CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 - Pdf 34

BÀI THUYẾT TRÌNH
CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CỦA CÁC VÙNG BIỂN
THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 19821
……………………………….
NCS.Ths. Ngô Hữu Phước
Trưởng Bộ môn Công pháp quốc tế, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Mong muốn xây dựng bản “Hiến pháp” về biển của nhân loại đã trở thành hiện thực vào
ngày 30/4/1982 khi Công ước của Liên hiệp quốc HQ về luật biển với 320 điều và 9 phụ lục đính
kèm đã được thông qua tại New York và mở cho các quốc gia ký tại Montegobay-Giamaica vào
ngày 10/12/1982 sau 5 năm trù bị (1968 -1973) và 09 năm đàm phán chính thức (1973-1982) với
11 khóa họp. Công ước đã chính thức có hiệu lực vào ngày 16/11/1994(12 tháng sau ngày
Guyana, nước thức 60 phê chuẩn)2. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn Công ước
vào ngày 23/6/1994 và nộp lưu chiểu Liên hiệp quốc vào ngày 25/7/1994.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế năm 1982 (gọi
tắt là Công ước 1982) đã qui định một cách tổng thể các vấn đề pháp lý về: Chế độ pháp lý của
các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Biển cả và đáy đại
dương; Các qui định về hàng hải, hàng không; Sử dụng và quản lý tài nguyên sinh vật biển; Bảo
vệ môi trường biển; An ninh trên biển và hợp tác quốc tế về biển.
Theo quy định của Công ước của Công ước 1982), biển và đại dương được chia thành 03
vùng (khu vực) có chế độ pháp lý khác nhau:
- Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (Nội thủy và Lãnh hải);
- Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (Tiếp giáp lãnh hải,
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa);
- Các vùng biển chung của cộng đồng quốc tế (Biển quốc tế và đáy đại dương -la zone).
I. CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
1. Nội thủy
1.1 Khái niệm và cách xác định nội thủy
Khoản 1, Điều 8 Công ước 1982 định nghĩa, nội thủy là:“…các vùng nước phía bên trong
đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”. Như vậy, nội thủy của quốc gia ven biển
chính là vùng biển có chiều rộng được xác định bởi một bên là đường bờ biển còn bên kia là
đường cơ sở. Đối với quốc gia quần đảo, vùng nước này là toàn bộ phần nước biển nằm trong

điểm, các toạ độ mà quốc gia ven biển đã tuyên bố.
Thứ ba, áp dụng phương pháp đường cơ sở thông thường, các quốc gia ven biển sẽ có một
vùng nội thủy rất hẹp và đây chính là lý do mà các quốc gia trên thế giới thường không muốn áp
dụng hoàn toàn đường cơ sở theo phương pháp này mặc dù căn cứ vào các quy định của Công
ước 1982 là hoàn toàn phù hợp.
+ Phương pháp đường cơ sở thẳng
Theo qui định của Công ước 1982, để xác định đường cơ sở theo phương pháp đường cơ sở
thẳng, bờ biển của quốc gia phải đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
- Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc có một chuỗi đảo nằm sát và chạy dọc theo
bờ biển (khoản 1, Điều 7);
- Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên
khác...(khoản 2, Điều 7).
Trong trường hợp này, đường cơ sở là đường thẳng gãy khúc được xác định bằng cách nối
các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ, của các mũi, các đỉnh chạy dọc theo chiều hướng
chung của bờ biển lại với nhau thành đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải.
Tránh tình trạng xác định đường cơ sở ra quá xa bờ biển, tùy ý nối tắt nhiều điểm không
thực chất thành các đoạn thẳng để có nội thủy rộng lớn, Điều 7 Công ước 1982 quy định phương
pháp xác định đường cơ cơ sở thẳng phải bảo đảm:
- Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển (khoản 3,
Điều 7). Tuyến đường cơ sở phải phù hợp địa hình tự nhiên của bờ biển của quốc gia đó).
- Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm,
trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt
nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế (khoản 4,
Điều 7). Có nghĩa là, các bãi cạn lúc chìm, lúc nổi không phải là các điểm vật chất thực tế dùng
làm căn cứ để vạch đường cơ sở nếu trên các bãi cạn đó không có các công trình xây dựng
thường xuyên nhô trên mặt nước như các đảo và các công trình thiết bị nhân tạo, các ngọn đèn
biển (hải đăng)...
- Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản
1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu
vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ

- Góc lệch lớn nhất giữa đoạn cơ sở thẳng với bờ biển không quá 20 độ.
Tùy theo đặc điểm địa hình bờ biển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà đường cơ sở của các
quốc gia, các vùng lãnh thổ xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường hay đường cơ
sở thẳng hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên.
Đối với các quốc gia quần đảo (État archipel), khi xác định đường cơ sở, tại Điều 47 Công
ước 1982 quy định:
“Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm
ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là
tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích
nước so với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ 1/1 và 9/1”3;
Khi xác định đường cơ sở của quốc gia quần đảo, các quốc gia quần đảo phải tuân thủ các
điều kiện quy định của Công ước 1982 đó là:
- Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể có tối đa là
3% của tổng các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn, nhưng
cũng không quá 125 hải lý4;
- Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần
5
đảo ;
- Các đường cơ sở không thể kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ
trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt
biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách
không vượt quá chiều rộng của lãnh hải6;
- Một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻ các đường cơ sở khiến cho
các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế7;
- Nếu một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo nằm giữa hai mảnh lãnh
thổ của một quốc gia kế cận, thì các quyền và mọi lợi ích chính đáng mà quốc gia kế cận này vẫn
được hưởng theo truyền thống ở trong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy
3
4
5

rõ, đoạn đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh Bắc Bộ sẽ được công bố sau khi vấn đề của
vịnh được giải quyết11.
Khi Việt Nam đưa ra tuyên bố về đường cơ sở nói trên đã có 10 quốc gia phản đối, gồm
Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia, Xingapo, Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Mỹ, Nhật Bản,
Úc phản đối, tập trung vào các điểm từ A1 đến A712.
Thực tế, khi nghiên cứu Công ước 1982, khuyến cáo của Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên
hợp quốc về vạch đường cơ sở và tuyên bố ngày 12-11-1982 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, có thể khái quát đường cơ sở của Việt Nam như sau:
Thứ nhất, về cơ bản đường cơ sở mà Việt Nam áp dụng là đường cơ sở thẳng (chỉ có một
điểm duy nhất, điểm A8 được xác định theo phương pháp đường cơ sở thông thường). Theo phụ
lục và bản đồ kèm tuyên bố này, đường cơ sở được xác định của Việt Nam bao gồm 10 đoạn
thẳng nối 11 điểm khác nhau chạy dọc theo bờ biển lục địa.
Thứ hai, trong số 11 điểm toạ độ được công bố để xác định đường cơ sở, điểm A8 là điểm
ven bờ biển (Mũi Đại Lãnh), 10 điểm còn lại đều nằm trên các đảo ven bờ. Trong đó, khoảng
cách giữa điểm toạ độ gần bờ nhất là 0,5 hải lý và điểm xa nhất là 74 hải lý. Khoảng cách gần
8

. Khoản 6, Điều 47 Công ước 1982.
. Khoản 7, Điều 47 Công ước 1982.
10
. Điểm 0 nằm trên vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa nhân dân Cămpuchia và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, điểm A1 tại đảo Hòn Nhạn quần đảo Thổ Chu, Kiên Giang, tọa độ N 9 015’0; kinh độ E 103027’0. Điểm A2
tại đảo Hòn Đá Lẻ tỉnh Minh Hải, tọa độ N 8 022’8; kinh độ E 104052’4. Điểm A3 tại đảo Hòn Tài Lớn- Côn Đảo,
tọa độ N 8037’8; kinh độ E 106037’5. Điểm A4 tại đảo Hòn Bông Lang - Côn Đảo, tọa độ N 8 038’9; kinh độ E
106043’3. Điểm A5 tại đảo Hòn Bảy Cạnh - Côn Đảo, tọa độ N 8 039’7; kinh độ E 106042’1. Điểm A6 tại đảo Hòn
Hải - Phú Quý, Thuận Hải, tọa độ N 9 058’0; kinh độ E 109005’0. Điểm A7 tại đảo Hòn Đôi, tỉnh Phú Khánh, tọa
độ N 12039’0; kinh độ E 109028’0. Điểm A8 tại mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Khánh, tọa độ N 12 053’8; kinh độ E
109027’2. Điểm A9 tại đảo Hòn Ông Căn, tỉnh Phú Khánh, tọa độ N 13 054’0; kinh độ E 109021’0. Điểm A10 tại
đảo Lý Sơn, tỉnh Nghĩa Bình, tọa độ N 15023’1; kinh độ 109009’0. Điểm A11 tại đảo Cồn Cỏ tỉnh Bình Trị Thiên,
tọa độ 17010’0; kinh độ 107020’6.

Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-51977 (đoạn 2, điểm 1), Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982 (điểm 5), Nghị định
30-CP ngày 29-1-1980 về quy chế hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trên các vùng biển Việt
Nam, Nghị định số 55-CP ngày 1-10-1996 về hoạt động của tàu quân sự vào thăm nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 71/2006/NĐ-CP về quản lý cảng biển và luồng hàng
hải, Nghị định 61/2003/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới biển...
Tàu quân sự và tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại muốn vào nội thủy quốc
gia ven biển phải xin phép trước, trừ những trường hợp bất khả kháng như tàu gặp các sự cố
nghiêm trọng về kỹ thuật không thể tiếp tục được hành trình hoặc các lý do về thiên tai (động đất,
sóng thần, bão, lốc...), hoặc các lý do nhân đạo (như cứu người bị bệnh nan y, cứu tàu thuyền
hoặc thủy đoàn của tàu khác gặp nạn trên biển..) thì chỉ cần thông báo trước khi vào nội thủy.
Khi vào nội thủy, tàu quân sự nước ngoài phải tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển
về thời gian và thủ tục xin phép; tuyến đường hàng hải; hoa tiêu; kiểm dịch; y tế, hải quan; bảo
vệ môi trường; quay phim, chụp ảnh; thăm dò, đo đạc; sự quản lý và giám sát của bộ đội biên
phòng hoặc lực lượng bảo vệ bờ biển; chế độ sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc và các
loại trang thiết bị vũ khí, chất độc, chất phóng xạ trên tàu... và các quy định khác của cảng biển.
Đặc biệt, đối với các tàu Citec, tàu có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân và các tàu chở
các chất hay các nguyên liệu phóng xạ hoặc các chất khác vốn nguy hiểm hay độc hại có thể bị
bắt buộc đi theo tuyến đường nhất định nhằm bảo đảm an toàn và phòng tránh các sự cố hàng hải
gây nguy hiểm cho quốc gia ven biển trong vùng nội thủy. Đối với tàu ngầm (kể cả tàu quân sự
13

. Vùng nước lịch sử chung này được hai nước tuyên bố trong Hiệp ước ngày 7-7-1982 tại thành phố Hồ Chí Minh.
. Điều 1 Hiến pháp năm 1982 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
15
. Điều 7 quy định: “Nội thủy của Việt Nam bao gồm: 1. Các vùng nước phía trong đường cơ sở; 2. Vùng nước
cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là
bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng”.
14

thủ đoàn vi phạm;
- Yêu cầu quốc gia có tàu phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của tàu đó gây ra
trong nội thủy của quốc gia ven biển.
- Đối với tàu dân sự
* Quyền tài phán dân sự
Về nguyên tắc, đối với tàu dân sự, luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà tàu mang cờ.
Chính vì vậy, các Tòa án của quốc gia ven biển không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
dân sự xảy ra giữa các thành viên của thủy thủ đoàn với các công dân nước ngoài không thuộc
thủy thủ đoàn trên tàu mà vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của quốc gia tàu mang quốc
tịch.
* Quyền tài phán hình sự
Tàu dân sự nước ngoài khi hoạt động trong nội thủy của quốc gia ven biển sẽ không được
hưởng quyền miễn trừ như tàu quân sự. Bởi lẽ, tàu dân sự là những chiếc tàu do tư nhân, pháp
nhân làm chủ hoặc là tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại như vận tải, buôn bán
nhằm mục đích kiếm lãi. Chính vì vậy, theo luật quốc tế, quốc gia ven biển sẽ có thẩm quyền xét
xử đối với các vụ vi phạm pháp luật hình sự xảy ra trong tàu dân sự nước ngoài đang hoạt động
trong vùng nội thủy quốc gia ven biển. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia
ven biển có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các cá nhân có hành vi phạm tội trên tàu .
Tuy nhiên, thông thường các quốc gia ven biển không quan tâm đến các vi phạm pháp luật chung
16

. Nguyễn Trung Tín: Tìm hiểu Luật quốc tế, Nxb. Đồng Nai, 2000, tr. 165.


nếu an ninh, trật tự trong cảng không bị tổn hại.
2.1 Khái niệm và cách xác định lãnh hải
Theo Điều 2 Công ước 1982, “chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh
thổ và nội thủy của mình, trong trường hợp quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo đến
một vùng gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy
biển” .

hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng
trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải
hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác”.
2.2 Chế độ pháp lý của lãnh hải
Có thể khẳng định rằng, điểm khác biệt cơ bản về chủ quyền của quốc gia ven biển đối với
lãnh hải so với nội thủy chính là ở lãnh hải thừa nhận quyền “qua lại không gây hại” của tàu
17

. Điều 1 Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12-11-1982.
18
. Điều 9 Luật biên giới quốc gia năm 2003.
19
. Điểm 1 của Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải,
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ngày 12-5-1977.
20
. Điều 9 của Luật biên giới quốc gia năm 2003.
21
. Khoản 2, Điều 16 Công ước 1982.


