CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG CÔNG ước của LIÊN hợp QUỐC về LUẬT BIỂN năm 1982 - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------------------

NGUYỄN MẠNH ĐÔNG

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG CÔNG ƯỚC
CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

CHUYÊN NGÀNH

: LUẬT QUỐC TẾ

MÃ SỐ

: 603860

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao
Phó Chủ nhiệm, Ủy Ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao

HÀ NỘI - NĂM 2009


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công ước Luật biển của Liên hợp quốc 1982

Công ước Luật biển 1982


Tổng Thư ký

TTK

Ủy ban Luật pháp quốc tế

ILC (International Law
Commission)

Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng ĐQKT


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: QÚA TRÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT ......................... 7
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT
BIỂN 1982............................................................................................................................. 7
1.1. Tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật
pháp quốc tế....................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế ................................................................ 7
1.1.2. Phân loại tranh chấp quốc tế .................................................................. 9
1.2. Nội dung nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế ................ 11
1.2.1. Quá trình hình thành nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
...................................................................................................................... 11
1.2.2. Nội dung nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế ............... 13
1.3. Quá trình pháp điển hoá cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước
của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ............................................................. 19
1.3.1 Việc pháp điển hoá cơ chế giải quyết tranh chấp tại Hội nghị Luật biển

3.3.1. Về thẩm quyền của Tòa trọng tài: ........................................................ 77
3.4. Trọng tài đặc biệt ..................................................................................... 79
3.4.1. Thẩm quyền của Tòa trọng tài đặc biệt ................................................ 80
3.4.2. Thực tiễn xét xử của Trọng tài theo Công ước Luật biển 1982............. 81
CHƯƠNG 3: VIỆT NAM VỚI VIỆC LỰA CHỌN THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BẮT
BUỘC THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982 ............ 89
3.1. Điều kiện địa lý và đặc điểm của khu vực Biển Đông ............................. 89
3.1.1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của khu vực Biển Đông ....................... 89
3.1.2. Các loại tranh chấp ở khu vực Biển Đông:........................................... 90
3.2. Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp ở khu vực Biển Đông.................... 92
3.3. Việt Nam và việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích
và áp dụng Công ước Luật biển 1982 ............................................................. 93
3.3.1. Chủ trương của nhà nước ta về việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông
...................................................................................................................... 93
3.3.2. Việt Nam với việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc phân
định các vùng biển với các quốc gia tiếp giáp hoặc đối diện .......................... 94
3.4. Việt Nam và việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc trong
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ............................................ 97
3.4.1. Sự cần thiết phải lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc ................. 98
3.4.2. Thực tiễn lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp tại các khu vực khác
trên thế giới ................................................................................................... 99
3.4.3. Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt
buộc ............................................................................................................ 100
3.4.4. Việt Nam và việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp theo Công ước
Luật biển 1982 ............................................................................................ 102
105KẾT LUẬN ................................................................................................... 106
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO




1


Nỗ lực không mệt mỏi của cả cộng đồng quốc tế nhằm xây dựng một
trật tự pháp lý quốc tế mới cho các vấn đề về biển và đại dương, kể cả đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển, đã dẫn đến việc thông qua Công ước Luật biển
1982, đánh dấu thành công của Hội nghị Luật biển lần thứ III. Với việc Công
ước Luật biển 1982 ra đời, phạm vi không gian địa chính trị của các quốc gia
ven biển đã được mở rộng một cách đáng kể. Điều này đồng nghĩa với việc
một số quyền và lợi ích mà các quốc gia khác trước đây vẫn được hưởng liên
quan đến việc sử dụng biển và đại dương bị thu hẹp. Đây là nguyên nhân dẫn
đến việc phát sinh nhiều tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến biển.
Được thừa nhận là một trong những bước phát triển quan trọng nhất
trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp quốc tế kể từ khi thông qua Hiến chương
LHQ và Quy chế TAQT, cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật
biển 1982 không những được xây dựng nhằm bảo vệ trật tự pháp lý mới về
biển và đại dương mà còn góp phần vào việc duy trì và tăng cường hoà bình và
an ninh quốc tế thông qua việc tái khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia thành
viên giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ việc giải thích hoặc áp dụng Công
ước bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp và công lý quốc tế.
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển 1982 có đối
tượng và phạm vi áp dụng rộng lớn, không chỉ điều chỉnh các tranh chấp phát
sinh từ việc giải thích và áp dụng Công ước mà còn điều chỉnh cả những tranh
chấp phát sinh từ một số điều ước quốc tế khác có liên quan đến mục đích của
Công ước. Đặc trưng lớn nhất của cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công
ước 1982 là các quốc gia thành viên Công ước, trong một chừng mực nhất
định, có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp liên quan đến Công ước theo thủ
tục bắt buộc bằng bên thứ 3. Nói cách khác, khi đã là thành viên của Công
ước Luật biển 1982, trong những điều kiện nhất định, các quốc gia phải chấp

