vừa qua chưa có một vụ tranh chấp xảy ra trong quan hệ hợp đông thuê nhà xưởng
giữa công ty với bên cho thuê, và luôn giữ được mối quan hệ tốt đẹp với đối tác.
Chương III
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế về việc thuê nhà
xưởng tại Công ty quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất (CIRT)
I. Đánh giá về thực tiễn ký kết 2 thực hiện hợp đồng kinh tế về việc thuê nhà xưởng
tại Công ty quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất
Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế về việc thuê nhà xưởng tại Công ty
quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất (CIRI) có những thuận lợi và khó khăn cơ bản từ
phía Công ty như sau:
1. Những thuận lợi
Trong những năm qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng thuê nhà xưởng được diễn
ra suôn sẻ và thuận lợi là do những mạt sau:
- Trình độ cán bộ công nhân viên đã được nâng cao về mọi mặt, các nghiệp vụ lẫn
hiểu biết về pháp luật đặc biệt là am hiểm về mặt pháp luật ngày càng được vững
vàng hơn.
- Nhờ sự tìm hiểu, nghiên cứu về thị trường và đối tác một cách tỷ mỉ và sâu rộng
như: tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của đối tác (bên cho thuê),
tình hình thị trường thuê mua tài chính Từ đó, thu thông được những thông tin cần
thiết, đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập mối quan hệ kinh tế với các
đối tác và tiến hành giao kết hợp đồng.
- Quá trình đàm phán và ký kết diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Vì việc đàm phán,
ký kết hợp đồng được dựa trên cơ sở thoả thuận từ các hợp đồng trước đó (nếu bên
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
cho thuê là đối tác lâu năm), đồng thời dựa trên sự uy tín của Công ty. Đối với các
đối tác là bên cho thuê mới lần đầu tiên xác lập quan hệ hợp đồng thì dựa trên cơ sở
tìm hiểu, thu thập thông tin kỹ lưỡng mà việc đàm phán, ký kết cũng như việc thực
hiện hợp đồng được nhanh chóng và đạt hiệu quả.
2. Những khó khăn
Bên cạnh những mặt thuận lợi trên thì cũng có những khó khăn sau:
- Tuy trình độ của cán bộ công nhân viên của Công ty được nâng cao song vẫn còn
mà nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chưa được định hình rõ rệt, tri thức của
chúng ta về nền kinh tế thị trường còn hạn chế. Do đó, các quy định trong Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế còn có nhiều điểm hạn chế, nhiều quy định còn quá sơ sài chưa
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hiện nay của nền kinh tế. Đây là điều tốt của quá
trình phát triển đi lên của đất nước.
Chúng ta có thể liệt kê những hạn chế trong các quy định của Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế như sau:
3.1. Sự không rõ ràng trong phạm vi điều chỉnh của pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Hiện nay chúng ta đã ban hành rất nhiều luật, Bộ luật khác nhau thuộc về các lĩnh
vực khác nhau, song trong các quy định của các luật, Bộ luật đó cũng có những vấn
đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động kinh tế như là: hoạt động thương mại trao đổi
hàng hoá trong Luật Thương mại hay là các hoạt động vận chuyển hàng hoá trong
Luật Hàng hải, Luật Hàng không…, đặc biệt vấn đề liên quan đến thuê mua, quyền
sử dụng, quyền sở hữu trong Luật dân sự (vấn đề này cũng có liên quan đến việc
xác lập hợp đồng thuê nhà xưởng). Vì vậy quan hệ nào thuộc phạm vi điều chỉnh
của Pháp luật hợp đồng kinh tế ? Đây cũng là vấn đề mà hiện nay chưa được quy
định rõ ràng, nhiều lúc còn chồng chéo nhau, bên cạnh đó lại có những vấn đề
không được quy định, bỏ sót như những quan hệ về tài sản. Chính sự không quy
định rõ ràng này đã gây lúng túng cho các chủ thể tham gia các quan hệ hợp đồng
kinh tế. Cụ thể, xong quan hệ hợp đồng về htuê nhà xưởng tại Công ty thì sự thoả
thuận về các điều khoản như quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản không được quy
định một cách rõ ràng cụ thể hơn Đó cũng là do sự quy định của pháp luật hợp
đồng kinh tế không rõ ràng nên việc áp dụng cũng trở nên khó khăn.
3.2. Sự không rõ ràng về hình thức của hợp đồng kinh tế
Điều 1 và Điều 11 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: "Hợp đồng kinh tế là sự
thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch ". Nhưng việc ký kết hợp đồng kinh tế
theo hình thức giao tiếp (tài liệu giao dịch) quy định còn quá sơ sài, chưa quy định
cụ thể về sự hình thành hợp đồng kinh tế. Theo quy định tại Điều 11 - Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế" hợp đồng kinh tế được coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý
các chủ thể không có tư cách pháp nhân này ký kết hợp đồng với nhau với mục đích
kinh doanh thì hợp đồng đó vẫn không được coi là hợp đồng kinh tế. Thực tế các
tranh chấp từ hợp đồng này lại được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (giải
quyéet tịa Toà án dân sự) mà không được giải quyết bởi trọng tài kinh tế hoặc Toà
án kinh tế. Đây là điều hạn chế đối với các chủ thể không có tư cách pháp nhân
muốn xác lập hợp đồng kinh tế với nhau vì mục đích kinh doanh.
Chính vì thế mà hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, gây ra sự bất lợi
cho các chủ thể kinh doanh không phải là pháp nhân và sự bất bình đẳng giữa các
chủ thể. Hơn ưữa, việc quy định hợp đồng kinh tế được ký kết giữa một bên là pháp
nhân với một bên là cá nhân có đăng ký kinh doanh nhưng phải có mục đích kinh
doanh chứ không phải là mục đích tiêu dùng. Điều này cũng có hạn chế trong việc
mở rộng giao kết hợp đồng của các chủ thể có mục đích kinh doanh. Vì có những
trường hợp phía chủ thể khác có thể đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của mình
nhưng lại không được phép xác lập hợp đồng kinh tế với chủ thể đó.
