Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức Thành Phố Hồ Chí Minh - Pdf 51

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này trước hết em xin gửi lời cảm ơn
đến quý thầy, cô trong khoa Luật trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
lời cảm ơn chân thành. Đặc biệt em xin gửi đến thầy Bành Quốc Tuấn, là giảng viên
hướng dẫn người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề báo cáo
thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất.
Em xin chân thành cảm ơn Toà án nhân dân Quận Thủ Đức đã tạo điều kiện cho
em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại Toà. Cuối cùng em xin cảm
ơn Thẩm phán Trần Thị Thanh, người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực tập
tại Toà, đã giúp đỡ cung cấp những số liệu thực tế để em hoàn thành tốt chuyên đề báo
cáo thực tập này.
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình viết báo cáo thực tập còn
nhiều thiếu sót kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy, cô và quý
Toà.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Huỳnh Hậu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Huỳnh Hậu lớp 15DLK13 mssv 1511271026
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Báo cáo thực tập tốt
nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Đơn vị thực tập, trên các sách báo khoa
học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);
Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá
trình nghiên cứu và thực tế tại Toà án nhân Quận Thủ Đức KHÔNG SAO CHÉP từ
các nguồn tài liệu, báo cáo khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và


Luật thương mại

TAND:

Tòa án nhân dân


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng
Bảng 2.1

Tên bảng

Trang

Số liệu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hoá tại toà án nhân dân Quận Thủ Đức từ năm 2015 đến
nay

23



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, nhất là khi nước
ta gia nhập tổ chức kinh tế Thế giới (WTO), các quan hệ kinh doanh thương mại ngày
càng phát triển đa dạng và phong phú. Hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH) được

HĐMBHH tại Tòa án. Mục đích của đề tài là đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả
của pháp luật về giải quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH nói
riêng và pháp luật giải quyết tranh chấp HĐMBHH nói chung nhằm đảm bảo mọi tranh
chấp HĐMBHH đều được giải quyết một cách thuận lợi và triệt để.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành liên quan trực tiếp đến vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hoá tại Toà án nhân dân và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hoá tại Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam về giải
quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Toà án nhân dân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học
pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống
hóa pháp luật...
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội
dung của đề tài gồm 2 chương:

7


Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và giải
quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
nhân dân Quận Thủ Đức Thành Phố Hồ Chí Minh.

dân, Hà Nội trang 179.
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm
2003, trang 331.
3 Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005.

9


mua bán. LTM không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự, theo
Điều 430 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 (BLDS), "Hợp đồng mua bán tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và
bên mua trả tiền cho bên bán", để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Như vậy hợp đồng mua bán hàng hóa (sau đây gọi tắt là HĐMBHH), ta có thể định
nghĩa rằng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Dựa vào đặc điểm của các giao dịch hàng hóa, ta có thể chia hợp đồng mua bán
hàng hóa thành ba loại cơ bản bao gồm :
+Hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường (nội địa) :
Là loại hợp đồng các bên chủ thể trong hợp đồng thực hiện các giao dịch về hàng
hóa trên lãnh thổ Việt Nam.
+Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế :
Là loại hợp đồng mang yếu tố quốc tế, theo đó các chủ thể trong hợp đồng thực
hiện hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế dưới các hình thức : xuất khẩu, nhập khẩu,
tạm nhập, tái xuất, tái nhập và chuyển khẩu (Khoản 1 Điều 27 LTM 2005).
+Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết qua Sở giao dịch hàng hóa :
Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó
các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa
nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa
với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được

Hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản hoặc hình thức có giá trị tương đương, điều
này có nghĩa là đối với HĐMBHH quốc tế ngoài được thể hiện dưới hình thức bằng
văn bản thì còn thể hiện dưới các hình thức có giá trị tương đương theo quy định của
BLDS 2015 như : email, điện báo, fax, dữ liệu điện tử...Công ước viên 1980 của Liên
hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế thì lại có quy định như sau, theo đó
4 Điều 6 Luật thương mại 2005

