Cơ chế giải quyết tranh chấp trong công ước của liên hợp quốc về luật biển năm 1982 - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------------------

NGUYỄN MẠNH ĐÔNG

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG CÔNG ƢỚC
CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

CHUYÊN NGÀNH

: LUẬT QUỐC TẾ

MÃ SỐ

: 603860

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao
Phó Chủ nhiệm, Ủy Ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao

HÀ NỘI - NĂM 2009


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công ƣớc Luật biển của Liên hợp quốc 1982

Công ƣớc Luật biển 1982


Tổng Thƣ ký

TTK

Ủy ban Luật pháp quốc tế

ILC (International Law
Commission)

Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng ĐQKT


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 114
CHƢƠNG 1: QÚA TRÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT ...................... 120
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT
BIỂN 1982.............................................................................................................................. 120
1.1. Tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật
pháp quốc tế ......................................................................................................120
1.1.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế ...............................................................120
1.1.2. Phân loại tranh chấp quốc tế .................................................................122
1.2. Nội dung nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế ...............122
1.2.1. Quá trình hình thành nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
........................................................................................................................122
1.2.2. Nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế ..............122
1.3. Quá trình pháp điển hoá cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc
của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 .............................................................122
1.3.1 Việc pháp điển hoá cơ chế giải quyết tranh chấp tại Hội nghị Luật biển

3.3.1. Về thẩm quyền của Tòa trọng tài: ........................................................122
3.4. Trọng tài đặc biệt .......................................................................................122
3.4.1. Thẩm quyền của Tòa trọng tài đặc biệt ................................................122
3.4.2. Thực tiễn xét xử của Trọng tài theo Công ƣớc Luật biển 1982 ...........122
CHƢƠNG 3: VIỆT NAM VỚI VIỆC LỰA CHỌN THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BẮT
BUỘC THEO CÔNG ƢỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982 .......... 122
3.1. Điều kiện địa lý và đặc điểm của khu vực Biển Đông ............................122
3.1.1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của khu vực Biển Đông ......................122
3.1.2. Các loại tranh chấp ở khu vực Biển Đông: ..........................................122
3.2. Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp ở khu vực Biển Đông...................122
3.3. Việt Nam và việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích
và áp dụng Công ƣớc Luật biển 1982 .............................................................122
3.3.1. Chủ trƣơng của nhà nƣớc ta về việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông
........................................................................................................................122
3.3.2. Việt Nam với việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc phân
định các vùng biển với các quốc gia tiếp giáp hoặc đối diện .........................122
3.4. Việt Nam và việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc trong
Công ƣớc của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ............................................122
3.4.1. Sự cần thiết phải lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc................122
3.4.2. Thực tiễn lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp tại các khu vực khác
trên thế giới .....................................................................................................122
3.4.3. Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt
buộc ................................................................................................................122
3.4.4. Việt Nam và việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp theo Công ƣớc
Luật biển 1982 ................................................................................................122
122KẾT LUẬN .......................................................................................................122
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO



Nỗ lực không mệt mỏi của cả cộng đồng quốc tế nhằm xây dựng một trật
tự pháp lý quốc tế mới cho các vấn đề về biển và đại dƣơng, kể cả đáy biển và


lòng đất dƣới đáy biển, đã dẫn đến việc thông qua Công ƣớc Luật biển 1982,
đánh dấu thành công của Hội nghị Luật biển lần thứ III. Với việc Công ƣớc Luật
biển 1982 ra đời, phạm vi không gian địa chính trị của các quốc gia ven biển đã
đƣợc mở rộng một cách đáng kể. Điều này đồng nghĩa với việc một số quyền và
lợi ích mà các quốc gia khác trƣớc đây vẫn đƣợc hƣởng liên quan đến việc sử
dụng biển và đại dƣơng bị thu hẹp. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh
nhiều tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến biển.
Đƣợc thừa nhận là một trong những bƣớc phát triển quan trọng nhất trong
lĩnh vực giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chƣơng LHQ và
Quy chế TAQT, cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc Luật biển 1982
không những đƣợc xây dựng nhằm bảo vệ trật tự pháp lý mới về biển và đại
dƣơng mà còn góp phần vào việc duy trì và tăng cƣờng hoà bình và an ninh quốc
tế thông qua việc tái khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên giải quyết
mọi tranh chấp phát sinh từ việc giải thích hoặc áp dụng Công ƣớc bằng các biện
pháp hoà bình phù hợp với luật pháp và công lý quốc tế.
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc Luật biển 1982 có đối tƣợng
và phạm vi áp dụng rộng lớn, không chỉ điều chỉnh các tranh chấp phát sinh từ
việc giải thích và áp dụng Công ƣớc mà còn điều chỉnh cả những tranh chấp phát
sinh từ một số điều ƣớc quốc tế khác có liên quan đến mục đích của Công ƣớc.
Đặc trƣng lớn nhất của cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc 1982 là các
quốc gia thành viên Công ƣớc, trong một chừng mực nhất định, có nghĩa vụ giải
quyết các tranh chấp liên quan đến Công ƣớc theo thủ tục bắt buộc bằng bên thứ
3. Nói cách khác, khi đã là thành viên của Công ƣớc Luật biển 1982, trong
những điều kiện nhất định, các quốc gia phải chấp nhận quyền tài phán bắt buộc
đƣợc trao cho các thiết chế xét xử đƣợc ghi nhận trong Công ƣớc. Điều này phản
ánh một xu thế phát triển mới đang tình bƣớc trở thành phổ biến trong luật pháp

trắng; trƣờng hợp của Malaysia và Singapore đối với việc Singapore tiến hành
lấn biển ở khu vực eo biển Johor; giữa Nhật và Nga đối với việc tàu đánh cá của
Nhật bị Nga bắt giữ....Do đó, chúng ta cũng cần có những bƣớc chuẩn bị để
tránh bị động khi các nƣớc có liên quan chủ động hoặc đề xuất việc sử dụng các
cơ quan tài phán nhƣ đƣợc quy định trong Công ƣớc Luật biển 1982 để giải
quyết các tranh chấp có liên quan đến ta.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
Chúng ta đã có một số công trình nghiên cứu về Công ƣớc Luật biển 1982
song chủ yếu tập trung vào một số chế định cơ bản của Công ƣớc nhƣ vấn đề
quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia
nhƣ nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế;
vấn đề phân định các vùng biển nói trên… Đối với việc nghiên cứu về cơ chế


giải quyết tranh chấp quốc tế trong Công ƣớc Luật biển 1982, trƣớc đây đã có
công trình “Giới thiệu Công ước 1982” của tác giả Phạm Giảng (năm 1982); đề
tài nghiên cứu khoa học của của Vụ Luật pháp quốc tế, Bộ Ngoại giao (thực hiện
năm 1997, Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Bá Sơn); luận văn thạc sĩ Luật học của
thạc sĩ Huỳnh Minh Chính, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Ban Biên giới quốc gia (thực
hiện năm 1999); công trình “Những điều cần biết về Luật biển” (năm 1997),
“Toà án Công lý quốc tế” (năm 1999), “Toà án quốc tế về Luật biển” (năm
2006), Đề tài Nhà nƣớc KC09.14 của TS. Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ nhiệm
Uỷ ban Biên giới quốc gia. Đây là những tài liệu hết sức quý giá, có giá trị lý
luận và thực tiễn cao trong việc nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, các công
trình nghiên cứu trên đều đƣợc thực hiện vào thời điểm Công ƣớc Luật biển
1982 mới bắt đầu có hiệu lực và các thiết chế đƣợc thành lập theo Công ƣớc,
trong đó có cả thiết chế giải quyết tranh chấp mới đƣợc hình thành và đi vào
hoạt động. Do đó, chƣa có nhiều thời gian để nhìn nhận, đánh giá về sự vận hành
của cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc Luật biển 1982 trong thực tiễn,
những mặt ƣu và khuyết của cơ chế này…

