Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế dưới góc độ so sánh pháp luật việt nam và pháp luật lào - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHILAVANH PHETVIENGXAY

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG
MẠI QUỐC TẾ DƢỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHILAVANH PHETVIENGXAY

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG
MẠI QUỐC TẾ DƢỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế


GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

TỐT NGHIỆP

TS. NGUYỄN MINH HẰNG

PHILAVANH PHETVIENGXAY


Trang
LỜI NÓI ĐẦU

1
CHƢƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH

5

CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng thƣơng mại quốc tế

5

1.1.1. Khái niệm hợp đồng thƣơng mại quốc tế

5

1.1.2. Đặc điểm hợp đồng thƣơng mại quốc tế


29

CHƢƠNG 2
SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NƢỚC CỘNG
HOÀ XHCN VIỆT NAM VÀ NƢỚC CỘNG HOÀ DCND LÀO

34


2.1. Các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng thƣơng lƣợng
2.2. Các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng hoà giải
2.2.1. Những quy định tƣơng đồng giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về
giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng hoà giải
2.2.2. Những quy định khác biệt giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về giải
quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng hoà giải
2.3. Các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng trọng tài
2.3.1. Những quy định tƣơng đồng giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về
giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng trọng tài
2.3.2. Những khác biệt trong các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp hợp
đồng thƣơng mại quốc tế bằng trọng tài
2.4. Các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng toà án
2.4.1. Những quy định tƣơng đồng giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về
giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng toà án
2.4.2. Những quy định khác biệt giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về giải

73


TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở LÀO
3.1. Những yêu c u cải cách tƣ pháp đối với việc hoàn thiện pháp luật về giải
quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế ở Cộng hoà DCND Lào
3.2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế
3.2.1. Nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế ở Lào

73

83

83

3.2.2. Nhóm giải pháp tổ chức và đảm bảo thực thi pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc

87

tế ở Lào
KẾT LU N
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

89


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

: Kinh doanh thƣơng mại

9. HĐBT

: Hội đồng bộ trƣởng

10. CEDR

: Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế Lào

11. OEDR

: Văn phòng giải quyết tranh chấp kinh tế Lào

12. TTDS

: Tố tụng dân sự


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ở Lào, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói
chung và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế nói riêng là
một nhu c u khách quan nhằm đáp ứng yêu c u trong quá trình giải quyết các vụ tranh
chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài đang ngày càng gia tăng cả về số lƣợng cũng nhƣ
tính chất phức tạp của từng loại vụ việc. Những tranh chấp đó phát sinh do không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các thoả thuận trong hợp đồng thƣơng mại quốc tế bao
gồm các hợp đồng: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; tƣ

của Nhà nƣớc Lào, cũng nhƣ để kh ng định những thành công và chỉ ra những nhƣợc
điểm, bất cập nhằm khắc phục, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này. Điều này có tác dụng
đảm bảo cho công tác xét x của các Tòa án Nhân dân (TAND) đƣợc khách quan, toàn
diện và chính xác.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế là một vấn đề
rộng và luôn là vấn đề mang tính thời sự. Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng
mại quốc tế đƣợc đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học:
Ở Việt Nam: Các học giả, nhà nghiên cứu luật học đã có một số công trình nghiên
cứu có giá trị nhƣ: “ iải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế tại trọng tài Việt Nam” của
Tr n Minh Ngọc, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2004; “Pháp luật
giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hình thức trọng tài” của Phạm Thị Hƣơng Thuỷ,
luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2005; Trọng tài và các phƣơng thức
giải quyết tranh chấp đƣợc lựa chọn ( eneva 2001) Dịch và Hiệu đính bởi V AC năm
2008; “ iải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Tr n Minh Ngọc, luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội,
năm 2009; “Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - Thƣơng mại của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam

” của Tr n Thị Thu Trà, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội,

năm 2011; “Pháp luật Việt Nam về thoả thuận trọng tài thƣơng mại trong giải quyết tranh
chấp thƣơng mại” của Tống Thị Lan Hƣơng, luận văn thạc sĩ luật học khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2011…
Ở Lào, các học giả, nhà khoa học nghiên cứu pháp lý cũng có những công trình
nghiên cứu có giá trị tham khảo. Trong đó, đáng chú ý có Luận văn thạc sĩ luật học của
Xyvanh Vilichisay năm 2007: “Pháp luật về trọng tài thƣơng mại trong hoạt động giải
quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại quốc tế - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” –
trƣờng Đại học Quốc


thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế ở Cộng hòa DCND
Lào.
6. Những đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa đƣợc những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh
chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế ở Việt Nam và Lào;


4

- Luận văn đã nghiên cứu và so sánh một cách đ y đủ, có hệ thống các quy định
pháp luật hiện hành của Việt Nam và Lào về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại
quốc tế;
- Luận văn đã trình bày đƣợc những nguyên tắc, phƣơng hƣớng và các giải pháp
cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng thƣơng mại quốc tế ở Cộng hòa DCND Lào.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời nói đ u, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết
cấu gồm ba chƣơng là :
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng
thƣơng mại quốc tế
Chƣơng 2. So sánh quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
thƣơng mại quốc tế của nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam và nƣớc Cộng hoà DCND Lào.
Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế ở Lào


5

CHƢƠN 1
NHỮN VẤN ĐỀ LÝ LU N VỀ PHÁP LU T

Công ƣớc này chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng mua bán và các quyền và nghĩa vụ của
ngƣời bán và ngƣời mua phát sinh từ hợp đồng đó (Điều 4, Công ƣớc C S ). Trong khi

1

Nguy n Xuân Công (2009), “Hợp đồng Thƣơng mại Quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp c n quan tâm”,
Cổng thông tin điện t Bộ Tƣ pháp Việt Nam, tại địa chỉ: ngày truy cập 08 tháng 07 năm 2017.


6

đó, Hợp đồng thƣơng mại quốc tế có nội hàm rất rộng bao gồm nhiều loại, ch ng hạn nhƣ
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao
công nghệ...
Trong giáo trình Luật thƣơng mại quốc tế - Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội có
đƣa ra quan điểm về định nghĩa “Hợp đ ng mua bán hàng hoá quốc tế”. Theo đ , Hợp
đ ng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí gi a các bên trong quan hệ
mua bán hàng hoá c yếu tố nước ngoài mà thông qua đ , thiết lập, thay đổi hoặc chấm
d t các quyền và nghĩa vụ pháp lý gi a các ch thể đ với nhau”2
iáo trình Luật Tƣ pháp quốc tế - Đại học Luật Hà Nội đƣa ra định nghĩa về khái
niệm hợp đồng mua bán ngoại thƣơng: “Hợp đ ng mua bán ngoại thương là hợp đ ng
mua bán c yếu tố nước ngoài”3.
Nhƣ vậy, mặc dù có quan điểm khác nhau về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
nhƣng tựu chung lại chúng đều giống nhau ở chỗ yếu tố nƣớc ngoài của hợp đồng là yếu
tố chủ thể của hợp đồng. Chủ thể của hợp đồng là các bên có trụ sở thƣơng mại ở các
nƣớc khác nhau. Nhƣng các khái niệm này đều chỉ mới đề cập đến hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế mà chƣa làm rõ đƣợc bản chất và đƣa ra định nghĩa thống nhất chung
của hợp đồng thƣơng mại quốc tế. Do đó, để làm rõ về khái niệm này ta phải phân tích
nghĩa của hai thuật ngữ pháp lý : hợp đồng, thƣơng mại quốc tế. Cụ thể:
Từ điển Luật học định nghĩa: “hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về

