4.1. Chủ động kháng kiện
3.4.2. Phối hợp, đoàn kết các doanh nghiệp dƣới sự chỉ đạo, điều phối chung của Hiệp
hội ngành hàng.
3.4.3 Hoàn thiện hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, tài liệu chứng minh.
3.4.4. Đẩy mạnh công tác vận động hành lang và quan hệ công chúng.
3.4.5. Cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đáp ứng yêu cầu về nền kinh tế thị trƣờng
của nƣớc ngoài
3.5. Các giải pháp ứng phó và triển khai
Ngày 09/06/2005, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg về
việc chủ động phòng, chống các vụ kiện thƣơng mại với nƣớc ngoài. Trong chỉ thị này, Thủ
tƣớng đã quy định rõ các công việc, trách nhiệm của các Bộ, ngành có liên quan; quy định
một số nguyên tắc chủ yếu trong việc phòng, chống các vụ kiện thƣơng mại với nƣớc ngoài
và các biện pháp phòng tránh các vụ kiện thƣơng mại nƣớc ngoài, nhƣ:(i) Chủ động phòng
ngừa, (ii) Hạn chế tối đa hậu quả của vụ kiện; (iii) Năm vững và vận dụng các quy định về
AD của các nƣớc; (iv)Vận động hàng lang và liên kết với các nhà nhập khẩu; (v) Hiệp hội và
doanh nghiệp là những ngƣời đóng vai trò chủ đạo; (vi) Các doanh nghiệp cần hợp tác chặt
chẽ và đoàn kết với nhau …
3.5.1. Nâng cao nhận thức của công đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các cơ
quan hữu quan
3.5.2. Chiến lƣợc tăng trƣởng xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm xuất khẩu
3.5.3. Xây dựng cơ chế dự phòng và cảnh báo sớm.
3.5.4. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hƣớng hài hoà hoá với các Điều
nƣớc thành viên khác trong tổ chức thƣong mại tế giới WTO, tổng kết và nêu lên những thành
công và bất cập, hạn chế của cơ chế DSU, thực tiễn của Việt Nam trong thời gian vừa qua
cũng nhƣ duywj báo thời gian tới.
Trên cơ sở phân tích lí thuyết về cơ chế giải quyết DSU và thực tiễn Việt Nam trong
thời gian qua khi phải đối diện với các tranh chấp thƣong mại, Luận văn làm rõ những yêu
cầu mới đặt ra đối với chính sách thƣong mại của Việt Nam, đề xuất các quan điểm, mục tiêu
định hƣớng và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thƣơng mại nƣớc ta trong thời gian
tới, góp phần chủ động trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại.
Xu hƣớng tự do hoá thƣơng mại và hội nhập kinh tế quốc tế càng ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Các nền kinh tế quốc gia và khu vực trên thế giới đã và đang ngày càng tích cực
tham gia vào xu thế đó. Trong bối cảnh đó, đối với nền kinh tế nƣớc ta, Nghị quyết Đại hội
đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định phƣơng châm chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”.
Chủ trƣơng của nghị quyết đã có những tác động rất lớn tới cá nhân tôi trong thời gian
đƣợc học tập nghiên cứu tại Khoa sau Đại học chuyên nagnhf Luật quốc tế, đó cũng chính là
căn nguyên để cá nhân tôi lụa chọn đề tài: Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các bài
học kinh nghiệm của các nuớc đang phát triển và giải pháp cho Việt Nam. Đề tài sẽ có những
khiếm khuyết khó tránh khỏi mà quá trình nghiên cứu chƣa phát hiện ra cũng nhƣ trong
khuôn khổ có hạn định của Luận văn Thạc sỹ không cho phép đề cập hết, tuy nhiên với mong
23
muốn tìm đƣợc cho mình một hƣớng nghiên cứu mới, cổ động thực hiện phƣơng châm hội
nhập mà Đảng, Nhà nƣớc đã xác định nên tác giả rất mong đƣợc góp ý để đƣa Luận văn trở
thành một tài liệu có ý nghĩa, hi vọng đóng góp một phần sức trẻ vào việc nghiên cứu để quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thành công hơn.
Để hoàn thành đƣợc kết quả nghiên cứu này, tôi xin thành kính gửi lời cảm ơn đến các
Thầy Cô giáo khoa Luật: PGS.Tiến sỹ Hoàng Phƣớc Hiệp, PGS.TS Nguyễn Bá Diến; Phòng
Thƣơng mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các đơn vị của Bộ Công Thƣơng (Viện Nghiên
cứu Thƣơng mại, Vụ Chính sách và Thƣơng mại đa biên, Cục xúc tiến thƣơng mại, Ban
chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ - Cục quản lí cạnh tranh, Uỷ ban quốc gia về Hợp
quốc tế, tr.34.
11. Lan Hƣơng (2006), Tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO từ góc độ các
nước đang phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7/2006
12. Nguyễn Thị Mơ (2006), “Nhận dạng các loại hình tranh chấp thƣơng mại”, Tạp chí
Kinh tế đối ngoại, tr.3.
13. Bùi Anh Thủy, (2010), Cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế của WTO.
Luận án tiến sỹ cấp Nhà nƣớc, chuyên ngành Luật Kinh tế của - “ Các nƣớc đang phát
triển và cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại của WTO”,
14. Nguyễn Thị Thu Trang, (2008), Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, Luận văn
Thạc sỹ
15. Nguyễn Tấn Dũng, Đỗ Hoài Nam, Lê Thị Băng Tâm (2004), Việt Nam sẵn sàng gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Kỷ yếu diễn đàn ngày 3-4/6/2003 tại Hà Nội,
NXB Khoa học – xã hội, Hà Nội.
16. Oxfam Quốc tế, Nguyễn Văn Thanh dịch (2004), Báo cáo gia nhập WTO,
Website:www. oxfaminternational.org.
17. Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê Thị Hà (2006), Các nước đang phát triển với cơ chế giải
quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), NXB Lao động xã hội, Hà
Nội.
18. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Sổ tay về cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19. Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (2006), Các văn kiện cơ bản của WTO.
20. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, (2011), Cam kết về dịch vụ khi gia nhập
WTO: Bình luận của người trong cuộc.
21. Website Tiếng Việt của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới: http://www.wto.org;
25
22. Wolff. Alam Wm, (1999), Đóng góp tích cực của chống bán phá giá đối với hệ thống
thương mại thế giới tự do”, phát biểu tại Hội nghị kinh doanh thế giới tổ chức tại
Bretton