quốc gia trong khu vực đang có khuynh hướng sử dụng các cơ quan tài phán
quốc tế để giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ
biển đảo, các tranh chấp liên quan đến Công ước Luật biển 1982 như trường
hợp của Malaysia và Indonesia đối với tranh chấp chủ quyền đảo Ligitan và
Sepadan; trường hợp của Malaysia và Singapore đối với tranh chấp đảo Đá
trắng; trường hợp của Malaysia và Singapore đối với việc Singapore tiến hành
lấn biển ở khu vực eo biển Johor; giữa Nhật và Nga đối với việc tàu đánh cá
của Nhật bị Nga bắt giữ....Do đó, chúng ta cũng cần có những bước chuẩn bị
để tránh bị động khi các nước có liên quan chủ động hoặc đề xuất việc sử
dụng các cơ quan tài phán như được quy định trong Công ước Luật biển 1982
để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến ta.

3


2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chúng ta đã có một số công trình nghiên cứu về Công ước Luật biển
1982 song chủ yếu tập trung vào một số chế định cơ bản của Công ước như
vấn đề quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán
quốc gia như nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế; vấn đề phân định các vùng biển nói trên… Đối với việc nghiên
cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong Công ước Luật biển 1982,
trước đây đã có công trình “Giới thiệu Công ước 1982” của tác giả Phạm
Giảng (năm 1982); đề tài nghiên cứu khoa học của của Vụ Luật pháp quốc tế,
Bộ Ngoại giao (thực hiện năm 1997, Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Bá Sơn);
luận văn thạc sĩ Luật học của thạc sĩ Huỳnh Minh Chính, Phó Chủ nhiệm Ủy
ban Ban Biên giới quốc gia (thực hiện năm 1999); công trình “Những điều
cần biết về Luật biển” (năm 1997), “Toà án Công lý quốc tế” (năm 1999),
“Toà án quốc tế về Luật biển” (năm 2006), Đề tài Nhà nước KC09.14 của
TS. Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia. Đây là

pháp điển hoá cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển 1982;
- Đi sâu phân tích và trình bày những nội dung cơ bản, làm rõ đặc trưng
cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển 1982 là
việc các quốc gia thành viên có nghĩa vụ giải quyết theo thủ tục bắt buộc các
tranh chấp phát sinh từ quá trình áp dụng hoặc giải thích Công ước;
- Đi sâu nghiên cứu, so sánh từng loại thủ tục giải quyết tranh chấp
được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như TAQT, TALB, Toà Trọng
tài và Trọng tài đặc biệt; thực tiễn xét xử các tranh chấp liên quan đến Công
ước Luật biển 1982 của từng thiết chế xét xử này;
- Giới thiệu về đặc điểm địa lý và tình hình tranh chấp ở khu vực Biển
Đông; mối quan hệ giữa tranh chấp ở Biển Đông với cơ chế giải quyết tranh
chấp theo Công ước Luật biển 1982; phân tích các loại tranh chấp và thực tiễn
giải quyết tranh chấp về biển của Việt Nam; khả năng sử dụng cơ chế giải quyết
tranh chấp theo Công ước vào việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.
- Mục tiêu cao nhất của đề tài là đề xuất việc lựa chọn thủ tục giải
quyết tranh chấp bắt buộc mà Việt Nam có thể lựa chọn phù hợp với tình
hình, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi
ích hợp pháp của ta ở trên biển.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định liên quan đến việc giải
quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hoặc giải thích Công ước Luật biển
1982, đặc biệt là về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển
1982; thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện và áp dụng

5


Công ước Luật biển 1982 của các thiết chế giải quyết tranh chấp được quy định
trong Công ước; so sánh về thẩm quyền, tính chất pháp lý của các thiết chế giải
quyết tranh chấp; vấn đề lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp.