Công ƣớc Luật biển 1982; phân tích các loại tranh chấp và thực tiễn giải quyết
tranh chấp về biển của Việt Nam; khả năng sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp
theo Công ƣớc vào việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.
- Mục tiêu cao nhất của đề tài là đề xuất việc lựa chọn thủ tục giải quyết
tranh chấp bắt buộc mà Việt Nam có thể lựa chọn phù hợp với tình hình, hoàn
cảnh thực tiễn của Việt Nam nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp
của ta ở trên biển.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các quy định liên quan đến việc giải
quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hoặc giải thích Công ƣớc Luật biển
1982, đặc biệt là về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ƣớc Luật biển 1982;
thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện và áp dụng Công
ƣớc Luật biển 1982 của các thiết chế giải quyết tranh chấp đƣợc quy định trong
Công ƣớc; so sánh về thẩm quyền, tính chất pháp lý của các thiết chế giải quyết
tranh chấp; vấn đề lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: Quá trình hình thành và phát
triển của nguyên tắc giải quyết hoà bình tranh chấp quốc tế; xu hƣớng giải quyết
tranh chấp giữa các quốc gia bằng bên thứ 3; đặc trƣng cơ bản của cơ chế giải
quyết tranh chấp trong Công ƣớc Luật biển 1982; phân loại tranh chấp theo


Công ƣớc Luật biển 1982; các loại tranh chấp mà Việt Nam đã đang và sẽ phải
giải quyết; thủ tục giải quyết tranh chấp mà Việt Nam có thể lựa chọn.
5. Phƣơng pháp và phƣơng pháp luận nghiên cứu
- Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Bên cạnh đó luận văn còn đƣợc nghiên cứu dựa trên các phƣơng pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành nhƣ: lịch sử, so sánh, quy nạp, diễn dịch, so
sánh, tổng hợp, xã hội học để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của đề tài:

điểm cho rằng một xã hội mà không tồn tại các tranh chấp là một xã hội không
vận động, thay đổi và phát triển [50, Trg 6].
Quan hệ quốc tế đƣợc đặc trƣng bởi các mối quan hệ, tƣơng tác giữa các
quốc gia trong khuôn khổ một xã hội quốc tế và khi tham gia vào các mối quan
hệ này, mỗi quốc gia đều theo đuổi những lợi ích, mục tiêu riêng của mình. Tuy
nhiên, không phải lúc nào, những lợi ích, mục tiêu này cũng đồng nhất với nhau
mà trong rất nhiều trƣờng hợp chúng có thể xung đột với nhau, tranh chấp phát
sinh và khi đó mỗi quốc gia sẽ tìm ra hoặc sử dụng những cách thức khác nhau
để bảo vệ những lợi ích, mục tiêu riêng này.
Nếu nhƣ các quốc gia có lợi thế về sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị có
thể sử dụng những lợi thế này để gây sức ép, buộc các bên tranh chấp khác phải
chấp nhận “giải pháp” phù hợp với lợi ích, mục tiêu của mình thì ngƣợc lại, đối
với các các quốc gia không có hoặc bất lợi về sức mạnh này, họ sẽ phải sử dụng
các biện pháp “mềm dẻo hơn” nhƣ tác động về mặt đạo nghĩa lên đối tác của
mình, thuyết phục dƣ luận rằng các quyền và yêu sách của mình là có cơ sở, hợp
pháp và chính đáng hơn. Để tìm ra một mẫu số chung cho việc dàn xếp xung
đột, bất đồng về lợi ích nêu trên các quốc gia đã xây dựng nên các quy tắc,
nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế.