11


HĐMBHH không cần phải ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một
yêu cầu nào khác về hợp đồng, hợp đồng có thể chứng minh bằng mọi cách, kể cả
những lời khai của nhân chứng5 . Điều này có nghĩa là hình thức của Hợp đồng không
nhất thiết phải bằng văn bản, theo đó các bên có thể thỏa thuân mọi hình thức của hợp
đồng. Tuy nhiên quy định tại Công ước viên cho thấy rằng, nếu các nước thành viên có
quy định hình thức HĐMBHH quốc tế là bằng văn bản thì quy định này phải được tôn
trọng. 6
-Về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa :
Đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa. Theo nghĩa thông thường hàng hóa là sản
phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu mục đích của con
người thông qua trao đổi hay buôn bán. Quy định hàng hóa là đối tượng của
HĐMBHH pháp luật của mỗi nước cũng như các Điều ước quốc tế đều có những quy
định khác nhau, dù có những khác biệt khác nhau song chúng đều có xu hướng mở
rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại.
Theo Khoản 2 Điều 3 LTM 2005 hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể
cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai. Như vậy theo
LTM 2005 thì hàng hóa có thể là những vật đang tồn tại hoặc có thể hình thành trong
lai.
-Về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa :
Nội dung của HĐMBHH phản ánh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ

thể phát sinh mâu thuẫn với nhau về: các điều khoản trong nội dung hợp đồng, việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hợp đồng, bồi thường thiệt hại do
vi phạm hợp đồng, gia hạn viêc thực hiện hợp đồng...
Có nhiều nguyên nhân xảy ra tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng
hóa, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân sau:
-Nguyên nhân chủ quan:
Do sự chủ quan của các bên trong việc thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa. Do
ý chí chủ quan của các chủ thể trong hợp đồng (cố tình không thực hiện các giao kết
trong hợp đồng dẫn tới bên bị vi phạm buộc phải khởi kiện tại tòa án để bảo vệ quyền
lợi). Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì tranh chấp phát
sinh ngoài những nguyên nhân trên còn do: năng lực của doanh nghiệp trong quan hệ

13


thương mại quốc tế còn nhiều hạn chế; sự thiếu hiểu biết về pháp luật và tập quán
thương mại quốc tế.
-Nguyên nhân khách quan:
Sự biến động của những yếu tố như giá cả, tỷ giá, cung cầu của mỗi quốc gia là
khác nhau ở mỗi giai đoạn ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của các bên và có thể dẫn đến
nguy cơ xảy ra tranh chấp. Các sự kiện bất khả kháng xảy ra ngẫu nhiên trong thực tế
sau khi hai bên đã ký kết hợp đồng mà không thuộc trường hợp đồng miễn trách
nhiệm. Đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ngoài những
nguyên nhân khách quan trên còn có thể kể đến các nguyên nhân sau: Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng liên quan đến ít nhất hai hệ thống pháp luật của hai
quốc gia; ngoài ra, còn có thể liên quan đến tập quán quốc tế điều chỉnh các quan hệ
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên ký kết lại không tìm hiểu kỹ lưỡng trước
khi ký kết hợp đồng dẫn đến việc ký kết hợp đồng không đúng, không đầy đủ, dẫn đến
cách hiểu không thống nhất làm phát sinh tranh chấp giữa các bên; Sự thay đổi chính
sách và pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế.

cũng như cơ quan tài phán, không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên vi phạm.
1.2.3 Các dạng tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa
-Tranh chấp liên quan đến quá trình giao kết hợp đồng
Trong thực tiễn thương mại, các bên có thể giao kết hợp đồng một cách gián tiếp
hoặc trực tiếp. Nếu các bên giao kết hợp đồng trực tiếp thì về mặt pháp lý các bên
trong hợp đồng có thể xác định dễ dàng địa điểm giao kết hợp đồng và thời điểm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồn... điều này dẫn đến sự thuận tiện
cuả các bên trong việc thực hiện hợp đồng tránh đi tranh chấp xảy ra. Ngược lại với
việc giao kết hợp đồng bằng hình thức trực tiếp, thì việc ký hợp đồng gián tiếp thông
qua các dữ liệu điện tử, các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giao kết hợp đồng sẻ trở
nên vô cừng phức tạp, các tranh chấp có thể xảy đến như địa điểm giao kết hợp đồng
được xác định như thế nào, khi nào hợp đồng được xác lập.......
-Tranh chấp về số lượng hàng hóa :