6


CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH PHÁP ĐIỂN HÓA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP
QUỐC VỀ LUẬT BIỂN 1982
1.1. Tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp quốc tế trong
luật pháp quốc tế
1.1.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế
Tranh chấp là một hiện tượng phổ biến và không tránh khỏi trong bất
cứ một xã hội nào [35, Trg 1] nó diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và trên mọi lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội, từ các tranh chấp trong nội bộ các gia
đình, các nhóm xã hội, các công ty đến tranh chấp giữa các quốc gia. Là “sản
phẩm phụ” của quá trình tương tác xã hội, tranh chấp không hoàn toàn mang
ý nghĩa tiêu cực trong chừng mực chúng không phá vỡ trật tự xã hội. Bởi vậy,
cũng có quan điểm cho rằng một xã hội mà không tồn tại các tranh chấp là
một xã hội không vận động, thay đổi và phát triển [50, Trg 6].
Quan hệ quốc tế được đặc trưng bởi các mối quan hệ, tương tác giữa
các quốc gia trong khuôn khổ một xã hội quốc tế và khi tham gia vào các mối
quan hệ này, mỗi quốc gia đều theo đuổi những lợi ích, mục tiêu riêng của
mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào, những lợi ích, mục tiêu này cũng đồng
nhất với nhau mà trong rất nhiều trường hợp chúng có thể xung đột với nhau,
tranh chấp phát sinh và khi đó mỗi quốc gia sẽ tìm ra hoặc sử dụng những
cách thức khác nhau để bảo vệ những lợi ích, mục tiêu riêng này.
Nếu như các quốc gia có lợi thế về sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị
có thể sử dụng những lợi thế này để gây sức ép, buộc các bên tranh chấp khác
phải chấp nhận “giải pháp” phù hợp với lợi ích, mục tiêu của mình thì ngược
lại, đối với các các quốc gia không có hoặc bất lợi về sức mạnh này, họ sẽ

Qua khái niệm tranh chấp quốc tế nêu trên, chúng ta có thể rút ra các
yếu tố cơ bản cấu thành một tranh chấp quốc tế, chúng bao gồm:
- Phải tồn tại bất đồng giữa các hai hay nhiều quốc gia và bất đồng này
phải là bất đồng cụ thể. Trong quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia tồn tại rất
nhiều bất đồng (ví dụ, các bất đồng về quan điểm về phát triển hoặc nhân
quyền, văn hóa…) song những bất đồng này chưa thể coi là tranh chấp giữa
các quốc gia liên quan. Bên cạnh đó, tranh chấp quốc tế cũng không giống với
thái độ thù nghịch hoặc không thân thiện giữa các quốc gia. Hai hay nhiều quốc
gia có thể có thái độ, cách nhìn nhận không tốt về nhau song đó chưa phải là

8


tranh chấp, nếu không có bất kỳ bất đồng cụ thể nào tồn tại. Ngược lại, hai
quốc gia có quan hệ hữu nghị mật thiết với nhau nhưng giữa họ tồn tại một bất
đồng cụ thể thì bất đồng này vẫn được coi là tranh chấp quốc tế. Hơn thế nữa,
tranh chấp còn được phân biệt với trạng thái, tình huống theo nghĩa là một quốc
gia cảm thấy bị tổn thương hoặc có thái độ thù nghịch với quốc gia khác trừ khi
những tình huống này đã tạo thành một yêu sách hay đòi hỏi cụ thể [53, trang 4].
- Bất đồng phải liên quan tới các yêu sách và đòi hỏi đối kháng nhau.
Nói cách khác, một bên phải đưa ra đòi hỏi hoặc yêu sách cụ thể (trên cơ sở
cho rằng mình có quyền đối với đòi hỏi, yêu sách) và đòi hỏi và yêu sách này
gặp phải sự phản đối hoặc từ chối của quốc gia có liên quan. Việc đòi hỏi và
phản đối thông thường được thông qua các tuyên bố chính thức, công hàm
ngoại giao hoặc các hành động trên thực tế.
1.1.2. Phân loại tranh chấp quốc tế
Do tranh chấp quốc tế xảy ra trên tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc
tế nên hệ quả là có rất nhiều các loại tranh chấp quốc tế khác nhau tồn tại giữa
các quốc gia. Do đó, việc phân loại các tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia
mang ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để xác định các nguyên tắc, quy phạm pháp