Ngày nay, khi tự do hoá thƣơng mại trở thành xu thế của thời đại, các hoạt động
thƣơng mại đã vƣợt ra khỏi biên giới một quốc gia với các hoạt động thƣơng mại đƣợc
thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ thƣơng mại hàng hoá, thƣơng mại dịch vụ,
thƣơng mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thƣơng mại trong lĩnh vực đ u tƣ… 7 Các
hoạt động này đòi hỏi phải s dụng các công cụ pháp lý điều chỉnh khác nhau, đó là
những hợp đồng thƣơng mại quốc tế bao gồm: Hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng
cung cấp các loại dịch vụ, các loại hợp đồng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng
vận chuyển hàng hoá…
Các loại hợp đồng thƣơng mại quốc tế khác nhau có nội dung không giống nhau
và về mặt nguyên tắc, hợp đồng thƣơng mại quốc tế có nội dung tƣơng tự với hợp đồng
thƣơng mại nội địa cùng loại. Ví dụ: hợp đồng thuê tài chính quốc tế có nội dung tƣơng
tự với nội dung của hợp đồng thuê tài chính trong nƣớc; hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế có nội dung tƣơng tự hợp đồng mua bán hàng hoá nội địa theo quy định của pháp
luật quốc gia (Luật Dân sự, luật thƣơng mại)… Từ đó có thể thấy rằng, mặc dù có nội
dung giống nhau nhƣng tất cả các hợp đồng thƣơng mại quốc tế khác với hợp đồng
thƣơng mại nội địa ở tính quốc tế hay nói cách khác là yếu tố nƣớc ngoài.
Do đó để phân biệt hợp đồng thƣơng mại nội địa (trong nƣớc) với hợp đồng
thƣơng mại quốc tế không có cách nào khác – xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng
thƣơng mại đó. Một trong những cách xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng thƣơng mại
quốc tế là dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thƣơng nhân hay tính quốc gia của thƣơng
nhân.
6

Xem Chú thích của Điều 1 Luật Mẫu về Trọng tài thƣơng mại quốc tế của Liên Hợp quốc ngày 21 tháng 06 năm
1985.
7
Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (2005), Giáo trình Luật Hợp đ ng thương mại quốc tế,
NXB. Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, trang.5.



phạm xung đột luật áp dụng cho hợp đồng là luật của quốc gia mà ngƣời bán có quốc
tịch. Vậy trong trƣờng hợp này, luật của quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng, luật của Pháp hay
luật của Anh, nếu xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng thƣơng mại quốc tế dựa trên dấu


9

hiệu quốc tịch của thƣơng nhân. Rõ ràng, trong trƣờng hợp này chúng ta sẽ khó có thể
xác định luật áp dụng cho hợp đồng khi không có sự thoả thuận của các bên về luật áp
dụng.
Do đó, theo quan điểm của tác giả, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng thƣơng
mại quốc tế dựa trên cơ sở dấu hiệu lãnh thổ, hay địa điểm hoạt động thƣơng mại của
thƣơng nhân nhƣ ở Công ƣớc Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
(C S ). C S

đã khắc phục đƣợc hạn chế trong việc xác định trƣờng hợp khi các bên có

nhiều trụ sở thƣơng mại. Điều 10, C S

quy định, trong trƣờng hợp nếu một trong các

bên hay tất cả các bên có nhiều hơn một trụ sở thƣơng mại thì c n phải chú ý đến trụ sở
nào có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng xuất phát từ
những hoàn cảnh mà các bên đã biết trƣớc và đã có dự liệu trƣớc khi hay trong thời điểm
ký kết hợp đồng, còn nếu các bên không có trụ sở thƣơng mại thì c n phải xác định địa
điểm thƣờng trú của họ.
Theo pháp luật Việt Nam, các quy định về hợp đồng không đƣợc thể hiện một
cách tập trung thành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất, mà mỗi loại hợp đồng đƣợc
quy định trong một văn bản nhƣ: hợp đồng dân sự trong Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm
2015, hợp đồng lao động trong Bộ Luật Lao động Việt Nam, hợp đồng thƣơng mại trong

thương nhân trong quá trình kinh doanh thương mại hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên
giới của hai hay nhiều quốc gia không phân biệt quốc tịch của các bên tham gia hợp
đồng.
Ở các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc theo truyền thống châu Âu lục địa
(dòng họ civil law) nhƣ Pháp, Đức và các nƣớc chịu ảnh hƣởng của dòng họ civil law này
(ví dụ: Bỉ, Tây Ban Nha, một số nƣớc ở châu Mỹ Latin…) thì họ cho rằng mọi giao dịch
gắn liền với hoạt động thƣơng mại của thƣơng nhân đƣợc coi là giao dịch thƣơng mại,
còn hợp đồng thƣơng mại thực chất chỉ là dạng của giao dịch thƣơng mại khi có sự thống
nhất ý chí của hai hay nhiều bên mà thôi. Hợp đồng thƣơng mại và giao dịch thƣơng mại
chịu sự điều chỉnh riêng của pháp luật thƣơng mại. Ví dụ: Ở Đức, Pháp, Ba Lan, Séc,
Nhật Bản thì các quy định về vấn đề này thƣờng đƣợc đƣa vào Bộ luật thƣơng mại; còn ở
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thì chúng nằm ở Luật thƣơng mại của những nƣớc này;
riêng đối với các nƣớc thành viên Liên minh châu Âu (EU) còn áp dụng những quy định
chung của luật châu Âu điều chỉnh các quan hệ hợp đồng nhƣ Những nguyên tắc của luật
hợp đồng châu Âu năm 19899 .
Từ những sự phân tích trên, có thể thấy rằng, việc chƣa có một khái niệm chung
thống nhất về khái niệm hợp đồng thƣơng mại quốc tế là nguyên nhân chính làm cho khái
niệm này đƣợc hiểu khác nhau. Do đó, việc làm rõ khái niệm “hợp đồng thƣơng mại quốc
tế” có ý nghĩa pháp lý và thực ti n hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác định
8

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Viêng Chăn, Giáo trình Luật Kinh doanh Lào, NXB. Chính trị quốc gia Lào,
trang.114.
9
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Viêng Chăn, Giáo trình Luật Kinh doanh Lào, NXB. Chính trị quốc gia Lào,
trang.116.


11



Xem Luật áp dụng trong hợp đồng thƣơng mại quốc tế, tại địa chỉ: ngày truy cập ngày 08 tháng 07 năm 2017.


12

Thứ hai, Hợp đồng thƣơng mại quốc tế có thể xác lập bằng văn bản, bằng lời nói
hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên đối với những trƣờng hợp bắt buộc bằng văn bản thì hợp
đồng thƣơng mại phải đƣợc xác lập bằng văn bản. Thông thƣờng các hợp đồng thƣơng
mại đƣợc xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và d giải quyết khi xảy ra tranh
chấp, nhƣng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán c n di n ra nhanh chóng thì
các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể. Nhƣ vậy việc
xác định hình thức của hợp đồng nhƣ thế nào là tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui định phải bằng hình thức văn bản
thì các bên phải xác lập hợp đồng bằng văn bản, ch ng hạn nhƣ: hợp đồng cung ứng dịch
vụ (Điều 74 LTM Việt Nam năm 2005), hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ( Điều 285
LTM Việt Nam năm 2005)…Điều 27 Luật Thƣơng mại Việt Nam 2005 cũng yêu c u hợp
đồng mua bán hàng hóa phải đƣợc lập dƣới hình thức văn bản hoặc hình thức pháp lý
tƣơng đƣơng văn bản.
Thứ ba, đối tƣợng của hợp đồng thƣơng mại quốc tế có thể là hàng hóa (động sản
hoặc bất động sản), dịch vụ,…phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thƣơng mại
nhƣng phải không thuộc trƣờng hợp danh mục hàng hóa bị cấm. Chính vì hoạt động
thƣơng mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thƣơng mại và các
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho nên đối tƣợng của họp đồng thƣơng mại không chỉ
dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh
lợi khác.
Thứ tƣ, về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán thƣờng là nội tệ hoặc
có thể là ngoại tệ đối với các bên. Ví dụ: hợp đồng đƣợc giao kết giữa ngƣời bán Việt
Nam và ngƣời mua Hà Lan, hai bên thoả thuận s dụng đồng euro làm đồng tiền thanh
toán. Lúc này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía ngƣời bán Việt Nam nhƣng lại là nội tệ

thƣơng mại. Do đó, để tìm hiểu về khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại
quốc tế, trƣớc tiên phải hiểu đƣợc khái niệm về tranh chấp thƣơng mại
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi
có mâu thuẫn, bất đồng, thƣờng là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên”
Tranh chấp KDTM đƣợc hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và
thƣơng mại, cụ thể:Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
(LDN 2014): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình, đ u tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi”. Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thƣơng mại
năm 2005 (LTM 2005):“ Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đ u tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Nhƣ vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thƣơng mại nêu trên có cùng nội hàm về
việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đ u tƣ, kinh doanh, cung ứng các dịch