15


Dặc điểm tranh chấp về số lượng hàng hóa là do các bên quy định thiếu chặt chẽ
về đơn vị đo lường hoặc cách tính số lượng, khối lượng hoặc thiêú các quy định về
việc xác định số lượng tại địa điểm nào, do đó mỗi bên vô ý hoặc cố ý hiểu khác nhau
về số lượng, khối lượng của hàng hóa.
-Tranh chấp về điều khoản thời gian địa điểm giao hàng :
Viêc các bên quy định rõ thời gian giao hàng là một thời điểm hay một khoản
thời gian nào đó có ý nghĩa pháp lý thực hiện hợp đồng. Việc hợp đồng quy định thời
gian giao hàng thiếu chặt chẽ và không rõ ràng dễ dẫn đến các tranh chấp phát sinh.
Dịa điểm giao hàng cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng, các bên cần phải quy
định rõ ràng vì liên quan đến các vấn đề rủi ro được chuyển giao giữa các bên.
-Tranh chấp về điều khoản thanh toán :
Đây là tranh chấp thường phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa, việc các
bên không có những quy định cụ thể và rõ ràng thì rất dễ dẫn đến xảy ra tranh

-Thương lượng giữa các bên.
-Hòa giải giữa các bên do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa
thuận chọn làm hòa giải.
-Giải quyết bằng trọng tài hoặc Tòa án.
Có thể thấy những phương thức trên đều có những ưu điểm và khuyết điểm
riêng. Phương thức giải quyết bằng Tòa án là một trong những hình thức giải quyết
tranh chấp HĐMBHH phổ biến trên thế giới.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là phương thức giải quyết theo
một trình tự nghiêm ngặt, chặt chẽ. Khi giải quyết tranh chấp thương mại về
HĐMBHH, Toà án có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là bên thứ ba, là
cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp được yêu cầu. Trong quá trình giải quyết
tranh chấp trên cơ sở áp dụng pháp luật hiện hành, toà án có thẩm quyền sẽ nhân danh
quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ra bản án hoặc quyết định có giá
trị bắt buộc các bên tranh chấp và tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện. Bản
án, quyết định của Toà án được cơ quan thi hành án của Nhà nước bảo đảm thi hành.

17


1.3.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
nhân dân.
Để thụ lý, giải quyết kinh doanh thương mại nói chung, hợp đồng mua bán hàng
hóa nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định
quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm
quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) để xác định yêu cầu khởi kiện của đương
sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật
nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu
của đương sự.
Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết tranh chấp

Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án nhân dân cấp cao.
-Thẩm quyền theo lãnh thổ :
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là giới hạn (khả năng) do pháp luật quy
định xác định chức năng giải quyết các vụ việc của Tòa án theo đơn vị hành chính
lãnh thổ7. Theo quy định của BLTTDS 2015 thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa
án được xác định như sau : nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ; theo sự lựa chọn của
đương sự ; đối với tranh chấp bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có
bất động sản8. Đối với các tranh chấp về HĐMBHH thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
án được xác định trên cơ sở nơi cư trú và làm việc của bị đơn hoặc trụ sở của bị đơn.
-Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn là hình thức pháp luật,
đưa ra các quy định về các Tòa án có thẩm quyền giải quyết và nguyên đơn được lựa
chọn theo ý chí của mình. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết đối với các
TCKDTM về HĐMBHH trong các trường hợp sau theo điều 40 BLTTDS 2015:
+Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn, thì Nguyên đơn có quyền
yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài
sản giải quyết (Điểm a khoản 1 điều 40 BLTTDS 2015);
7 Hoàng Tố Nguyên (2013), Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở
việt nam hiện nay, luận văn thạc sĩ, khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội.
8 Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

19


+Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi có tổ chức cư hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết (Điểm b
Khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015);
+Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì có thể yêu cầu
Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết (Điểm c Khoản 1 Điều 40
BLTTDS 2015).

không có bất cứ sự cưỡng ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện. Nói cách
khác, sự xác lập các quan hệ kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định, và được Nhà
nước bảo đảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, Nhà
nước không được can thiệp vào những hoạt động kinh doanh đúng pháp luật. Nguyên
tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự được thể hiện trong suốt các
giai đoạn của quá trình tố tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá
trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của
mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá
trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
-Nguyên tắc hòa giải:
Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng được quy định tại Điều 10 BLTTDS 2015, theo
đó: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương
sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật
này”.
Bản chất của quan hệ kinh tế (nói chung), quan hệ trong HĐMBHH (nói riêng)
được xác lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt của bên trong quan hệ, do đó
việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này được thực hiện theo những
biện pháp nhất định, trong đó hòa giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt
buộc trong tố tụng dân sự. Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện
nhằm mục đích tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải
quyết các tranh chấp. Nếu tiến hành hòa giải thành công sẽ làm bớt đi những tốn kém
về tiền bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công
dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp 9. Việc hòa giải là thủ tục
bắt buộc khi giải quyết các vụ án về KDTM (nói chung) và HĐMBHH (nói riêng)
9Bộ tư pháp, (2011), Cơ chế và kiến nghị hoàn thiện giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng Tòa Kinh tế
Nguồn:http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1442 down load ngày 23/10/2018.

21

đàm phán thì hòa giải cũng khó được kết quả cao.

22


Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới hiện nay chủ yếu sử dụng hai
phương thức giải quyết tranh chấp KDTM về HĐMBHH là Trọng tài và Tóa án. Giaỉ
quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài là thể thức giải quyết nhanh, gọn, mềm
dẻo, linh hoạt và đặc biệt có đôi ngũ Trọng tài viên là những chuyên gia hàng đầu trong
lĩnh vực đang tranh chấp. Ưu điểm này không thể tìm thấy ở các phương thức giải
quyết tranh chấp bằng Tòa án với những trình tự thủ tục kéo dài khiến các bên mệt
mỏi. Tuy nhiên ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là
tính quyền lực nhà nước. Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền
lực nhà nước khi xét xử các vụ án tranh chấp. Các bản án và quyết định của Tòa án
nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng. Trong trường họp
bản án không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước. Đặc
điểm này có thể coi là yếu tố hấp dẫn khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương
thức giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Tòa án.
Khi giải quyết tranh chấp về HĐMBHH tại Tòa án, việc giải quyết có thể qua
nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xửu bảo đảm cho quyết định của Tòa
án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật. Với điều kiện thực tế
của Việt Nam, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp về KDTM (nói chung) hay tranh
chấp về (HĐMBHH) nói riêng tại Tòa án thấp hơn nhiều so với việc nhờ đến các tổ
chức trọng tài hay trọng tài quốc tế.
Bằng các quyết định và bản án của Tòa án, các bên có tranh chấp buộc phải thực
hiện để khắc phục hoặc chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt động mua bán hàng
hóa trong nền kinh tế diễn ra trong trật tự. Ưu thế này không có ở bất kỳ các phương
thức giải quyết tranh chấp khác như: thương lượng, hòa giải ngoài tố tụng hoặc nếu có
như Trọng tài thì cũng không được đảm bảo một cách triệt để.

bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn, trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi

24


bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận
đơn10.
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày Tòa án nhận đơn, Chánh án Tòa sẽ phân công
một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện 11. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày
nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán sẽ xem xét nội dung và hình thức đơn khởi kiện. 12 Đối
với các tranh chấp về kinh doanh thương mại (nói chung), tranh chấp về HĐMBHH
(nói riêng) đặc điểm các bên tham gia tranh chấp phải là có ít nhất một bên là thương
nhân. Vì vậy khi tiếp nhận đơn khởi kiện Tòa án phải xác minh tính hợp pháp của pháp
nhân: (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh đối với một số
doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt nam). Chúng ta biết rằng đặc điểm
của tranh chấp HĐMBHH là liên quan đến hợp đồng và các giao dịch, vì vậy Tòa án
sau khi nhận đơn khởi kiện sẽ yêu cầu Nguyên đơn nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo
như: Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, hóa đơn bán hàng, biên lai...Sau khi đã kiểm tra tính
hợp pháp của doanh nghiệp, Tòa án sẽ tiến hành kiểm tra: nội dung đơn khởi kiện có
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình hay không. Nếu đơn khởi kiện đủ các
nôi dung quy định tại Khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 và Tòa đã nhận đủ các tài liệu
chứng cứ kèm theo, thì Thẩm phán sẽ thông báo nguyên đơn đến Tòa nộp tiền tạm ứng
án phí, nếu họ thuộc trường hợp nộp án phí. Về tiền tạm ứng án phí Tòa án sẽ căn cứ
vào Khoản 1 Điều 146; Điều 195 BLTTDS 2015 và pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH
12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội để tính tiền tạm ứng án phí đối
với án phí kinh doanh thương mại. Sau khi Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí,
Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết thụ lý đơn khởi kiện vụ án sẽ tiến
hành thụ lý vụ án13. Trong thời hạn kể từ ba ngày thụ lý vụ án Thẩm phán sẽ tiến hành
ra thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự trong vụ án, người có quyền và nghĩa vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status