ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN THÔNG
SO SÁNH
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VN THÔNG
SO SNH
SO SÁNH
TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 36 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
2. PGS.TS. Lại Phi Hùng
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Cấu trúc luận án 8
Chương 1: Tổng quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1 Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 10
1.1.1. Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào 10
1.1.2. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào 14
2.2.1. Sự giống nhau 107
2.2.2. Sự khác nhau 112
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào 116
3.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau 116
3.1.1. Ngữ nghĩa 116
3.1.2. Kết cấu 125
3.1.3. Vần 150
3.1.4. Nhịp 161
3.1.5. Lối tỉnh lược 165
3.1.6. Lối nói 167
3.1.6.1. Các hình thức tu từ trong tục ngữ 167
3.1.6.2. Hiện tượng “nói ngược” trong tục ngữ Lào 178
3.1.7. Từ ngữ 181
3.1.7.1. Tục ngữ Việt sử dụng nhiều phương ngữ 181
3.1.7.2. Tục ngữ Việt ảnh hưởng của tiếng Hán và văn hoá Hán 183
3.1.7.3. Tục ngữ Lào sử dụng nhiều tiếng Pali - Sanskrit 184
3.2. Giải thích sự giống nhau và khác nhau 184
3.2.1. Sự giống nhau 185
3.2.2. Sự khác nhau 186
Kết luận 189
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 192
Tài liệu tham khảo 195
Phụ lục 213
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các vấn đề
được mô tả, phân tích và tổng kết trong luận án này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Nguyễn Văn Thông
thân thiết giữa hai dân tộc; về khoa học, không chỉ giúp cho những người
quan tâm hiểu biết thêm về tục ngữ mỗi nước, hiểu rõ hơn những nét đẹp
truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn
láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi
tiết của một bộ phận tục ngữ hai dân tộc. Qua đó, về lý luận, sẽ góp phần làm
rõ hơn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc; về thực tiễn, cũng góp phần quảng
bá nền văn hoá của mỗi nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng truyền
thống Việt Nam - Lào ngày càng phát triển.
1
Khái niệm xú pha xít của người Lào đồng nghĩa với khái niệm tục ngữ và khái niệm
thành ngữ của người Việt, tức là trong xú pha xít có hai bộ phận, một bộ phận là
thành ngữ, bộ phận còn lại là tục ngữ.
1
Qua mt s nm chin u, cụng tỏc Lo v nhiu nm dy ting
Vit cho ngi Lo, tỏc gi lun ỏn ó i in dó v thu thp c mt s
lng ỏng k nhng cõu tc ng Lo
2
, ó cm nhn c mt phn tõm
thc ca ngi Lo trờn mnh t thõn yờu ca h. Chỳng tụi cng ó cụng
b mt s cụng trỡnh khoa hc v bi vit nht nh v nú
3
.
V tc ng ca ngi Vit, trong gii nghiờn cu vn húa, vn hc dõn
gian, ó cú nhiu cụng trỡnh, bi vit vi mt lc lng khỏ hựng hu v ó
t c nhng thnh tu ỏng k. Cũn nghiờn cu so sỏnh tc ng Vit vi
tc ng Lo trờn c hai phng din ni dung v hỡnh thc l mt ti hon
ton mi. Do vy, vic so sỏnh tc ng Vit, Lo l mt vic lm cn thit.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
T xa xa, vn hc dõn gian Lo ó bt u phỏt trin vi nhng cõu
chuyn k, nhng bn trng ca, nhng cõu th Lo hựng trỏng m mt
gian Lào nói chung, tục ngữ Lào nói riêng vào chương trình giáo dục phổ
thông và đại học. Do vậy, đã có người sưu tầm, biên soạn tục ngữ Lào thành
những tập từ điển mini mỏng, gồm vài chục câu đến vài trăm câu. Cuốn Văn
học phổ thông [186] của nhiều tác giả Lào, giới thiệu một cách sơ lược tình
hình văn học Lào, trong đó có văn học dân gian dành cho học sinh hệ phổ
thông trung học Lào của Nxb Giáo dục Thể thao và Lễ nghi, xuất bản năm
1982; cuốn Câu thơ dân gian Lào [189] của Bò Xẻng Khăm, Xúc Xạ Vàng,
Bun Khiển, được biên soạn chung, gồm nhiều phần, trong đó phần tục ngữ
gồm một số câu mới được sưu tầm, biên soạn không theo chủ đề hoặc tiêu
chí nào; cuốn Tục ngữ cổ truyền Lào [187] của Ma hả Xi La Vị La Vông, 63
trang, gồm năm phần (xuất bản lần đầu năm 1996, in 2000 cuốn) do Đa Ra
Căn Nạ Nha giới thiệu, riêng phần tục ngữ có 450 câu (sách được tái bản lần
thứ ba, năm 2000, do Công Đươn Nẹt Thạ Vông giới thiệu, in 3000 cuốn)
bao gồm những câu tản mạn, không sắp xếp theo cách làm truyền thống;
cuốn Từ thông dụng và tục ngữ Lào [190] của Xi Ri Xu Văn Na Xỉ, xuất bản
3
năm 2000, 62 trang, gồm bốn phần, riêng phần tục ngữ Lào mới chỉ được
dịch và đối chiếu từ 235 câu tục ngữ Anh; cuốn Tục ngữ dân gian Lào [191]
của Đuông Chăn Văn Na Bu Pha xuất bản năm 2005 cũng được biên soạn
với cấu trúc tương tự,... Gần đây, Lăm Phon Xay Xa Na đã làm luận văn tốt
nghiệp đại học với đề tài Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá
ẩm thực, 1999 [137] mới chỉ so sánh tục ngữ hai nước ở một khía cạnh của
nội dung.
Ở Việt Nam, văn học dân gian Lào nói chung, tục ngữ Lào nói riêng
chưa được nhiều người Việt Nam biết đến, vì đội ngũ những người làm công
tác sưu tầm, nghiên cứu chúng ở Việt Nam chưa đông, việc giới thiệu chúng
với độc giả Việt Nam cũng mới được khởi động. Đinh Việt Anh [1], trong
chương 2 viết về văn học dân gian Lào, ngoài phần khái quát chung, tác giả
lần lượt khảo cứu từng thể loại, trong đó tục ngữ Lào được nghiên cứu một
cách thận trọng, khoa học nhưng còn sơ lược. Trong số không nhiều nhà
còn nhiều tác giả biên soạn, nghiên cứu, so sánh, đối chiếu tục ngữ Việt với
tục ngữ một số nước trên thế giới để thấy được cái hay, cái đẹp của tục ngữ
Việt. Trước hết, phải kể đến các tập từ điển, luận văn, bài viết so sánh, đối
chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ nước ngoài. Đó là các cuốn từ điển đa ngữ
như: Tục ngữ Nga - Anh- Pháp - Việt [7] của Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân;
Tục ngữ, thành ngữ trên thế giới [23] của Lê Du, Lê Hải; Tục ngữ các nước
trên thế giới [57] của Vương Trung Hiếu; Tục ngữ Anh - Pháp - Việt [99] của
Nguyễn Gia Liên; Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây [170] của
Nguyễn Văn Tố; Tục ngữ Anh - Pháp - Việt và một số thành ngữ danh ngôn
[178] của Lê Ngọc Tú; Từ điển thành ngữ tục ngữ Pháp - Anh - Việt [181]
của Thanh Vân, Nguyễn Duy Nhường, Lưu Hoài...Và sau đó là các cuốn từ
5
điển song ngữ như: Tục ngữ Nga - Việt [8] của Lê Đình Bích; Tục ngữ và câu
đố Đức - Việt [71] của Lương Văn Hồng; Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt -
Pháp [96] của Nguyễn Lân,... Ngoài một vài cuốn dành một lượng trang ít ỏi
tìm hiểu một cách sơ lược tục ngữ hoặc thành ngữ - tục ngữ trên một số khía
cạnh, còn phần lớn chỉ là những cuốn từ điển song ngữ hoặc đa ngữ mà chưa
có được những câu tục ngữ đối ứng, chưa phân tích đầy đủ các mặt nội dung
và hình thức của chúng. Các cuốn từ điển đối chiếu tục ngữ Việt với tục ngữ
một số nước đồng văn như: Từ điển thành ngữ - tục ngữ Hoa - Việt [79] của
Nguyễn Văn Khang; Tục ngữ Nhật - Việt [167] của Nguyễn Thị Hồng Thu;
Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa - Việt [175] của Lê Khánh Trường, Lê Việt
Anh... cũng được trình bày tương tự. Năm 2005, luận án tiến sĩ Ngữ văn với
đề tài Tìm hiểu văn hoá ứng xử Nhật Bản qua Kôtôwaza, có so sánh với tục
ngữ Việt Nam [168] của Nguyễn Thị Hồng Thu lấy tục ngữ Nhật làm đối
tượng nghiên cứu chủ yếu nhưng có so sánh với tục ngữ Việt Nam. Tuy còn
chưa thật nhiều nhưng những công trình, bài viết nói trên cũng đã góp thêm
cho mảng văn học so sánh ở Việt Nam một không khí học thuật mới.
Nhìn chung lại, khi nghiên cứu văn học dân gian Lào nói chung, tục
ngữ Lào nói riêng, các tác giả Việt Nam và Lào mới chỉ xem xét một cách
chênh lệch về tư liệu là rất lớn. Để khắc phục sự “khập khiễng” khó tránh
khỏi này, cách tốt nhất là, “khuôn” chúng lại ở những nội dung cơ bản và
hình thức chủ yếu, thông qua những tỷ lệ so sánh có tính chất tương đối.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thuật ngữ “tục ngữ Việt” mà chúng tôi đề cập đến trong luận án
đồng nghĩa với “tục ngữ cổ truyền” của người Việt (người Kinh);
7
- Khái niệm “tục ngữ Lào” trong luận án tương đương với “tục ngữ cổ
truyền” của người Lào Thay (Lào Lùm).
Như trên đã nói, nội dung phản ánh của tục ngữ Việt và tục ngữ Lào là
vô cùng phong phú, nghệ thuật của chúng cũng rất đa dạng. Do vậy, chúng
tôi không tìm hiểu, so sánh chúng theo “diện” mà theo “điểm”, ở một số nội
dung cơ bản và hình thức chủ yếu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ của một dân tộc là nhằm giải mã tâm thức dân
tộc đó thông qua hệ thống các tín hiệu ngôn ngữ trong bối cảnh văn hoá. Vì
vậy, trong luận án này, ngoài việc tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các tác
giả đi trước, chúng tôi không chỉ sử dụng những kiến thức chuyên ngành mà
còn tiếp cận đến những tri thức liên ngành và đa ngành từ nhân học, văn hoá,
khảo cổ học, dân tộc học, văn học, địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội…
Ngoài hai phương pháp khảo cứu chính là thống kê và so sánh, chúng
tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác là phương pháp điền dã,
phương pháp mô tả, phương pháp phân tích tổng hợp cùng một số thao tác
cụ thể khác.
5. Cấu trúc luận án
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lào.
Chương 2: So sánh nội dung tục ngữ Việt và tục ngữ Lào.
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào.
Kết luận
mở đầu cho các dòng họ vua Lào được phản ánh trong truyền thuyết Khún
Bu Lôm, Khún Bu Lo. Theo dã sử, Khún Bu Lôm từ phía Bắc xuống giành
quyền làm chủ đầu tiên vùng Mường Xoa (Luông Pha Băng ngày nay), vốn
là nơi có cuộc gặp gỡ lịch sử tất yếu giữa người Khạ (Lào Thơng) và người
Lào - Thay (Lào Lùm) đến đây sinh sống. “Nị than” (truyền thuyết) Khún Bu
Lôm, Khún Bu Lo cũng tương tự như huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ
của người Việt. Người Lào coi Khún Bu Lôm là thánh Tổ của dân tộc Lào,
người mở đầu cho lịch sử Lào từ thế kỷ thứ VIII mà Xiêng Đôông Xiêng
Thoòng (Luông Pha Băng) được chọn làm kinh đô.
Người thứ hai được ghi danh trong lịch sử Lào là Chậu Phà Ngừm
(1316 - 1371). Năm 1353, với uy quyền và tài năng của mình, Phà Ngừm đã
lên ngôi vua, lấy Luông Pha Băng làm kinh đô. Năm 1356 ông đem quân
đánh dẹp các mường ở phía Bắc và quay về Xiêng Đôông Xiêng Thoòng
(Kinh đô Luông Pha Băng) rồi tiếp tục hành quân tiến về Viêng Chăn, đánh
10
dẹp các mường ở đó và thống nhất quốc gia Lạn Xạng làm một vào năm
1357. Phà Ngừm đã thống nhất quốc gia Lạn Xạng và tổ chức lễ mừng chiến
thắng khai sinh quốc gia Lạn Xạng tại Viêng Chăn. Trong buổi lễ long trọng
đó, ngoài việc tuyên dương công trạng quân đội, tổ chức lại bộ máy chỉ huy
cai trị hành chính theo các mường, Phà Ngừm đã có một “Lời huấn thị” lịch
sử, còn được ghi trong chính sử mà người Lào coi như là bản hiến pháp đầu
tiên của mình.
Người thứ ba có ảnh hưởng sâu sắc đến đất nước Lào là vua Sệt Tha
Thi Rạt (1534 -1572). Phải đến năm 1553, nghĩa là 200 năm sau, vì lý do địa
lý chính trị đối với các vương hầu phía Nam và để tránh sự dòm ngó đặc biệt
của quân Miến Điện, quốc vương Sệt Tha Thi Rạt mới là người tiếp tục thực
thi những ý tưởng của Phà Ngừm, thiên đô từ Luông Pha Băng xuống Viêng
Chăn (cách 210 km), mang theo tượng Phật bằng ngọc bích (cao 0,70 cm),
cho xây “Vắt Pha kẹo” (Chùa ngọc) để an vị tượng Phật đó, đồng thời dựng
“Thạt Luổng” (Tháp lớn) năm 1566, lưu giữ xá lợi là một sợ tóc (hay một
mươi ba nhà sư, ba nhà bác học mang theo tượng Phật, kinh sách, cây bồ đề
sang Lào. Cùng đi còn có các thợ lành nghề về rèn, nấu đồng, đúc tượng,
kim hoàn. Vua Khơme còn tặng vua Lào một số nhạc cụ. Như vậy, tuy là
gián tiếp nhưng Lào đã tiếp nhận mạnh mẽ văn hoá Ấn, gần gũi về văn hoá
với các nước láng giềng phía Tây và Đông Nam Á như Thái Lan, Miến Điện,
Khơme. Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hoá của các nước này tới Lào hãy còn
hạn hẹp, bởi văn hoá Ấn - Phật lúc này vẫn còn do những nhà sư và những
người từ Khơme mang đến nên chỉ loanh quanh ở kinh đô mà thôi. Mặt khác,
truyền thống Mường Xoa tuy được nâng lên thành truyền thống toàn quốc
nhưng chưa kịp được hội nhập vào nền văn hoá chung. Văn hoá Ấn - Phật
12
tuy thế, cũng còn xa lạ và chưa gắn kết được với truyền thống dân gian bản
địa.
Từ thuở Phà Ngừm lập quốc gia Lạn Xạng thế kỷ XIV (1357), các tộc
người từ các mường dần quy tụ lại, hướng về Mường Xoa, tức kinh đô
Luông Pha Băng. Từ đó, mỗi dân tộc và bộ tộc đã từng bước xây dựng cuộc
sống văn hoá riêng của mình, gia nhập vào đại gia đình các bộ tộc Lào: từ
cách thức dựng nhà ở (nhà sàn), việc xây dựng các hệ thống mương phai đưa
dẫn nước vào đồng ruộng đến những lời ca, điệu múa, tiếng hát, những đám
tang, đám cưới, lễ hội truyền thống đều mang những dáng vẻ riêng.
Vào giữa thế kỷ XIV, sau khi lên ngôi (1353), Phà Ngừm đứng ra
thống nhất các mường cát cứ, chia rẽ trước đây thành quốc gia Lạn Xạng
thống nhất để hình thành một nhà nước tập quyền (trên cơ sở một nền nông
nghiệp lúa nước cổ truyền) có cơ cấu ruộng rẫy với một hệ thống thuỷ lợi
(mương - phai - lái- lịn) mềm dẻo và thích nghi với điều kiện tự nhiên, khác
với hệ thống mương phai của Đại Việt (kết hợp với hệ thống đê điều đồ sộ ở
miền Bắc và kênh rạch chằng chịt ở miền Nam).
Như vậy, sự kiện Phà Ngừm lên ngôi (năm 1353) và lập ra quốc gia
Lạn Xạng thống nhất (năm 1357) đã mở ra một thời kỳ mới của lịch sử quốc
gia dân tộc và lịch sử văn hoá văn học Lào. Có thể coi đây là một cột mốc
truyền truyền thuyết Quả bầu mẹ xa xưa về nguồn cội của mình. Trời làm
nạn hồng thuỷ khủng khiếp, từ trong quả bầu có hàng loạt người chui ra.
Những ai sang phía Đông thì trở thành người Việt, sang phía Tây trở thành
người Miến, xuống phía Nam thành người Khơme, còn ở lại đó là người
Thái, người Lào, người Khạ (Lào Thơng).
14
Theo Truyện cổ Ba Na (Nxb Văn học, 1965, tr.2), chàng Léo (Lào) đã
vượt Trường Sơn sang Việt Nam phối hợp với chàng Ngọc để tiêu diệt xà
tinh. Truyện Ca Phúc (Truyện dân gian Lào, Nxb Văn hoá, 1962) của người
Lào lại khắc hoạ hình tượng một chàng trai Việt, vốn cùng quê hương của
chàng Ngọc sang Lào tìm diệt quỷ quái Thao Xun. Các câu chuyện trên đã
ngợi ca tình nghĩa anh em Việt - Lào qua những hình tượng tiêu biểu của văn
học dân gian. Như vậy, văn học dân gian cũng có thể được coi là nguồn tư
liệu quan trọng và phong phú trong việc phản ánh tình đoàn kết Việt Nam -
Lào.
Tuy nhiên, cũng thật khó khăn khi đi tìm sự kiện lịch sử và thời điểm
đầu tiên ghi nhận mối quan hệ Việt - Lào. Như trên đã nói, thư tịch ghi chép
được là rất muộn so với sự thật lịch sử. Nhiều sự kiện lịch sử qua đi rất lâu
sau này mới được ghi chép lại.
Qua các bản dịch sau này về Dư địa chí của Nguyễn Trãi (TK XV),
Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (TK
XVIII) và một số nguồn sử liệu khác, có thể thấy quan hệ buôn bán, giao lưu
giữa người Lào và người Việt có từ rất sớm. Sách Dư địa chí đã so sánh y
phục của những tộc người sống vùng biên giới Cao Lạng (Việt Nam) và
Quảng Tây (Trung Quốc) “giống như người Lào”; Vân đài loại ngữ cho
rằng, gỗ bạch đàn của Lào đã có mặt trên thị trường Việt Nam từ thời Trần;
người Lào thường mang trâu bò sang khu vực phía Tây Nghệ Tĩnh để bán;
Nguyễn Trãi đã kể tên những mặt hàng khá phong phú và nổi tiếng của Lào
như tê giác, voi, sáp trắng, vải chiên, chiêng đồng tốt nhất cũng có mặt ở
Việt Nam. Chiêng đồng giống như trống đồng của Việt Nam, được người
chống quân Nguyên dưới thời Trần của Việt Nam cũng dựa vào tuyến phòng
16
thủ phía Tây của Lào. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần, đất nước bị nhà
Minh xâm lược, nhiều nhà yêu nước cũng chạy sang đất Lào lánh nạn.
Ngay sau khi lên ngôi (1353) và lập ra quốc gia Lạn Xạng (1357), vua
Phà Ngừm (1316- 1371) đã gửi tặng phẩm đến vua Đại Việt để mở đầu cho
sự xác lập mối bang giao giữa hai nước. Lê Thái Tổ đã cử nhiều tướng lĩnh,
nghĩa quân thông thạo tiếng Lào sang Lào mua sắm voi, ngựa, lương thực để
tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ
của các tù trưởng và nhân dân Lào vùng biên giới truy đuổi quân Minh trốn
chạy sang Lào. Vua Lào còn sai tù trưởng Mãn Sát cùng nghĩa quân và voi
chiến sang giúp Lê Lợi chống lại quân Minh. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà
Lê, Nguyễn Kim cùng nhiều triều thần khác đã chạy sang trú ngụ trên đất
Lào (Sầm Nưa).
Đến thời vua Sệt Tha Thi Rạt (1534 - 1572) mối quan hệ hữu hảo giữa
Lạn Xạng với Đại Việt vẫn tiếp tục được duy trì thông qua cuộc hôn nhân
giữa nhà vua với công chúa Ngọc Hoa (con vua Lê Anh Tôn) năm 1564.
Nhờ chính sách đối ngoại khôn khéo này, Vương quốc Lạn Xạng trong suốt
nửa sau thế kỷ XVI đã ba lần đánh bại quân A Vạ (Miến Điện) xâm lược.
Sang thế kỷ XVII, dưới triều vua Sou Ri Na Vông Xa (1637 - 1694),
quan hệ Lạn Xạng với Đại Việt không ngừng được củng cố. Khi nhà vua
băng hà, Lạn Xạng xảy ra rối ren, cháu nội của nhà vua đang cư trú ở Việt
Nam đã đề nghị vua Đại Việt giúp đỡ, kéo về Viêng Chăn ổn định trật tự.
Đến 1713, Lạn Xạng bị chia cắt thành ba mường lớn thì nhân dân đã vùng
dậy chống lại áp bức xã hội và liên kết với Đại Việt để tăng cường sức mạnh.
Nhưng sự kiện quan trọng nhất trong quan hệ Việt - Lào đầu thế kỷ
XIX phải nói đến những hoạt động của nhà yêu nước Chậu A Nụ (Chiêu A
Nỗ) trên đất Việt Nam gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Xiêm của
nhân dân Lào. Ngay sau khi lên ngôi (1805), Chậu A Nụ, quốc vương Viêng
17
102º8’-109º27’ kinh Đông). Lào có đường biên giới chung với Trung Quốc
(505 km) và Myanma (236 km) ở phía Tây Bắc, với Campuchia (435 km) ở
phía Đông Nam, với Việt Nam (2130 km) ở phía Đông, với Thái Lan (1835
km) ở phía Tây. Còn Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc về phía Bắc (1281
km), với Campuchia về phía Tây Nam (1120 km), với Vịnh Thái Lan về phía
Nam, với Vịnh Bắc Bộ và biển Đông về phía Đông (3260 km), với Lào về
phía Tây (2130 km). Diện tích tự nhiên của Việt Nam lớn gần gấp rưỡi Lào
(Việt Nam: 329.600 km
2
, Lào: 236.800 km
2
). Địa hình hai nước rất đa dạng,
đều có đồng bằng, rừng núi và cao nguyên (rừng núi và cao nguyên chiếm
đến 3/4 diện tích lãnh thổ mỗi nước).
Theo sự phân chia của các nhà dân tộc học thì Đông Nam Á có năm
cảnh quan:
- Một là, cảnh quan sườn núi cao với mô hình canh tác rẫy dốc;
- Hai là, cảnh quan cao nguyên với mô hình canh tác rẫy bằng;
- Ba là, cảnh quan thung lũng với mô hình canh tác ruộng - rẫy;
- Bốn là, cảnh quan đồng bằng châu thổ với mô hình canh tác ruộng -
vườn;
- Năm là, cảnh quan duyên hải và đảo với mô hình kết hợp và khai
thác biển.
Ở Lào có ba cảnh quan đầu, còn Việt Nam có đủ cả năm cảnh quan nói
trên. Nói cách khác, Việt Nam và Lào cùng có chung ba cảnh quan đầu
nhưng khác nhau là Lào không có hai cảnh quan cuối. Mô hình tiêu biểu của
người Lào là mô hình thung lũng với những cánh đồng dọc theo sông Mê
Kông như: Viêng Chăn, Luông Nặm Thà, Chăm Pa Xắc, Khăm Muộn. Mô
19