Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Thoa Giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại quốc tế bằng tòa án
Luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2009
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
1.3.2.
Vai trò của phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương
mại quốc tế bằng Tòa án
30
1.3.3.
Cơ sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương
mại quốc tế bằng Tòa án
32
Chương 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
QUỐC TẾ BẰNG TÒA ÁN THEO CÁC CÔNG ƢỚC
QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
38
2.1.
Thẩm quyền của Tòa án giải quyết các tranh chấp hợp đồng
thương mại quốc tế
38
2.1.1.
Theo quy định của các công ước quốc tế
38
2.1.2.
Theo quy định của pháp luật một số quốc gia
43
2.2.
Luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
quốc tế bằng tòa án
58
2.2.1.
Các Công ước quốc tế
58
2.4.1.
Vấn đề cược án phí
82
2.4.2.
Vấn đề ủy thác tư pháp
84
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TÒA
ÁN VIỆT NAM
87
3.1.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế
bằng tòa án tại Việt Nam
87
3.1.1.
Tình hình thụ lý, giải quyết án kinh doanh thương mại ở Tòa án
87
3.1.2.
Những nhận xét chung về thực trạng thụ lý, giải quyết án kinh
doanh thương mại ở Tòa án
91
3.2.
Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực
giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng Tòa
án Việt Nam
102
3.2.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng
cao năng lực giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng thương
thương mại quốc tế từ năm 2004 đến 200
90
Danh mục các biểu đồ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
3.1
Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án hiện tại khi xác định thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại
94
3.2
Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân được hoàn
thiện
107 1
MỞ ĐẦU
những giải pháp thích hợp cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định
của pháp luật về tổ chức và nâng cao chất lượng xét xử loại án tranh chấp
kinh doanh thương mại nói chung, các tranh chấp từ hợp đồng thương mại
quốc tế nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng Tòa án là một trong
những phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản được quy định trong pháp
luật quốc gia và các điều ước quốc tế.
Nghiên cứu vấn đề này đã có một số học giả, chuyên gia pháp lý với
những công trình khoa học như là: Đề tài cấp bộ năm 2003 của Tòa án nhân
dân tối cao về "Thẩm quyền của Tòa kinh tế trong việc thực hiện cải cách tư
pháp - những vấn đề lý luận và thực tiễn"; các luận án tiến sĩ, thạc sĩ có liên
quan đến thẩm quyền Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại như
là: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Vinh: "Pháp luật giải quyết tranh
chấp kinh tế bằng con đường Tòa án ở Việt Nam", 2002; Luận án tiến sĩ của
Nguyễn Thị Hoài Phương: "Hoàn thiện pháp luật về tài phán kinh tế ở Việt
Nam hiện nay", 2007; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Năm: "Giải quyết
tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài bằng tòa án Việt Nam thực trạng và
giải pháp", 2007; các cuốn sách có liên quan như: "Giáo trình Luật Thương
mại quốc tế", của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, do PGS.TS Nguyễn
Bá Diến chủ biên, 2005; "Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con
đường tòa án", của Nguyễn Vũ Hoàng, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2004; "Kinh
nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại hàng hải" của
Luật sư Nguyễn Chúng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Các công
trình khoa học trên đã đề cập đến nhiều nội dung với những khía cạnh khác
nhau về giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại trong nền kinh tế thị
3
trường ở Việt Nam hiện nay bằng phương thức Tòa án. Các công trình đó
cũng đưa ra một số giải pháp và đề xuất nhất định nhằm hoàn thiện hệ thống
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp luận đó tác giả áp
dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, thống kê, phân
tích, so sánh và tổng hợp.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu những vấn đề liên quan
về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng Tòa án (thẩm
quyền, luật áp dụng, thủ tục tố tụng…). Phân tích những mặt tích cực và tồn
tại trong phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế
bằng Tòa án ở một số nước cũng như ở Việt Nam, so sánh các quy định đó ở
một số nước điển hình và so sánh với phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại quốc tế bằng trọng tài. Đưa ra những kiến nghị mới nhằm
hoàn thiện hơn nữa phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
quốc tế bằng Tòa án ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học và thực tiễn để
phục vụ công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế ở Tòa án
Việt Nam có hiệu quả hơn.
- Làm cơ sở cho việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại quốc tế tại Tòa án Việt Nam của các bên tham gia hợp đồng.
- Làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, học tập về hoạt động giải quyết các
tranh chấp trong hợp đồng thương mại.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng thương mại quốc
tế và giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng Tòa án.
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005).
Về mặt lý luận, hợp đồng trong thương mại là một loại hợp đồng dân sự,
một loại hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng. Với ý nghĩa như vậy, các quy định về
hợp đồng dân sự tại Bộ luật Dân sự được áp dụng cho các loại hợp đồng nói chung,
trong đó có các hợp đồng về thương mại và hợp đồng thương mại quốc tế.
7
Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp 1804 giải thích hợp đồng là một sự
nhất trí và theo đó, một người hoặc một số người giao cho một người hoặc
một số người khác nghĩa vụ phải làm hoặc không phải làm một việc gì đó.