thuyền nước ngoài. Quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải là một
quy tắc tập quán quốc tế đã được thừa nhận từ lâu trong lĩnh vực hàng hải quốc tế và ngày nay đã
trở thành quy tắc điều ước và được quy định tại Điều 17 Công ước 1982. Theo đó: “Với điều kiện
phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều
được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải”. Quyền này được cộng đồng quốc tế
thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng
hải và an ninh, quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay.
Thuật ngữ “qua lại và không gây hại” đã được cụ thể hóa tại Điều 18 và Điều 19 của Công
ước 1982. Điều 18 quy định, thuật ngữ “đi qua” (passage) là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích:

thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không làm phương hại đến hòa bình, an ninh, trật tự, môi
trường sinh thái của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công
ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
23
. Điều 9 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các
vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có quy định tương tự.
24
. Điều 6 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các
vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tàu thuyền nước ngoài, trong những trường
hợp khẩn cấp không thể khắc phục được, như gặp thiên tai, tai nạn uy hiếp đến an toàn của tàu thuyền và sinh
mạng của những người đi trên tàu thuyền… bắt buộc phải dừng lại hoặc thả neo trong lãnh hải Việt Nam, thì phải
tìm mọi cách liên lạc nhanh chóng và báo cáo lập tức với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam nơi gần nhất; phải
chịu mọi sự kiểm soát của các nhà chức trách Việt Nam để làm rõ tính chân thực của lý do nêu ra, và phải tuân
theo mọi hướng dẫn của các nhà chức trách Việt Nam”.
25
. Khoản 1, Điều 19 Công ước 1982.


j) Nghiên cứu hay đo đạc;
k) Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay
công trình khác của quốc gia ven biển;
l) Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua” (khoản 226).
Theo các điều khoản của Công ước 1982 (Điều 17, 18, 19, 20, 23, 24), quyền qua lại không
gây hại được áp dụng rộng rãi cho các loại tàu thuyền dân sự, quân sự, tàu ngầm cũng như tàu
chạy bằng năng lượng nguyên tử, tàu chở những chất phóng xạ hay những chất độc hại 27. Tuy
nhiên, khi qua lại lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác
buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch28 (Điều 20 Công ước 1982).
Để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qua lại, và các quyền của mình, quốc gia ven biển có thể
định ra, phù hợp với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, các
luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình về các vấn đề:

hải Việt Nam, các tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử và các tàu chuyên chở các chất phóng xạ, chuyên chở hoặc
sử dụng các chất nguy hiểm hay độc hại khác, phải sẵn sàng cung cấp cho nhà chức trách Việt Nam các tài liệu kỹ
thuật cần thiết và phải áp dụng các biện pháp chuyên môn phòng ngừa nguy hiểm và độc hại theo đúng các quy
định về phòng ngừa độc hại và bảo vệ môi trường và theo đúng các hiệp định quốc tế.
28
. Điều 10 Nghị định 30-CP của Chính phủ ngày 29-1-1980 về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên
các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và khoản 3, Điều 18 Nghị định 161/2003/NĐ-CP
ngày 18-12-2003 về Quy chế biên giới biển cũng có quy định tương tự.
29
. Theo khoản 3, Điều 25 Công ước 1982: Quốc gia ven biển có thể tạm thời đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua
không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất định trong lãnh hải của mình, nếu biện pháp này là
cần thiết để bảo đảm an ninh của mình, kể cả để thử vũ khí, nhưng không được phân biệt đối xử về mặt pháp lý
hay thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng
thủ tục.


Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982 về quyền đi qua không hại của tàu thuyền nước
ngoài trong lãnh hải của quốc gia ven biển chúng ta thấy rằng, việc thừa nhận quyền này đã thể
hiện tính chất hạn chế về chủ quyền của quốc gia ven biển trong lãnh hải so với nội thủy. Đối với
đất liền, và lãnh thổ vùng trời của một quốc gia sẽ không tồn tại chế độ qua lại không gây hại.
Bởi lẽ, xuất phát từ chủ quyền quốc gia hoàn toàn và tuyệt đối đối với vùng đất và vùng trời,
quốc gia sẽ không cho phép bất kỳ một loại phương tiện giao thông nào của nước ngoài qua lại
không gây hại trên lãnh thổ của mình. Mọi hành vi qua lại của người, phương tiện giao thông
nước ngoài đều xin phép, hoặc áp dụng theo những quy định của các điều ước quốc tế đã được
các quốc gia hữu quan ký kết. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng “qua lại không gây hại” là
một quyền mang tính biển30.
Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải
a) Đối với tàu dân sự
- Quyền tài phán hình sự ở trên một tàu nước ngoài.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Công ước 1982, về nguyên tắc, quốc gia ven biển không

pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công
bố theo đúng thủ tục”.
31
. Khoản 2, Điều 27 Công ước 1982.
32
. Khoản 3, Điều 27 Công ước 1982.
33
. Khoản 4, Điều 27 Công ước 1982.
34
. Phần XII Công ước 1982 quy định các vấn đề liên quan đến bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, theo đó các quốc
gia, tùy theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau, tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước, cần
thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, sử dụng các phương tiện thích hợp nhất…
(khoản 1, Điều 194).