Vậy tranh chấp quốc tế là gì, chúng bao gồm những thành tố nào? Đây là
vấn đề đã đƣợc nhiều luật gia trên thế giới nghiên cứu song cũng tồn tại không ít
cách tiếp cận và giải thích khác nhau. Tuy nhiên, khi đề cập tới việc giải quyết
tranh chấp quốc tế, đa phần các luật gia trong lĩnh vực luật quốc tế trên thế giới
đều viện dẫn tới khái niệm tranh chấp mà Toà thƣờng trực Tòa án công lý quốc
tế đã sử dụng trong vụ Mavromattis năm 1924, theo đó tranh chấp đƣợc xác định
là “một bất đồng về một điểm/vấn đề của luật pháp hoặc về một sự kiện, một
xung đột về quan điểm pháp lý hoặc lợi ích giữa hai chủ thể”[64, Trg 13].
Khái niệm này đã đƣợc một học giả nổi tiếng trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp, giáo sƣ J.G Merrils phát triển một cách khá toàn diện và đầy đủ, theo

phản đối hoặc từ chối của quốc gia có liên quan. Việc đòi hỏi và phản đối thông
thƣờng đƣợc thông qua các tuyên bố chính thức, công hàm ngoại giao hoặc các
hành động trên thực tế.
1.1.2. Phân loại tranh chấp quốc tế
Do tranh chấp quốc tế xảy ra trên tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế
nên hệ quả là có rất nhiều các loại tranh chấp quốc tế khác nhau tồn tại giữa các
quốc gia. Do đó, việc phân loại các tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia mang ý
nghĩa quan trọng, là cơ sở để xác định các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc
tế liên quan để từ đó tìm ra các giải pháp khác nhau cho việc giải quyết tranh
chấp quốc tế. Xét về mặt lý thuyết, có nhiều cách khác nhau để phân loại các
tranh chấp quốc tế:
a) Theo đối tượng của tranh chấp: đây là cách phân chia truyền thống, dựa
vào chính tranh chấp giữa các bên. Theo cách phân chia này, tranh chấp có thể có
thể nảy sinh liên quan đến các yêu sách về lãnh thổ, quyền tài phán, bảo hộ ngoại
giao, việc thực hiện nghĩa vụ theo các điều ƣớc quốc tế, Luật biển và nhiều tranh
chấp khác. Những tranh chấp loại này có thể đƣợc chia nhỏ hơn nữa thành các
tranh chấp hết sức cụ thể nhƣ tranh chấp về việc phân định biển, tranh chấp về
chủ quyền lãnh thổ đối với đảo, tranh chấp môi trƣờng…
b) Theo tính chất quan trọng của tranh chấp quốc tế: theo cách phân chia
này tranh chấp đƣợc chia ra thành những tranh chấp đe doạ đến hòa bình và an
ninh quốc tế và những tranh chấp không ảnh hƣởng đến hoà bình và an ninh
quốc tế. Tuy nhiên, cách phân loại này mang nặng tính học thuật vì thực


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật biển ở Việt Nam”,
Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia 2003.
2. Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về Luật biển
Tiếng Anh