Dù quan niệm như thế nào về hợp đồng thì, về bản chất, hợp đồng là
sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể trong xã hội, thông qua
đó xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng phải
có các đặc điểm cơ bản sau:
- Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của ít nhất là hai bên, ý chí phải tự
nguyện và thống nhất.
- Mục đích của hợp đồng nhằm đạt được kết quả pháp lý như đã định trước.
- Sự thỏa thuận trong hợp đồng phải hợp pháp.
- Phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Hợp đồng thương mại quốc tế, trước hết, cũng mang những đặc điểm
của hợp đồng dân sự nói chung, đó là: sự thỏa thuận ý chí của ít nhất là hai
bên chủ thể nhằm đạt được mục đích đã đề ra, theo đó các bên phải thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận. Sự thỏa thuận trong hợp đồng
phải hợp pháp và thể hiện được nội dung chính của hợp đồng. Bên cạnh đó
Hợp đồng thương mại quốc tế còn mang "tính chất thương mại" và có "tính
chất quốc tế", hay còn gọi là "yếu tố nước ngoài".
Khác với các giao dịch dân sự là phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu
dùng, mục đích mà các bên tham gia quan hệ thương mại thường hướng tới là
lợi nhuận hoặc phục vụ các chính sách kinh tế xã hội. Chủ thể của hợp đồng
thương mại quốc tế chủ yếu là các thương nhân. Theo quy định của Luật
thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển
khẩu. Việc mua bán hàng hóa quốc tế phải thực hiện thông qua hợp đồng
bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
Tóm lại, hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc
tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua
9
bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao
công nghệ, hợp đồng vận tải quốc tế, hợp đồng hợp tác kinh doanh
1.1.2. Một số loại hợp đồng thƣơng mại quốc tế chủ yếu
Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ thương mại quốc tế, hợp đồng
trong thương mại quốc tế được chia thành các loại chủ yếu: Hợp đồng mua
bán hàng hóa, hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng xây dựng, hợp đồng
trung gian thương mại (hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng môi
giới thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa), hợp
đồng dịch vụ xúc tiến thương mại (hợp đồng dịch vụ quảng cáo, hợp đồng dịch
vụ trưng bày giới thiệu sản phẩm hàng hóa), hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
hiểm, hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư (hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp
đồng liên doanh ). Trong thực tiễn thương mại quốc tế có các loại hợp đồng
chủ yếu sau:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa
vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh
toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở
hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng
hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các bên chủ
thể của quan hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất
trong các hoạt động thương mại của mình.
thể tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các chủ thể của
hoạt động kinh doanh quốc tế, có thể là các thể nhân, pháp nhân, trong một số
trường hợp nhất định, Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ này. Các chủ
thể có quốc tịch khác nhau hoặc trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau;
hàng hóa - đối tượng của hợp đồng có thể có sự dịch chuyển qua biên giới
quốc gia hoặc giai đoạn chào hàng, chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập
11
ở các nước khác nhau; nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ
phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang
người mua ở các nước khác nhau; đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối
với một trong các bên; luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng là luật quốc gia, các
điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế về thương mại và hàng hải và ở một số
nước áp dụng tiền lệ pháp (án lệ).
Cụ thể, Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
bao gồm:
- Pháp luật quốc gia (chủ yếu là luật dân sự và thương mại của các
quốc gia).
Pháp luật Việt Nam áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế bao gồm: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Bộ luật Hàng hải
2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, Pháp lệnh Trọng tài thương
mại 2003, Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt
động có liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
- Các điều ước quốc tế chủ yếu sau:
+ Công ước LaHay ngày 15/6/1955 về luật áp dụng đối với hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế;
+ Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế - Công ước Viena ký ngày ngày 11/4/1980, có hiệu lực từ ngày 01/01/1988,
nước áp dụng án lệ để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Hợp đồng cung ứng dịch vụ có yếu tố nước ngoài:
Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (bên
cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận
13
thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên
cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được
xác lập bằng hành vi cụ thể.
Pháp luật Việt Nam cho phép các thương nhân có quyền cung ứng
dịch vụ như là: Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên
lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử
dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam
sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú
tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài. Và quyền sử dụng dịch vụ do
người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; do người không
cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; do người cư trú tại Việt
Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài; do người không cư trú tại Việt Nam
cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài (Điều 75 Luật Thương mại 2005).
Như vậy, chủ thể của hợp đồng cung dịch vụ có yếu tố nước ngoài
cũng giống như chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Nhưng đối
tượng của hợp đồng cung ứng dịch vụ không phải là một hàng hóa cụ thể mà
là các dịch vụ mà theo thỏa thuận, bên cung ứng dịch vụ thực hiện dịch vụ và
nhận thanh toán, bên khách hàng được hưởng dịch vụ và có nghĩa thanh toán
phí dịch vụ.
Hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật quốc gia như: Bộ luật
Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và trong
một số trường hợp theo quy định của các Công ước quốc tế có liên quan mà
quốc tế của UNCITRAL, Pháp lệnh về Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc
15
gia trong thương mại quốc tế 2002, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003,
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Hình thức, nội dung và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển
giao công nghệ thường được quy định cụ thể và chặt chẽ trong pháp luật quốc
gia và các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ và thương mại [18, tr. 483-484].