14

vụ...nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã đƣợc BLTTDS Việt Nam 2015
gọi chung là hoạt động kinh doanh, thƣơng mại và đƣa vào cùng một quy trình khi giải
quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu thuẫn
phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngƣợc nhau trong
hoạt động kinh doanh, đ u tƣ, cung ứng dịch vụ...gọi chung là trong hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra đƣợc bản chất của
tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các
hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác
nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể điều hòa thì tranh chấp
mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thƣơng mại thì giáo trình Luật

Tóm lại, Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế được hiểu là quá
trình phân xử nhằm giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và
nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được ký kết bởi các thương nhân có trụ sở thương mại
nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp
của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với
bên bị vi phạm. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế được tiến
hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm
phạm và có yêu cầu được giải quyết. Kết quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên
được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dung hòa thông
qua các phán quyết của người đứng ra giải quyết tranh chấp
1.2.2. Đặc điểm c a giải quyết tranh chấp hợp đ ng thương mại quốc tế
- Khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự lựa chọn phƣơng thức giải quyết tranh
chấp của mình bằng các con đƣờng khác nhau. Trên thực tế tranh chấp thƣơng mại có thể
đƣợc giải quyết bằng tòa án hoặc các phƣơng thức khác ngoài tòa án. Pháp luật giải quyết
tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế quy định đối với các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế nói trên về trình tự, thủ tục và các nội dung khác
đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp KDTM theo quy trình, đảm bảo tính pháp lý.
- Đối với các phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế nhƣ
hòa giải, thƣơng lƣợng chỉ c n các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật các quốc gia có
quy định khác nhau. các phƣơng thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình
tự thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hòa giải hoặc thƣơng lƣợng trƣớc khi buộc
phải tiến hành các thủ tục khác. Trong khi pháp luật Lào đã quy định về thủ tục giải quyết
tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế bằng phƣơng thức hoà giải
-Trong trƣờng hợp lựa chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp hợp đồng
thƣơng mại quốc tế thì các bên phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đƣợc quy định theo pháp luật.


16


Bản chất của thƣơng lƣợng đƣợc thể hiện qua các nội dung sau:


17

Một là, phƣơng thức thƣơng lƣợng đƣợc thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông
qua việc các bên tranh chấp tự gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết những bất
đồng phát sinh mà không c n có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán
quyết.
Hai là, quá trình thƣơng lƣơng của các bên cung không chịu sự ràng buộc của bất
kỳ nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tinh khuôn mẫu nào của pháp luật về
thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận là một
phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại mà không có bất kỳ quy đinh nào chi phối
giải quyết tranh chấp KDTM bằng phƣơng thức thƣơng lƣợng.
Ba là, việc thực thi kết quả thƣơng lƣợng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối
với thoả thuận của các bên trong quá trình thƣơng lƣợng.
Thƣơng lƣợng đòi hỏi trƣớc hết các bên phải có thiện chí, trung thực, hợp tác và
phải có đ y đủ những kiến thức, am hiểu về chuyên môn và pháp lý. Thƣơng lƣợng thật
sự đã trở thành quá trình trao đổi, bày tỏ ý chí giữa các bên để tìm giải pháp thích hợp
nhất.
Do vậy, trong thƣơng lƣợng, các bên tiến hành bàn bạc, trao đổi ý kiển, thoả thuận
thông qua “hành vi giao dịch” c n phải đảm bảo các điều kiện pháp lý đặt ra. Đó là: chế
định đại diện, chế định uỷ quyền, giao dịch dân sự, năng lực hành vi…
iải quyết tranh chấp bằng thƣơng lƣợng thực chất đƣợc thực hiện bởi cơ chế nội bộ (cơ
chế tự giải quyết) và hoàn toàn xuất phát từ cơ chế tự giải quyết của các bên tranh chấp
mà không có sự can thiệp củ bất kỳ cơ quan nhà nƣớc hoặc của bất kỳ ngƣời thứ ba nào.
iải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng phƣơng thức thƣơng lƣợng là sự thể hiện quyền
tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp
và thỏa hiệp với nhau theo trình tự thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status