hợp có sự vi phạm các luật và quy định được định ra theo đúng Phần V 35, quốc gia ven biển
không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khi nó đi qua lãnh hải
nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trước khi
con tàu đi vào lãnh hải, nếu như con tàu xuất phát từ một cảng nước ngoài, chỉ đi qua lãnh hải mà
không đi vào nội thủy.
- Quyền tài phán về dân sự
Theo quy định tại Điều 28 Công ước 1982, quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước
ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi quá trình của nó để thực hiện quyền tài
phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó36;
Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm
(messures conservatoires) về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ
đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua
vùng biển của quốc gia ven biển37;
Khoản 2 không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển áp dụng các biện pháp trừng
phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đối với một tàu

. Phần V của Công ước quy định tất cả các vấn đề pháp lý về vùng đặc quyền kinh tế.
. Khoản 1, Điều 28 Công ước 1982.
37
. Khoản 2, Điều 28 Công ước 1982.
38
. Điều 30 Công ước 1982.
39
. Điều 31 Công ước 1982.
40
. Xem thêm: Phạm Giảng: Luật biển những vấn đề cơ bản theo Công ước 1982, sđd, tr. 60.
36


biển trong việc bảo vệ lợi ích của họ về các mặt trên và đồng thời cũng là để thỏa mãn phần nào
khuynh hướng đòi mở rộng lãnh hải nhưng không được chấp nhận.
Theo khoản 2, Điều 33 Công ước 1982: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý
kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”.
Như vậy, muốn xác định được vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển phải xác định
đường cơ sở và chiều rộng của lãnh hải. Đối với những quốc gia quy định lãnh hải rộng 12 hải lý
thì vùng tiếp giáp lãnh hải của họ có chiều rộng thực tế tối đa là 12 hải lý và hợp với lãnh hải
thành vùng biển có chiều rộng 24 hải lý. Và ngược lại, vùng tiếp giáp lãnh hải có thể rộng hơn 12
hải lý nếu nước ven biển quy định chiều rộng của lãnh hải rộng hơn 12 hải lý.
Theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12-5-1977
về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam quy định:
“Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền
phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng
biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam 41 ”(đoạn 1,
điểm 2).
1.2 Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải
Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng không phải là một

. Tinh thần của Tuyên bố này, thêm một lần nữa được cụ thể hóa trong Luật biên giới quốc gia năm 2003, theo đó,
“Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý” (khoản 2, Điều 4).
42
. Khoản 1, Điều 33 Công ước 1982.


Nam (qua Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi bắt
đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam” (điểm c, Điều 3).
Về quyền chủ quyền kinh tế , trong vùng tiếp giáp lãnh hải. Xuất phát từ vị trí của vùng tiếp
giáp lãnh hải, khi xác định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế đã bao trùm luôn cả vùng biển
này. Mặt khác, bên cạnh chế độ pháp lý mà Công ước 1982 đã quy định tại Điều 33, thì toàn bộ
chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế, đặc biệt là quyền chủ quyền về kinh tế của quốc gia
ven biển cũng được áp dụng cho vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Chính
vì vậy, có thể nói rằng, vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận của vùng đặc quyền kinh tế. Các
quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về kinh tế chúng tôi sẽ đề cập trong vùng đặc quyền kinh
tế.
2. Vùng đặc quyền kinh tế
2.1 Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế là một vấn đề mới được đặt ra trong thực tiễn pháp lý quốc tế từ
những năm 70 của thế kỷ XX tại Hội nghị về Luật biển quốc tế lần thứ III. Vùng biển này ra đời
xuất phát từ lợi ích, nhu cầu của các nước đang phát triển có biển đấu tranh nhằm mở rộng quyền
của mình trong lĩnh vực kinh tế, về bảo tồn, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng
đặc quyền kinh tế vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Trái lại, các nước công nghiệp phát
triển lại tỏ ra chống đối khuynh hướng này vì việc thiết lập vùng đặc quyền kinh tế thì lợi ích của
các quốc gia này bị giảm xuống do biển quốc tế sẽ bị thu hẹp lại.
Về phương diện lịch sử, có thể nói rằng, sau Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman ngày 289-1945 đơn phương xác lập thềm lục địa để giành quyền khai thác tài nguyên trên vùng biển đó,
nhiều nước Mỹ La tinh (Nam Mỹ), đặc biệt là các nước ở ven Thái Bình Dương, do không có
điều kiện xác lập thềm lục địa hoàn chỉnh (thềm lục địa của các quốc gia này rất hẹp), đã phản
ứng lại bằng cách thiết lập một vùng biển mới gọi là “vùng biển tài sản quốc gia43” để thiết lập
chủ quyền và quyền tài phán của mình trên vùng biển này. Từ năm 1947, ba nước ven Thái Bình



Với Tuyên bố này, Việt Nam cùng với Kenya, Myanma, Cuba, Yemen, Dominic, Guatemala,
Ấn Độ, Pakixtan, Mêhicô, Seychelles được coi là những quốc gia tiên phong trong việc đưa khái
niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán trước khi Công ước được ký
kết và có hiệu lực. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á tuyên
bố thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý48.
2.2 Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế
Nghiên cứu các quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế tồn tại hai nhóm
quyền của hai nhóm quốc gia khác nhau đó là quốc gia ven biển và các quốc gia khác, kể cả quốc
gia không có biển và quốc gia bất lợi về địa lý. Đặc điểm này của vùng đặc quyền kinh tế đã
được quy định cụ thể tại Công ước 1982: “Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài
lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó
các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác
đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh49”.
a) Quyền của quốc gia ven biển
* Quyền chủ quyền
Theo quy định tại Điều 56 Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền
về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không
sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển 50, cũng như về
những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản
xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió51.
Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển về tài nguyên sinh vật 52 được thực hiện thông qua
các quyền sau đây:
- Quyền ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận đối với tài nguyên sinh vật (khoản 1,
Điều 61);
- Thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật 53 (khoản 2,
Điều 61);
- Xác định khả năng đánh bắt của mình để ấn định số dư của khối lượng cho phép đánh bắt
(khoản 2, Điều 62);

vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm
quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam” (đoạn 2,
điểm 3).
* Quyền tài phán
Theo quy định của Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có
quyền tài phán về:
- Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trình;
- Nghiên cứu khoa học về biển;
- Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;
- Các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định (điểm b, c, khoản 1, Điều 56).
Các quyền tài phán trong các lĩnh trên đây của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh
tế được cụ thể hóa trong các điều khoản tiếp theo của Công ước 1982.
Ngoài ra, Công ước 1982 cũng quy định, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo
Công ước 1982, quốc gia phải tính đến các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác và hành
động phù hợp với Công ước (khoản 2, Điều 56).
- Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế
Theo quy định tại Điều 58 Công ước 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, bên cạnh thừa
nhận và xác lập các quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển, Công ước còn dành
cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển được hưởng một số quyền sau đây:
+ Tự do hàng hải
+ Tự do hàng không
+ Đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.
+ Sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực
hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn
khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.
Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia
ven biển phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển. Đồng thời, khi hoạt động trong vùng đặc
quyền kinh tế các quốc gia khác phải tôn trọng luật pháp của quốc gia ven biển và những quy
định của luật pháp quốc tế.
Đặc biệt, Công ước 1982 đã dành cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý 54

một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (điểm b, khoản 4);
c) Quy định các mùa vụ và các khu vực đánh bắt, kiểu, cỡ và số lượng các phương tiện đánh
bắt, cũng như kiểu, cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt có thể được sử dụng (điểm c, khoản 4);
d) Ấn định tuổi, cỡ cá và các sinh vật khác có thể được đánh bắt (điểm d, khoản 4);
e) Các thông tin mà tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống kê liên
quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt và thông báo vị trí của các tàu thuyền (điểm e, khoản 4);
f) Nghĩa vụ tiến hành, với sự cho phép và dưới sự kiểm soát của quốc gia ven biển, các
chương trình nghiên cứu nhất định về đánh bắt và việc quy định cách thức tiến hành các chương
trình nghiên cứu này, kể cả việc lấy mẫu cách thức đánh bắt được, nơi nhận các mẫu và việc
thông báo các số liệu khoa học có liên quan (điểm f, khoản 4);
g) Việc quốc gia ven biển đặt các quan sát viên hay thực tập sinh trên các tàu thuyền đó
(điểm g, khoản 4);
h) Bốc dỡ toàn bộ hay một phần các sản phẩm đánh bắt được của tàu thuyền đó ở các cảng
của quốc gia ven biển (điểm h, khoản 4);
i) Các thể thức và điều kiện liên quan đến các xí nghiệp liên doanh hoặc các hình thức hợp
tác khác (điểm i, khoản 4);
j) Các điều kiện cần thiết về mặt đào tạo nhân viên, về chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực
đánh bắt hải sản, kể cả việc đẩy mạnh khả năng nghiên cứu nghề cá của quốc gia ven biển (điểm
j, khoản 4);
k. Các biện pháp thi hành và các biện pháp khác (điểm k, khoản 4).
3. Thềm lục địa
3.1. Khái niệm và cách xác định thềm lục địa
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nhu
cầu về năng lượng phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia sau chiến tranh thế giới lần thứ II.
Chính vì vậy, vấn đề khai thác tài nguyên ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tiếp giáp bờ biển
được rất nhiều quốc gia quan tâm. Từ nhu cầu đó, vấn đề về thềm lục địa được đặt ra và được trở
thành một chế định quan trọng trong Luật biển quốc tế.
Thềm lục địa đã được ghi nhận trong Hội nghị về Luật biển tại Giơnevơ lần thứ nhất năm
1958. Hội nghi này đã thông qua Công ước về thềm lục địa và đến Hội nghị Luật biển lần thứ ba,
thềm lục địa lại một lần nữa được ghi nhận trong Công ước năm 1982. Theo khoản 1, Điều 76