các tranh chấp mà việc bất đồng giữa các bên liên quan đến: (i) sự kiện (cái gì
đã xảy ra); (ii) các quy định pháp luật có liên quan (những quy phạm nào hoặc
nguyên tắc pháp lý nào mà các bên yêu cầu phải áp dụng); (iii) ai là người có
thẩm quyền giải quyết và việc giải quyết được tiến hành theo thủ tục nào…
d) Theo tính chất mối quan hệ giữa các bên tranh chấp: theo cách phân
loại này người ta dựa vào mối quan hệ bang giao giữa các bên tranh chấp. Do
đó, sẽ có tranh chấp giữa các quốc gia có mối quan hệ mật thiết với nhau, giữa
các quốc gia cùng ý thức hệ, tôn giáo… và các tranh chấp giữa các quốc gia
mới chỉ có mỗi quan hệ với nhau hoặc không cùng các tiêu chí được liệt kê.
e) Theo tầm quan trọng của tranh chấp đối với các bên tranh chấp:
theo cách phân loại này thì tranh chấp được sắp xếp dựa vào nhận thức và
quan điểm của quốc gia tranh chấp đối với tranh chấp, theo đó sẽ có các tranh
chấp liên quan đến lợi ích sống còn của quốc gia và có những tranh chấp ít
quan trọng hơn…
f) Theo cách thức mà tranh chấp được giải quyết: theo cách phân loại
này thì có những tranh chấp các bên có thể giải quyết bằng bên thứ 3 có
những tranh chấp các bên không muốn giải quyết bằng bên thứ 3 (các tranh
chấp liên quan đến lợi ích sống còn, tranh chấp liên quan đến việc sử dụng vũ
lực…).
Tuy nhiên, việc phân chia các loại tranh chấp nêu trên cũng chỉ mang
tính chất tương đối vì một tranh chấp quốc tế cụ thể có thể được xếp vào
nhiều loại tranh chấp khác nhau và ngược lại nhiều tranh chấp cụ thể có thể
được đưa vào một nhóm loại tranh chấp. Ví dụ, các tranh chấp liên quan đến
biên giới lãnh thổ có thể vừa được xếp vào loại các tranh chấp có tầm quan
trọng, có thể ảnh hưởng đến hòa bình an ninh quốc tế, song cũng có thể xếp
vào loại các tranh chấp giữa các quốc gia láng giềng…Song không vì lý do
này mà chúng ta hạ thấp vai trò của việc phân loại tranh chấp, trên thực tế
việc phân loại đúng sẽ góp phần quan trọng vào việc xác định lựa chọn biện

10

cảnh cho phép các biện pháp hòa bình trước khi viện dẫn đến các biện pháp
vũ lực (Theo điều 1 và điều 2, Công ước La Hay 1899, 1907). Các biện pháp

11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

hòa bình giải quyết tranh chấp theo các Công ước La Hay 1899 và 1907 bao
gồm trung gian, hòa giải, trọng tài và Tòa trọng tài thường trực.
Tiếp theo các Công ước La Hay về giải quyết hòa bình các tranh chấp
quốc tế, Hiến chương của Hội quốc liên được thông qua tại Hội nghị hoà bình
Paris năm 1919, mặc dù cũng không loại trừ giải pháp bằng biện pháp quân
sự, song đã quy định nghĩa vụ ưu tiên giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện
pháp hòa bình (Điều 12-17 Hiến chương Hội quốc liên). Tính chất hai mặt
của các điều khoản giải quyết tranh chấp được quy định trong các điều ước
nêu trên có thể được giải thích là do hệ quả của việc không tồn tại nguyên tắc
không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Việc hạn chế dần việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã tạo đà
cho nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế phát triển và dần trở
thành nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, mang tính bắt buộc đối với các quốc
gia trong quan hệ quốc tế. Điều ước quốc tế được nhắc đến nhiều nhất liên
quan đến việc loại bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế là Hiệp ước
Briand-Kellog năm 1928, trong đó

phải được giải quyết bằng biện pháp duy nhất, biện pháp hòa bình, phù hợp với
công lý và luật pháp quốc tế. Nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế
không thừa nhận bất cứ ngoại lệ nào, chính điều này là cho nguyên tắc này khác
với một số nguyên tắc cơ bản khác của luật pháp quốc tế như nguyên tắc không
sử dụng vũ lực trong đó vẫn chấp nhận một số ngoại lệ cụ thể (Điều 51 Hiến
chương LHQ cho phép các quốc gia thành viên LHQ có quyền sử dụng vũ lực
thông qua hành động tự vệ cá nhân hoặc tập thể).
Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế đòi hỏi các bên tranh
chấp phải thông qua các biện pháp cụ thể được quy định trong Hiến chương
LHQ và các điều ước có liên quan, nhanh chóng tìm ra một giải pháp thỏa
đáng để tranh chấp có thể được giải quyết dứt điểm trong một thời gian sớm
nhất có thể. Điều quan trọng của nguyên tắc này là các quốc gia có liên quan
có quyền tự do lựa chọn, thỏa thuận các biện pháp cụ thể để giải quyết hòa
bình các tranh chấp quốc tế của mình cho phù hợp với hoàn cảnh và tính chất
của tranh chấp.
Khi tiến hành giải quyết tranh chấp các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực
hiện một cách thiện chí biện pháp giải quyết tranh chấp cụ thể mà các bên lựa
chọn và trong trường hợp không đạt được giải pháp cho tranh chấp bằng các
biện pháp đã được lựa chọn, các quốc gia có thể thỏa thuận hoặc tìm kiếm các
biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp.

13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi

chính trị, pháp lý hoặc bất cứ vấn đề nào. So với việc giải quyết tranh chấp
bằng các biện pháp tư pháp thì đàm phán hoàn toàn mang tính chất cơ động,
không phụ thuộc vào các thủ tục ấn định. Tuy nhiên, điều này không phủ
nhận việc đàm phán phải dựa vào các cơ sở và căn cứ luật pháp quốc tế, đặc
biệt là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực.
14


Đàm phán có thể diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau và duới nhiều dạng
khác nhau như viết thư, trao đổi miệng, đàm phán song phương, đàm phán đa
phương. Không những là một trong những biện pháp hòa bình giải quyết
tranh chấp hữu hiệu, đàm phán còn được xem là một kỹ thuật để hạn chế và
ngăn ngừa tranh chấp quốc tế phát triển theo hướng tiêu cực hơn.
b) Điều tra (Enquiry):
Thực tế cho thấy khi một bất đồng giữa các quốc gia về sự việc, luật
pháp hoặc chính sách sâu sắc đến mức có thể làm phát sinh một tranh chấp
quốc tế thì các bên sẽ kiên trì quan điểm của mình, khó có khả năng nhượng
bộ hoặc hòa giải. Khi rơi vào hoàn cảnh này một hoặc tất cả các bên tranh
chấp đều dễ từ chối việc thảo luận vấn đề với lý do quan điểm của họ là
“không thể đàm phán” [35 Trg 44]. Trong trường hợp này thì cả đàm phán lẫn
trung gian, hòa giải đều khó có thể đưa đến một giải pháp cho tranh chấp, bởi
vậy cần có một biện pháp khác, đó là điều tra.
Điều tra là hình thức giải quyết tranh chấp đã được ghi nhận trong
Công ước La hay về giải quyết tranh chấp quốc tế năm 1899 và 1907. Theo
đó, các bên tranh chấp có thể lập ra hoặc đề nghị thành lập một Ủy ban điều
tra với nhiệm vụ là cùng tìm hiểu thực tế của sự việc dẫn đến tranh chấp giữa
các bên. Khi kết thúc việc điều tra, Ủy ban sẽ đệ trình báo cáo lên các bên
tranh chấp và báo cáo này không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên. Trong
báo cáo các bên có thể trình bày về các văn bản, việc giám sát trên thực địa,

Trung gian là một hình thức đặc biệt của giải quyết tranh chấp quốc tế
bằng biện pháp ngoại giao. So với đàm phán ngoại giao thì đặc điểm lớn nhất
của phương thức này là có sự tham gia của bên thứ 3 trong quá trình giải quyết
tranh chấp giữa các bên. Tuy nhiên, tính chất, vai trò và phạm vi hoạt động của
bên thứ 3 này hoàn toàn tùy thuộc vào nguyện vọng và ý chí của các bên tranh
chấp và bên thứ 3 cũng hết sức đa dạng, không chỉ giới hạn là nhà nước, tổ
chức quốc tế mà còn có thể là các cá nhân có uy tín quốc tế. Bên thứ 3 này
đóng vai trò trung tính, thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Trong quan hệ quốc tế ngày nay chúng ta chứng kiến vai trò trung gian
nổi bật của LHQ, các cơ quan của LHQ như TTK, người đứng đầu các tổ
chức chuyên môn và những cựu nguyên thủ quốc gia của các nước lớn, đặc
biệt là Mỹ, Anh, Na Uy…. Mọi người đều có thể nhắc đến tên của những nhà
trung gian nổi tiếng trên thế giới như cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Giáo
hoàng, các TTK LHQ (TTK LHQ Perez de Cuellar là trung gian trong vụ
tranh chấp đảo Falkland/Mavinas giữa Anh và Achentina; trong vụ tranh chấp
giữa Chilê và Achentina về kênh đào Keagle, Giáo hoàng đã đề nghị một
thành viên của Giáo hội, giáo chủ Antonio Samore làm người trung gian….).
d) Hòa giải (Conciliation):
Hòa giải được xác định là “Một biện pháp giải quyết tranh chấp quốc
tế bất kể tính chất của các tranh chấp này theo đó một Ủy ban được các bên
thành lập, trên cơ sở thường trực hoặc adhoc để giải quyết tranh chấp, tiến
hành việc xem xét một cách khách quan tranh chấp và cố gắng xác định các
điều khoản của một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận hoặc tạo điều
kiện cho các bên, với mục tiêu nhằm tìm kiếm một giải pháp, những sự trợ
giúp tương tự trong trường hợp được các bên đề nghị [8].

16


Hòa giải, về bản chất, kết hợp các yếu tố của cả 2 hình thức trung gian và

kết quả giải quyết tranh chấp bằng tòa án là một quyết định mang tính ràng

17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

buộc các bên tranh chấp. Tuy nhiên, khác với thủ tục trọng tài, khi tiến hành
giải quyết tranh chấp bằng tòa án, các bên tranh chấp phải tuân thủ quy trình
và quy tắc tố tụng đã được định sẵn của tòa.
Ngày nay, việc nhiều Tòa án quốc tế và khu vực được thành lập với
quyền tài phán chuyên biệt vừa là một bước phát triển mới của hệ thống giải
quyết tranh chấp quốc tế, đồng thời cũng tạo ra sự quan ngại cho cộng đồng
quốc tế về khả năng chồng lấn về mặt thẩm quyền cũng như việc hoạt động
của các tòa án này có thể dẫn đến việc phá vỡ sự thống nhất trong hệ thống
pháp luật quốc tế [44, Trg 673-684].
e) Bằng các tổ chức quốc tế khu vực hoặc toàn cầu:
Các tổ chức quốc tế và khu vực ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong quan hệ quốc tế với quy mô và phạm vi hoạt động ngày càng được mở
rộng, trong đó có cả lĩnh vực giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành
viên tổ chức. Nhiều tổ chức quốc tế đã được các quốc gia thành viên trao
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh giữa các quốc gia
thành viên như Tổ chức thống nhất Châu Phi (OAU), Tổ chức các nước Châu
Mỹ (OAS)….