16. Djalal, Hasjim, “SCS Disputes” in Myron H. Norquist and John Norton
Moroe (eds.), Security Flashpoints: Oil, Islands, Sea Access and Military
Confrontation, (1997)
17. Dolliver, L., and Nelson, M., “The International Tribunal for the Law of
the Sea: Some Issues” in Chandrasekhara Rao and Rahmatullah (eds.),
The International Tribunal for the Law of the Sea: Law and Practice,
(2001)
18. Farrel, Epsey Cooke, The Socialist Republic of Vietnam and the Law of
the Sea, (1998)
19. Francis, Anselm, “Treaty between the Republic of Trinidad and Tobago
and the Republic of Venezuela on the delimitation of the marine and
submarine area: an analys”, (1991), Vol. 6, International Journal of
Estuaries and Coastal Law
20. Gjetnes, Marius, “Maritime Zones generated by the Spratlys: Legal
Analysis and Geographical Overview”¸ Energy and Security in the SCS
Project, University of Oslo, 24-26/4/1999.
21. Guoxing, Ji, Asian Pacific SLOC security: The China Factor”, Royal
Australia Navy, Working Paper No. 10
22. Hodgson, Robert D., and Smith, Robert W., “Boundary Issues Created by
Extended National Marine Jurisdiction”, (1979), Vol.69, Geographical
Review
23. John E. Noyes, “The third party Dispute settlement Provisions of the 1982
United Convention on the Law of the sea: Implication for state parties and
for non Parties” in Myron H. Norquist an John Norton Moroe, Entry into
force of the Law of the sea Convention (1995).
24. John E. Noyes, “The International Tribunal for the Law of the sea (1999)
”, 32 Cornell International Law Jonurnal.
25. Johnston, Douglos M., and Valencia, Mark J., Paccific Ocean Boundary
Problems: Status and Solution (1990)
26. Joyner, Christopher C., “Toward a Spratly Resource Development

(2001), Vol. 32, Ocean Development and International Law
40. Nguyen Hong Thao, “The 2002 Declaration on the Conduct of the Parties
in the SCS: a Note”, Ocean development and International Law .
41. Norquist, Myron H., and
Moroe, John Norton, (eds.), Security
Flashpoints: Oil, Islands, Sea Access and Military Confrontation, 1997
42. Noyes, John E., “The Third Party Dispute Settlement Provisions of the
1982 United Conventions on the Law of the Sea: Implication for State
Parties and for Non Parties” in Myron H. Norquist and John Norton
Moroe (eds.), Entry into force of the Law of the Sea Convention, (1995)
43. Noyes, John E., “The International Tribunal for the Law of the Sea”,
(1999), 32 Cornell International Law Journal
44. Oda, Shigeru, Fifty Years of the Law of the Sea, (2003)
45. Oxman, Bernard H., „The Sea under National Competence‟ in Dupuy
Vignes (ed.), A Handbook on the New Law of the Sea, (1991)


46. Oxman, Bernard H., “The Third Party Dispute Settlement Provisions of
the 1982 United Conventions on the Law of the Sea: Implication for State
Parties and for Non Parties” in Myron H. Norquist and John Norton
Moroe (eds.), Entry into force of the Law of the Sea Convention, (1995)
47. Oxman, Bernard H., “Political, Strategic, and Historical Considerarions” in J.I.
Charney and L.M. Alexander (eds.), (1993), Interntaional Maritime
Boundaries
48. Park, Choon-ho, East Asia and the Law of the Sea, (1983)
49. Prescott, Victor, and Schofield, Clive, The Maritime Political Boundaries
of the World, Second Edition, 2005
50. Proceeding of the 20th Annivesary Commemoration of the opening for
signature of the UNCLOS.
51. Raymond Ranjeva, settlement of Disputes, A Handbook on the New Law

Law of the Sea Convention, (1995)
64. The Mavrommatis Palestin Concession Case, Pubblication of PCIJ, seria
A – No2.
65. Tonnesson, Stein, “The History of the Dispute” in Timo Kivimaki (ed.),
War or Peace in the SCS, (2002)
66. Valencia, Mark J., China and the SCS Disputes, (1998)
67. Van Dyke, Jon M., and Bennett, Dale L., “Islands and the Delimitation of
Ocean Space in the SCS” in Elisabeth Mann Borgese, Norton Ginsburg
and Joseph R. Morgan (eds.), Ocean Yearbook No.10, (1993)
68. Whiting, David, “The Spratly Islands Dispute and the Law of the Sea”,
(1997-1998), 26 Denver Journal of International Law
69. William Zartman, Dimentionof Diplomacy, SAISPHERE (2003).
70. Wolfrum, Rudiger, “The Legal Order for the Seas and Oceans‟ in Myron
H. Norquist and John Norton Moroe (eds.), Entry into force of the Law of
the Sea Convention, (1995).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status