thềm lục địa, nằm cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách không
vượt quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500m là đường nối liền các điểm có độ sâu
trung bình 2500m, một khoảng cách không quá 100 hải lý.
Tóm lại, theo quy định tại Điều 76 Công ước 1982 nếu thềm lục địa không rộng (nhỏ hơn
hoặc bằng 200 hải lý) thì các quốc gia có quyền tuyên chiều rộng tối đa của thềm lục địa quốc gia
mình là 200 hải lý (trong trường hợp này chiều rộng của thềm lục địa sẽ bằng chiều rộng của
vùng đặc quyền kinh tế); nếu thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng hơn 200 hải lý thì có thể
xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa bằng hai cách:
- Chiều rộng tối đa của thềm lục địa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng
của lãnh hải hoặc;
- Kéo dài thêm 100 hải lý tính từ đường nối những điểm ở độ sâu 2500 m.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, với giải pháp công bằng, Công ước 1982 đã ưu tiên cho những
quốc gia có thềm lục địa hẹp (nhỏ hơn 200 hải lý) sẽ được kéo dài thềm lục địa của mình bằng
200 hải lý. Đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng (lớn hơn 200 hải lý) thì thềm lục địa của
quốc gia đó rộng bao nhiêu sẽ được tuyên bố bấy nhiêu nhưng tối đa không được vượt quá 350
hải lý hoặc không được vượt quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2500m.
3.2 Chế độ pháp lý của thềm lục địa
Cũng như vùng đặc quyền kinh tế, ở thềm lục địa của quốc gia ven biển tồn tại song song
quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và quyền, nghĩa vụ của các quốc gia khác.
a) Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển
Theo Điều 77 Công ước 1982, trong vùng thềm lục địa quốc gia ven biển có các quyền thuộc
chủ quyền sau đây:
“1. Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm
dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.
2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không
thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai
có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia
đó.
3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu
thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào...”

khai thác các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình thuộc quyền tài phán của quốc gia này58.

56

. Đây là thuật ngữ tiếng Latinh, có nghĩa là đương nhiên và ngay từ ban đầu. Xem thêm: Nguyễn Hồng Thao: Tòa
án công lý quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 12.
57
. Xem Nguyễn Hồng Thao: Giáo trình chuyên khảo Luật biển quốc tế, sđd, tr. 128.
58
. Khoản 4, Điều 79 Công ước 1982


- Hai là, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển
Quốc gia ven biển có quyền quy định, cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa
học biển trên thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước trên cơ sở thỏa thuận với quốc
gia ven biển59. Thực hiện quyền tài phán này, cũng như ở vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven
biển có quyền tùy ý mình không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển trên
thềm lục địa của mình:
+ Nếu dự án có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên sinh
vật và không sinh vật;
+ Nếu dự án có dự kiến công việc khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hay đưa chất
độc hại vào trong môi trường biển;
+ Nếu dự án dự kiến việc xây dựng, khai thác hay sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị công
trình nhân tạo;
+ Nếu những thông tin được thông báo về tính chất và mục tiêu của dự án theo Điều 248 60
không đúng hoặc nếu quốc gia hay tổ chức quốc tế có thẩm quyền, tác giả của dự án không làm
tròn những nghĩa vụ đã cam kết với quốc gia ven biển 61.
- Ba là, quyền tài phán về việc khoan ở thềm lục địa
Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và điều chỉnh việc khoan ở thềm lục địa với bất kỳ
mục đích nào (Điều 81).

. Xem lại quyền tài phán về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế
61
. Xem phần Điều 246 Công ước 1982.
62
. Điều 214; điểm a, khoản 1, Điều 216.
60


khai thác nào đó, sau 5 năm đầu khai thác. Có nghĩa là, trong thời gian 5 năm đầu khai thác, quốc
gia sẽ được được miễn đóng góp. Từ năm thứ 6, tỷ lệ đóng góp là 1% của giá trị hay của khối
lượng sản phẩm khai thác được, sau đó mỗi năm tăng lên 1% cho đến năm thứ 12 trở đi là 7%.
Sản phẩm không bao gồm các tài nguyên được dùng trong khuôn khổ của việc khai thác 63. Tuy
nhiên, việc đóng góp này có ngoại lệ đối với các quốc gia đang phát triển là nước chuyên nhập
khẩu một khoáng sản được khai thác từ thềm lục địa của mình sẽ được miễn các khoản đóng góp
đối với loại khoáng sản đó. Các khoản đóng góp này sẽ được thực hiện thông qua cơ quan quyền
lực; cơ quan này sẽ phân chia các khoản đó cho các quốc gia thành viên theo tiêu chuẩn công
bằng, có tính đến lợi ích và nhu cầu của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia
chậm phát triển nhất hay các quốc gia không có biển64.
Thứ ba, khi thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển
không được:
+ Làm ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của vùng nước phía bên trên hay vùng trời bên trên
của vùng nước này (nếu thềm lục địa rộng 200 hải lý thì vùng nước bên trên thềm lục địa là vùng
đặc quyền kinh tế; nếu thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý thì bên trên thềm địa bao gồm cả vùng
đặc quyền kinh tế và một phần biển cả);
+ Không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các quốc gia
khác65 đã được Công ước thừa nhận66.
Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về
lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đó “Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ
và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng

. Điều 78 Công ước 1982
64


a) Nguyên tắc tự do trên biển cả
Chế độ pháp lý của biển cả được tập trung chủ yếu trong nguyên tắc tự do ở biển cả. Theo
nguyên tắc này, biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia có biển hay không có biển đều bình
đẳng và tự do trong việc sử dụng biển. Quyền tự do trên biển cả bao gồm:
+ Tự do hàng hải;
+ Tự do hàng không;
+ Tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VI67;
+ Tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật quốc tế cho phép,
với điều kiện tuân thủ phần VI;
+ Tự do đánh bắt hải sản;
+ Tự do nghiên cứu khoa học, với điều kiện tuân thủ các phần VI và phần VIII.
Trong các quyền tự do nói trên, quyền tự do hàng hải và tự do hàng không bị hạn chế như
đối với các quyền tự do khác thì bị hạn chế phần nào. Về quyền tự do đánh bắt cá ở biển cả
không phải không có giới hạn mà ngược lại, quốc gia đánh bắt cá ở biển cả có nghĩa vụ tôn trọng
các quyền và nghĩa vụ cũng như lợi ích của các quốc gia ven biển; áp dụng các biện pháp để bảo
tồn tài nguyên sinh vật của biển cả; hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh
vật68.
b) Địa vị pháp lý của tàu thuyền của các quốc gia trên biển cả
Khi hoạt động trên biển cả, tàu thuyền của các quốc gia có biển hay không có biển đều có
quyền treo cờ của quốc gia tàu mang quốc tịch 69. Các tàu thuyền chỉ được hoạt động dưới cờ của
một quốc gia và, trừ những trường hợp ngoại lệ đã được quy định rõ ràng trong các điều ước
quốc tế hay công ước, chỉ thuộc quyền tài phán của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ khi ở
biển cả. Mặt khác, tàu thuyền của các quốc gia khi đi lại trên biển cả không được thay đổi cờ
trong một chuyến đi hay trong một dịp đậu lại, trừ trường hợp có sự chuyển giao thật sự quyền sở
hữu hay có thay đổi đăng ký70.
Đối với tàu chiến và tàu nhà nước dùng trong lĩnh vực phi thương mại, trên biển cả được

75
. Điều 108 Công ước 1982.
76
. Điều 109 Công ước 1982.
68


- Không có quốc tịch, hay thật ra là cùng quốc tịch với chiếc tàu chiến, mặc dù chiếc tàu này
treo cờ của nước ngoài hay từ chối treo cờ của nước mình 77. Cần lưu ý rằng, để tránh tình trạng
tùy tiện khám xét tàu thuyền đang hoạt động trên biển quốc tế, Công ước quy định: “Nếu việc
nghi ngờ xét ra không có cơ sở thì chiếc tàu bị khám xét được bồi thường về mọi tổn thất hay
thiệt hại xảy ra, với điều kiện là chiếc tàu này không phạm một hành động nào làm cho nó bị tình
nghi78”.
2 Đáy đại dương (La zone)
2.1 Khái niệm và cách xác định đáy đại dương
Cho đến những năm 50 của thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật nghiên cứu về biển và đại dương
còn hạn chế nên các quốc gia trên thế giới vẫn chưa nhận thức hết ý nghĩa kinh tế lớn lao của khu
vực này nên luật quốc tế chưa đề cập đến quy chế riêng của vùng đáy đại dương. Chính vì vậy
mà người ta mặc nhiên coi nó là một bộ phận của biển cả và theo quy chế của biển cả.
Khi Công ước 1982 được ký kết thì vùng đã được tách ra và có chế độ pháp lý riêng biệt so
với biển cả. Theo Điều 1 Công ước 1982, “vùng” (zone) là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển
nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia”. Như vậy, có thể hiểu rằng, vùng là toàn bộ
đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài ranh giới phía ngoài thềm lục địa của tất cả các
quốc gia. Chính vì vậy, không phải tất cả phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của biển cả đều
là vùng. Bởi lẽ, đối với những quốc gia có thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý, thì một phần đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển bên dưới biển cả đang là thềm lục địa của quốc gia đó.
2.2 Chế độ pháp lý của đáy đại dương
Chế độ pháp lý của vùng được quy định từ Điều 136 đến Điều 142 Công ước 1982, theo đó
vùng và tài nguyên của vùng là di sản chung của loài người (Điều 136). Đây là một nguyên tắc
đặc thù của Luật biển, đặc biệt áp dụng cho vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển - vùng

78


- Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển chỉ có thể được sử dụng vào mục đích hòa bình.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status