Trong giao dịch thương mại quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ
bao gồm: hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu đối tượng công nghệ và hợp
đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng công nghệ.
- Hợp đồng tín dụng quốc tế:
Hợp đồng tín dụng quốc tế là văn bản thỏa thuận giữa bên cho vay và
bên đi vay về việc cấp tín dụng và các điều kiện vay trả nợ. Thông thường
một hợp đồng tín dụng phải rõ phần hướng dẫn, khoản vay, các điều kiện, rút
tiền, lãi suất, hoàn trả, hủy và thanh toán, phí cam kết, bảo đảm cam kết với
những khoản vay có bảo đảm, những thay đổi về pháp luật, thanh toán, lỗi,
bồi thường, luật áp dụng…
Tín dụng thương mại quốc tế thường gắn với quan hệ mua bán hàng
hóa và hình thức thanh toán hàng hóa đó. Trong tín dụng thương mại có hai
loại là tín dụng cấp cho người xuất khẩu (do người nhập khẩu cấp cho người
xuất khẩu dưới hình thức tiền ứng trước để nhập hàng hóa hoặc để thực hiện hợp
đồng) và tín dụng cấp cho người nhập khẩu (do người xuất khẩu cấp cho người
nhập khẩu dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản) [18, tr 575; 578].
Trên đây là một số loại hợp đồng thương mại quốc tế thông dụng được
các thương nhân, cá nhân và các chủ thể khác sử dụng khi tham gia quan hệ
thương mại quốc tế.
1.2. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.2.1. Định nghĩa tranh chấp hợp đồng thƣơng mại quốc tế
dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
tranh chấp đó ở nước ngoài [87, Điều 2].
Hoạt động thương mại, được hiểu theo nghĩa rộng như Luật mẫu
UNCITRAL, là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá
nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân
phối; đại diện; đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng;
tư vấn; kỹ thuật; li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm, thăm dò,
khai thác; liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc
kinh doanh; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,
đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy
định của pháp luật.
Còn tại Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định, tranh
chấp thương mại là tranh chấp giữa các bên trong một giao dịch thương mại
(khoản 4 Điều 9).
Như vậy, tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế cũng là những tranh
chấp trong hoạt động kinh tế xã hội nói chung, nhưng phải có các dấu hiệu
quốc tế như đã phân tích trên và có hoạt động thương mại thông qua hình thức
pháp lý là hợp đồng. Tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế khác với
các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, giữa các thành viên
của công ty với nhau bởi các chủ thể luôn phải là thương nhân (tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh) và các chủ thể có quan hệ với nhau
thông qua một giao dịch là hợp đồng thương mại.
Về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp trong thương mại quốc tế, các bên
tham gia quan hệ này thường là những chủ thể ở các nước khác nhau, có sự
khác biệt về truyền thống pháp luật và tập quán thương mại, sự thiếu hiểu biết
và tin cậy lẫn nhau như bạn hàng trong nước. Các điều kiện khách quan ngoại
cảnh cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên. Hoặc
18
Việc quy định nghĩa vụ của bên bán phải giao các chứng từ liên quan
đến hàng hóa đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng hình thức quy định trong
hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người mua trong việc có đủ cơ
sở pháp lý để làm thủ tục nhận hàng và thanh toán tiền hàng.
Ví dụ 1: Trường hợp vi phạm nghĩa vụ giao hàng của bị đơn trong vụ
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Nghệ An. Trụ sở: 98
đường Nguyễn Trường Tộ, Thành phố Vinh, Nghệ An, Việt Nam.
Bị đơn: Công ty Summit Prakasa Asia Ltd. Singapore. Trụ sở: 11 Collyer
Quay # 14.01 the Arcade Singapore 049137. Văn phòng đại diện tại Việt Nam -
P1203 - 6B Láng Hạ, Hà Nội.
Theo đó, ngày 25.8.2004 đại diện hợp pháp của hai pháp nhân trên đã
ký hợp đồng số SPA/UREA/VTN-627/2004 để mua bán 7.000 tấn phân đạm
Urea, hợp đồng này hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật Việt
Nam. Nội dung chính của hợp đồng là:
- Tên hàng hóa: phân đạm Urea Trung Quốc đóng bao
- Số lượng: 7.000 tấn (+/- 10%) do bên bán chọn.
- Ký mã hiệu bao bì: in 7 hàng chữ màu xanh, 2 hàng chữ "Use no
hooks" và "OT" in màu đỏ.
- Đơn giá: 229 USD/tấn CFR FO cảng Cửa Lò, Việt Nam.
- Giá trị hợp đồng: 1.603.000 USD (+/- 10%) Một triệu sáu trăm linh
ba ngàn đô la Mỹ, cho phép cộng trừ 10%.
- Phương thức thanh toán: Tín dụng thư xuất trình chứng từ.
- Địa điểm xếp hàng/giao hàng: một cảng ở Trung Quốc/cảng Cửa
Lò, Việt Nam.
- Thời hạn L/C chậm nhất ngày: 05.9.2004.