cố gắng, song các quốc gia không thể đạt được một thỏa hiệp về vấn đề
chiều rộng lãnh hải do quan điểm của các nước tham dự Hội nghị còn quá
khác nhau. Một số nước ủng hộ lãnh hải rộng 3 hải lý (Mỹ, Trung Quốc,
Đức, Anh, Canađa…), trong khi đó một số nước đòi hỏi lãnh hải có chiều
rộng lớn hơn 3 hải lý (nhóm nước đòi lãnh hải rộng 4 hải lý gồm Phần Lan,
Na Uy, Thụy Điển, Ai-xơ-len; nhóm nước đòi lãnh hải rộng 6 hải lý có Cu
Ba, Latvia, Rumania, Braxin, Thổ Nhĩ Kỳ…; Bồ Đào Nha đòi lãnh hải rộng
10 hải lý) [5, Trg 255-257].
Sự thất bại của Hội nghị trong việc không thông qua Công ước về Lãnh
hải cũng đồng nghĩa với việc các quy định về giải quyết tranh chấp cũng bị bỏ
qua mặc dù chúng đã được chuẩn bị khá kỹ lưỡng bởi Ủy ban trù bị và được
các nước tham gia Hội nghị ủng hộ. Dự thảo Công ước về Lãnh hải cho phép
các bên tranh chấp có thể đưa tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp
dụng Công ước ra giải quyết bằng Pháp viện thường trực quốc tế khi tranh

19


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

chấp không được giải quyết bằng đàm phán hoặc bằng thủ tục trọng tài [5,
Trg 365]. Lý do của việc xây dựng nên các quy định này được cho là:
“Khi có tranh chấp, các bên trước tiên có quyền lựa chọn tòa án áp
dụng luật, nếu các bên không thỏa thuận được thì Pháp viện thường trực



Tuyên bố của Truman tạo đà cho các quốc gia ven biển yêu sách một
vùng biển mà trước đây hoàn toàn được coi là vùng biển quốc tế, rất nhiều
nước đã thông qua các điều luật tương tự, đơn phương yêu sách đối với các
vùng biển, thềm lục địa và nguồn tài nguyên ở khu vực này dẫn đến đòi hỏi
phải có các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh chế độ pháp lý của những
vùng biển mới này cũng như giải quyết các tranh chấp có liên quan.
Nhận thức tầm quan trọng của Luật biển đối với cộng đồng quốc tế và
đứng trước đòi hỏi của thực tiễn các quốc gia, ILC- cơ quan do Đại hội đồng
LHQ thành lập năm 1947 với chức năng chính là thúc đẩy việc pháp điển và
phát triển tiến bộ luật pháp quốc tế đã đưa đề mục Luật Biển vào chương trình
ưu tiên pháp điển hóa của ILC kể từ ngày mới được thành lập [42, Trg 156157]. Trong suốt các phiên họp của ILC, kể từ năm 1949 cho đến 1956, ILC
đã tập trung nhiều vào việc thảo luận, xem xét và dự thảo các điều ước quốc
tế về Luật Biển. Trên cơ sở đề nghị của ILC, ngày 27/2/1957, Đại hội đồng
LHQ đã ra nghị quyết số 1105(XI) quyết định
“Tổ chức hội nghị quốc tế để xem xét vấn đề Luật biển, không chỉ ở khía
cạnh pháp lý mà cả các khía cạnh khác như kỹ thuật, chính trị, kinh tế và sinh
học của vấn đề và nhấn mạnh mục tiêu của Hội nghị là thông một số công ước
quốc tế hoặc các văn kiện tương tự như vậy nếu Hội nghị thấy thích hợp”.
Với sự chuẩn bị của ILC, Hội nghị Luật biển lần thứ 1 đã được LHQ tổ
chức tại Geneva từ ngày 24/02-27/4/1958 với sự tham gia của đại diện 86
quốc gia và tổ chức quốc tế (trong đó có 79 quốc gia và 7 tổ chức quốc tế).
Tại Hội nghị này, mặc dù vấn đề chiều rộng lãnh hải vẫn còn chưa giải quyết
được nhưng Hội nghị đã thông qua được 4 Công ước về Luật biển đầu tiên,
tạo cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các hoạt động liên quan đến biển và đại
dương. Đó là các Công ước:
 Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp (có hiệu lực ngày 10/9/1964);
 Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10/6/1964);
 Công ước về biển cả (có hiệu lực ngày 30/9/1962); và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status