Đây cũng là điều hạn chế đối với Công ty trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng
thuê nhà xưởng.
Trên đây là những hạn chế đã trở thành nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng thuê nhà xưởng
tại Công ty Quan hệ quốc tế - Đầu tư Sản xuất nói riêng. Ngoài ra còn có những hạn
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
chế khác nữa trong quy định của chế độ hợp đồng kinh tế. Đó cũng là lý do để có
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp lýa hợp đồng kinh tế.
II. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế và việc thuê nhà
xưởng Công ty quan hệ quốc tế - Đầu tư sản xuất (CIRI)
1. Sự cần thiết và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế
1.1. Sự cần thiết phải có những thay đổi nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
kinh tế
Pháp luật với vai trò là một phần của kiến trúc thượng tầng, được hình thành và quy
định bởi các điều kiện vật chất của hạ tầng co sở. Pháp luật cũng là sự phản ánh của
quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Pháp luật một mặt phụ thuộc vào kinh
Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì đòi hỏi hệ thống pháp luật cũng phát triển
theo. Hai mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động và phụ thuộc lẫn
nhau. Vì thế, nếu những quy phạm pháp luật mà lạc hậu chắc chắn sẽ kìm hãm sự
phát triển của đất nước.
Pháp luật hợp đồng kinh tế được ban hành năm 1989, là thời kỳ đầu của công cuộc
đổi mới kinh tế ở nước ta. Khi đó tư duy pháp luật về nền kinh tế thị trường còn
nhiều hạn chế, kinh tế - xã hội cũng chưa có nhiều thay đổi. Nhưng sau 15 năm đổi
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
mới điều kiện về kinh tế - xã hội đã thay đổi rất nhiều. Do đó, những quy định trong
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã bộc lộ rất nhiều điểm yếu, nó không thể đáp ứng
được hết các yếu tố của thực tiễn hiện nay. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu tìm ra
giải pháp tốt nhất cho việc sửa đổi, hoàn thiện Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Mặt khác, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời trước khi có Bộ luật dân dự và Luật
Thương mại. Vì thế hiện nay trong ba văn bản này có nhiều quy định chồng chéo
nhau nên đã tạo ra khe hở pháp luật cho việc trục lợi. Bởi vì Bộ Luật dân sự và Luật
Thương mại ra đời khi mà điều kiện kinh tế - xã hội tương đối đầy đủ nên nó tiến bộ
hơn nhiều so với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế .
Sau đây chúng ta sẽ xem xét tính không đồng bộ ở ba văn bản trên:
Trước hết, cần xem xét mối quan hệ giữa Pháp lệnh hợp đồng kinh tế với Bộ luật
dân sự. ở đây, chúng ta chỉ xem xét về khía cạnh quan hệ hợp đồng. Đối với các
quan hệ hợp đồng kinh tế thì do Pháp lệnh hợp đồng kinh tế điều chỉnh (cụ thể là
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế) đó là những quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể có điều
kiện nhằm mục đích sinh lời. Còn đối với các quan hệ hợp đồng dân sự cho pháp
luật dân sự điều chỉnh (cụ thể Bộ luật dân sự) là quan hệ hợp đồng phá sinh giữa các
chủ thể nhằm mục đích tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bộ luật dân sự lại điều chỉnh
một số quan hệ mang tính chất kinh doanh rất cao như quan hệ hợp đồng giữa hai
chủ thể nhằm mục đích sinh lời hoặc một chủ thể bán quyền tác giả cho một tổ chức
nào đó, đây cũng có thể được coi là hình thức kinh doanh chất xám trong nền kinh
tế trí thức Song những quan hệ này lại không thuộc phạm vi của Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế. Tiếp đến, chúng ta xem xét mối quan hệ giữa Pháp lệnh hợp đồng
mạnh, một hành lang pháp lý vững chắc để các quan hệ kinh tế giữa mọi thành phần
kinh tế được hình thành và thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc tự do, bình đẳng
cũng có lợi và tự chịu trách nhiệm trong quan hệ kinh tế đó (cụ thể là trong quan hệ
hợp đồng kinh tế) theo pháp luật.
Thứ hai, phải phù hợp với các văn bản pháp luật khác. Trong thời gian qua,
do nhu cầu của điều kiện kinh tế xã hội mà đã có nhiều văn bản pháp luật quan
trọng đã được ban hành trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và trong mọi lĩnh vực nói
chung. Đáng chú ý nhất là Bộ Luật dân sự, Luật thương mại và gần đây nhất là Luật
doanh nghiệp Do đó, yêu cầu đặt ra cho việc sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế
phải chú ý đến việc bảo đảm sự thống nhất với các văn bản pháp luật khác nhằm
tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, từ đó tạo ra điều kiện
thuận lợi trong việc áp dụng. Vì nếu không có sự thống nhất giữa các văn bản thì
những qui định của pháp luật sẽ tạo ra khe hở trong pháp luật như hiện nay, chính
điều đó sẽ là sự kìm hãm cho sự phát triển đất nước.
Thứ ba, phải phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hiện nay, xu hướng quốc tế hoá ngày càng được mở rộng trên mọilĩnh vực.Việt
nam trên con đường giao lưu, hợp tác làm ăn với các quốc gia trên thế giới cần phải
hoà nhập để mở rộng giao lưu thương mại, mở rộng thị trường nhằm thúc đẩy sự
hợp tác kinh tế với các nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chính vì thế, pháp
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -