BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ HỢP
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC TẠI TAND
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đình Nghị
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Học viên
Lương Thị Hợp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Nxb
Nhà xuất bản
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế theo di chúc
5
1.1. Di chúc và thừa kế theo di chúc
33
2.5. Người làm chứng cho việc lập di chúc
34
2.6. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
39
2.7. Về di chúc chung của vợ chồng
40
2.8. Về di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng
41
2.9. Các vấn đề về nội dung của di chúc
44
2.10. Về giải thích nội dung di chúc
45
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc tại
48
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế theo di chúc là một chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự
(BLDS) Việt Nam. Các tranh chấp trong lĩnh vực này phát sinh đa dạng và ngày
càng gia tăng về số lượng đòi hỏi việc giải quyết tại Tòa án phải kịp thời, đúng pháp
luật mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại Tòa án nhân dân (TAND)
Tỉnh Cao Bằng cho thấy các vụ án về thừa kế theo di chúc là loại việc phức tạp, yêu
cầu đối với người giải quyết là phải có trình độ chuyên môn sâu, nắm vững các quy
định của pháp luật và áp dụng pháp luật chính xác. Hiện nay, một số quy định của
pháp luật về thừa kế theo di chúc chưa đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống, chưa rõ
ràng, còn gây nhiều tranh cãi cả về lý luận và thực tiễn áp dụng nhưng chưa được
Tòa án nhân dân Tối cao (TANDTC) hướng dẫn cụ thể. Bên cạnh đó, nhận thức
pháp luật của các cấp tòa án còn chưa thống nhất dẫn đến “…rất nhiều bản án giải
quyết tranh chấp thừa kế của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng đương sự vẫn
khiếu kiện kéo dài, gây nên tình trạng thiếu tin tưởng của người dân vào hệ thống
cơ quan thực thi pháp luật” [29, tr9]. Việc giải quyết vụ án thừa kế trong ngành
TAND Tỉnh Cao Bằng thường kéo dài, có nhiều vụ bị sửa, một số vụ án bị hủy để
giải quyết lại nhiều lần gây tâm lý “ngại xét xử” cho thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án, gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Thông qua hoạt động xét xử, phán quyết của TAND có vai trò, ý nghĩa hết sức
quan trọng “... ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi, nghĩa vụ, thậm chí tính mạng của
con người, có ảnh hưởng lớn tới tính công minh của pháp luật, uy tín và nền công lý
của quốc gia đồng thời góp phần giáo dục công dân có ý thức pháp luật, tôn trọng
các quy tắc của cuộc sống xã hội ” [28, tr41] nên Đảng ta đã đề ra cho ngành Tòa
án các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002
“về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” nhằm “xây
thừa kế theo di chúc và thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc
tại TAND Tỉnh Cao Bằng” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành luật của
mình với mong muốn nắm vững các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này để
có được nhận thức sâu hơn về kiến thức, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm nhằm đáp
ứng được yêu cầu của nhiệm vụ chuyên môn.
3
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thừa kế nói chung và
thừa kế theo di chúc nói riêng, trong đó phải kể đến TS Nguyễn Minh Tuấn (2007)
với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong
BLDS”- Trường Đại học Luật Hà Nội; TS Phạm Văn Tuyết (2003), “Thừa kế theo
di chúc theo quy định của BLDS” - Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội; TS Trần Thị Huệ (2007) với “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt
Nam” …và nhiều bài báo khoa học đăng trên tạp chí như “Thừa kế theo di chúc
trong BLDS”của Tưởng Duy Lượng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2000; “Một
số ý kiến về thừa kế theo di chúc trong BLDS Việt Nam”của Đoàn Đức Lương, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số 01/2001; TS Phùng Trung Tập (2005) với “Quy định về
người lập di chúc”, Tạp chí TAND…
Nhìn chung, các công trình trên đây đã đi sâu nghiên cứu các quy định của
pháp luật về thừa kế theo di chúc hoặc đi sâu vào một khía cạnh pháp lý cụ thể của
chế định này. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thừa kế theo di chúc
gắn với thực tiễn xét xử và những nét đặc thù của một tỉnh miền núi như Cao Bằng.
3.Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về thừa kế
theo di chúc mà chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung về thừa kế theo di chúc
còn có sự bất cập. Trên cơ sở đó, luận văn phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp
về thừa kế trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, nơi tác giả đang công tác.
Luận văn được cơ cấu thành 03 chương, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và
Danh mục tài liệu tham khảo.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC
1.1. Di chúc và thừa kế theo di chúc
1.1.1. Di chúc và đặc điểm của di chúc
1.1.1.1. Khái niệm di chúc
Trong lịch sử xã hội loài người, quyền để lại thừa kế theo di chúc là một
trong những quyền dân sự quan trọng của công dân được nhà nước ghi nhận và bảo
hộ với những cách thức khác nhau tùy thuộc vào bản chất của mỗi Nhà nước. Viết
về di chúc, từ thời La mã cổ đại, luật gia Ulpian đã đưa ra khái niệm cho đến nay
vẫn còn nguyên giá trị: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được
thực hiện khi chúng ta chết” [58b].
Từ xưa, di chúc đã là phương tiện quan trọng để chuyển tải ý chí của một
người cho thế hệ sau của họ khi người lập di chúc đã qua đời. Di chúc được biết đến
với nhiều tên gọi khác nhau như chúc thư, chúc ngôn, tờ tương phân, lời dặn dò…
Theo từ điển Tiếng Việt thì:“Chúc thư là văn bản chính thức ghi những ý
muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của mình sau khi chết”
[52,tr182] và “Di chúc được hiểu là lời dặn lại trước khi chết những việc người sau
cần làm và nên làm” [52, tr254]. Theo đó thì ý chí của người lập di chúc được thể
hiện trong đó có thể là sự phân định tài sản cho người được hưởng thừa kế nhưng
cũng có thể chỉ chứa đựng những giá trị tinh thần.
Tuy nhiên khi nghiên cứu về di chúc trong lĩnh vực pháp luật dân sự, có nhà
nghiên cứu cho rằng: “Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người định đoạt tài sản
quy định chặt chẽ của pháp luật theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức đó cho nên
cơ quan, tổ chức hoặc người đại diện của cơ quan, tổ chức đó không có quyền dùng
tài sản của pháp nhân, tổ chức vào việc để lại thừa kế theo ý chí của một hay nhiều
cá nhân mà việc định đoạt tài sản của họ phải tuân theo những quy định của pháp
luật đối với mỗi hình thức sở hữu cụ thể.
Việc định đoạt tài sản theo di chúc bắt nguồn từ mối quan hệ huyết thống,
tình cảm gắn liền với mỗi chủ thể và sự định đoạt tài sản hoàn toàn theo ý chí của
chính họ nên có thể khẳng định rằng quyền lập di chúc chỉ có thể là quyền của cá
nhân. Pháp luật ghi nhận và bảo vệ quyền để lại thừa kế theo di chúc của cá nhân
7
trên cơ sở ý chí đích thực và tự nguyện của người để lại di sản được thể hiện trong
di chúc hợp lệ.
Thứ hai, di chúc thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể
Tự do của con người luôn là mục đích cao cả của mọi cuộc cách mạng xã
hội. Tự do ý chí là sự thể hiện của cá nhân về bản thân nhằm khẳng định sức mạnh
của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, là thuộc tính cố hữu của
con người khi thực hiện những nhu cầu vốn có và cần phải có của họ. Qua việc thể
hiện những gì bản thân mong muốn, con người trực tiếp khẳng định giá trị của mình
trong các mối quan hệ xã hội.
Người lập di chúc có ý định để lại tài sản của mình cho cá nhân, tổ chức hay
nhà nước, đó là một nguyện vọng hoàn toàn chính đáng. Di chúc là hình thức tuyên
bố công khai ý chí chủ quan của một chủ thể, kể cả khi hai vợ chồng lập di chúc
chung thì hai cá nhân đó cũng là một phía chủ thể để lại tài sản trong việc thực hiện
quyền định đoạt của chủ sở hữu và không gì có thể thúc ép, bắt buộc chủ thể lập di
chúc có những nội dung trái với ý chí chủ quan của họ. Đây cũng là một trong
những lý do mà một số bản di chúc chỉ được công bố khi người lập ra nó đã qua
đời.
chủ thể khác
Trên thực tế, người lập di chúc thể hiện nhiều nội dung khác nhau trong di
chúc, có thể là việc phân chia tài sản, căn dặn con cháu phải thương yêu đùm bọc
lẫn nhau...Cũng có trường hợp, di chúc của người quá cố thể hiện mong muốn thế
hệ sau phải tiếp tục thực hiện một công việc mà sinh thời họ hằng theo đuổi hay
phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó mà không đề cập đến tài sản. Về phương diện
lịch sử, xã hội có những bản di chúc có ý nghĩa vô cùng to lớn, vượt lên trên cả
phạm vi gia đình, dòng họ và trường tồn đối với một quốc gia như di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh:“…tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng,
cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên nhi đồng...”. Đó là một bản di chúc vô
giá về mặt tinh thần, tình cảm của dân tộc ta nhưng không nằm trong phạm vi đối
tượng điều chỉnh của Luật dân sự. Theo pháp luật dân sự thì quyền để lại tài sản cho
người khác thừa kế là một quyền năng quan trọng và di chúc là phương tiện để chủ
sở hữu thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.
Trong cuộc sống, người lập di chúc thường mong muốn để lại của cải vật
chất mà họ đã chắt chiu tích lũy trong suốt cuộc đời cho những người có quan hệ
tình cảm, thân thích với mình. Người lập di chúc cũng mong muốn để lại tài sản của
9
mình cho thế hệ sau để những người được thừa kế tiếp tục phát triển khối tài sản đó
trong tương lai hoặc thờ cúng tổ tiên, tiếp nối, duy trì truyền thống của gia đình
dòng họ. Đó là những động cơ thúc đẩy ý nguyện của người để lại tài sản được hình
thành và thể hiện trong di chúc. Dưới góc độ là đối tượng điều chỉnh của Luật dân
sự thì di chúc là một văn bản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong mối
liên quan với tài sản của người đã chết nên di chúc phải có nội dung định đoạt tài
sản từ người lập di chúc cho một chủ thể khác.
Thứ tư, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật sau khi người lập di chúc
chết
Thứ năm, di chúc có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ
Do di chúc là sự tuyên bố của một phía chủ thể theo mong muốn của người
lập di chúc nên họ hoàn toàn tự do trong việc bày tỏ ý chí sau cùng của mình. Khác
với sự thể hiện ý chí trong quan hệ tặng cho thông thường, khi tài sản đã được định
đoạt thì quyền sở hữu được chuyển giao và người đã tặng cho không thể sửa đổi,
hủy bỏ hoặc thay thế ý chí tặng cho trước đó; trong quá trình lập di chúc, dù đã có
sự cân nhắc, soạn thảo công phu thì khi còn sống họ vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung,
hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào theo ý chí của mình theo quy định tại Khoản 1 Điều
662 BLDS 2005, như một tác giả đã viết: “Cho đến khi trút hơi thở cuối cùng,
người có di sản có quyền sửa đổi những dự tính của mình, những quyết định của
mình mà chưa có hiệu lực và chưa được công bố” [13, tr159]. Nếu việc công bố di
chúc không nằm trong trường hợp quy định tại Điều 672 BLDS 2005 mà diễn ra
trong khi người lập di chúc còn sống thì theo chúng tôi, kể cả khi một người đã
công bố nội dung di chúc cho những người khác biết nhưng sau đó họ lại thay đổi
những nội dung đã công bố thì sự thay đổi ý chí đó vẫn được công nhận nếu như
không vi phạm các quy định của pháp luật về việc sửa đổi, bổ sung di chúc. Do vậy
Khoản 5, Điều 667 BLDS 2005 quy định: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc
đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật”.
Tuy nhiên, đối với di chúc chung của vợ chồng là trường hợp ngoại lệ theo
quy định tại Khoản 2, Điều 664 BLDS thì nếu một người đã chết, người vợ hay
chồng còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần di sản của
mình và không có quyền thay thế, hủy bỏ di chúc chung đã lập.
1.1.2. Thừa kế theo di chúc
Tại Điều 58 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền hữu hợp
pháp và quyền thừa kế của công dân”; theo đó, bất cứ ai có tài sản thuộc quyền sở
11
hữu hợp pháp của mình đều có quyền lập di chúc để lại di sản cho người thừa kế. Sự
Điều kiện có hiệu lực của di chúc là những quy định của pháp luật mà một di
chúc phải đáp ứng để được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tế. Để
được coi là di chúc hợp pháp, di chúc phải thỏa mãn các điều kiện sau:
1.2.1 . Điều kiện về năng lực chủ thể của người lập di chúc
Cá nhân là một trong những chủ thể quan trọng của quan hệ pháp luật dân sự.
Tuy quyền dân sự của mọi cá nhân đều bình đẳng nhưng tùy thuộc vào năng lực chủ
thể của họ mà pháp luật quy định cho họ được tham gia vào những quan hệ pháp
luật dân sự với tính chất mức độ khác nhau. Như chúng tôi đã đề cập trên đây, chủ
thể có quyền lập di chúc chỉ có thể là cá nhân. Vấn đề cốt lõi của di chúc là định
đoạt tài sản của chủ thể cho người khác bằng một di chúc hợp pháp. Sự thể hiện ý
chí của chủ thể trong di chúc không chỉ là phương thức để thực hiện quyền sở hữu
đối với tài sản của người đó mà còn là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các
chủ thể có liên quan.
Quyền lợi của những người được hưởng di sản theo di chúc (và cả người
thừa kế theo pháp luật) phụ thuộc phần lớn vào nội dung và tính hợp pháp của di
chúc cho nên việc định đoạt tài sản theo di chúc có ý nghĩa và sự tác động đến các
quan hệ xã hội ở một phạm vi nhất định, không chỉ trong phạm vi một gia đình. Do
vậy, để trở thành chủ thể lập di chúc, cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu của pháp
luật về độ tuổi, nhận thức và khả năng làm chủ hành vi.
Theo quy định tại Điều 14 BLDS 2005 thì “Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” và theo Điều 17
BLDS 2005 thì “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”. Năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự của cá nhân tạo thành năng lực chủ thể của cá nhân. Với tư
cách là một thực thể xã hội, mỗi cá nhân có mức độ năng lực hành vi và năng lực
pháp luật khác nhau do vậy không phải cá nhân nào cũng có đủ năng lực chủ thể để
trở thành chủ thể lập di chúc.
Vấn đề này đã được quy định khá cụ thể tại các văn bản pháp luật trước khi
BLDS 1995 được ban hành:
trạng thái tinh thần của người lập di chúc là phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập
di chúc. Minh mẫn là “có khả năng nhận thức nhanh, rõ ràng và ít nhầm lẫn” [52,
tr 633] còn sáng suốt là “có khả năng nhận thức rõ ràng và giải quyết vấn đề đúng
đắn” [52, tr 847].
14
Như vậy, BLDS 2005 đã kế thừa và phát huy những điểm hợp lý trong các
quy phạm pháp luật trước đó và quy định về năng lực chủ thể của người lập di chúc
một cách rõ ràng và chặt chẽ hơn, đảm bảo cho di chúc thực sự là một “tác phẩm”
thể hiện cả tư duy và tình cảm của người để lại tài sản.
1.2.2. Điều kiện về sự tự nguyện của người lập di chúc
Pháp luật quy định cho mỗi cá nhân quyền tự do, bình đẳng trong các mối
quan hệ xã hội.“Tự do của một con người, đó là sự tự quyết định của nó. Tự do
được hiểu như là sự tồn tại và bảo đảm một phạm vi riêng tư trong mỗi người làm
chủ lấy bản thân mình, tự do hành động nghĩa là có quyền hay có khả năng thực
hiện một phạm vi nào đó. Tự do ở đây đồng nghĩa với không bị cấm hay được
phép” [27, tr 97].
Theo ý nghĩa triết học thì tự do là tất cả những hành động chủ quan của con
người tuân theo quy luật khách quan nhưng không bị chi phối và áp đặt bởi một lực
lượng bên ngoài nào, theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì mọi giao dịch
dân sự đều phải tuân thủ nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận”.
Tại Điều 17 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định:“Di chúc viết tay không
có chứng thực, xác nhận như quy định tại các điều 14, 15, 16 của Pháp lệnh này chỉ
được coi là di chúc hợp pháp nếu đúng là do người để lại di sản tự nguyện lập
trong khi minh mẫn, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật.”
BLDS 2005 quy định về sự tự nguyện của người lập di chúc tại Điều 652,
theo đó thì di chúc chỉ được coi là hợp pháp khi người lập di chúc không bị lừa dối,
đe dọa hoặc cưỡng ép.
bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản hoặc uy tín mà
người tham gia giao dịch đã phải hành động trái với ý chí của mình.
Những di chúc có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng ép nói trên hoặc có sự tác động
để người lập di chúc ký tên, điểm chỉ vào bản di chúc trong khi họ không thống
nhất hoặc không được biết về nội dung được thể hiện trong đó hoặc di chúc được
lập trong trạng thái chủ thể không nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình
như say rượu, dùng chất kích thích thì đều bị coi là những di chúc bất hợp pháp.
1.2.3. Điều kiện về mục đích và nội dung của di chúc
Mục đích của di chúc hướng đến việc để lại tài sản thuộc sở hữu của người
lập di chúc cho một chủ thể khác, ý chí đó được thể hiện trong di chúc. Nội dung di
chúc là những mong muốn, nguyện vọng của người lập di chúc được thể hiện trong
đó.
16
Về mặt pháp lý, nội dung di chúc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của những
người được hưởng di sản theo di chúc và có thể kèm theo những điều kiện, nghĩa vụ
mà người lập di chúc giao cho những người đó. Để được pháp luật công nhận và
bảo vệ, di chúc phải có nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội
(Khoản1 Điều 652 BLDS 2005)
Như chúng ta đã biết, tự do của con người trong xã hội là sự nhận thức được
cái tất yếu, mọi tất yếu đều là khách quan. Tuy nhiên, con người là kẻ sáng tạo ra
lịch sử nhưng đồng thời cũng bị chi phối bởi lịch sử. Điều đó hoàn toàn cần thiết vì
Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ xã hội bằng pháp luật - đó chính là chuẩn
mực của sự tự do, pháp luật là khuôn phép giới hạn những hành động có hại cho
cộng đồng của con người, như Monteskio đã viết:“Tự do có nghĩa là có thể làm tất
cả những gì mà không gây hại cho người khác” [27, tr97].
Pháp luật là công cụ nhằm điều chỉnh hành vi mà các chủ thể buộc phải tuân
theo để đảm bảo sự ổn định của xã hội. Điều này đồng nghĩa với việc tự do phải
thức nhất định.
1.2.4.1. Di chúc văn bản
Hình thức của di chúc đã được biết đến trong cổ luật Việt Nam, Điều 366 Bộ
luật Hồng Đức quy định:”Những người lập chúc thư văn khế mà không nhờ quan
trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo
việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì
được”.
Hiện nay BLDS cho phép người lập di chúc quyền sử dụng văn bản (hình
thức viết) hoặc bằng lời nói để thể hiện ý nguyện của mình. Tùy từng điều kiện,
hoàn cảnh khách quan diễn ra việc lập di chúc, Điều 650 BLDS 2005 quy định các
hình thức văn bản của di chúc:
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn
+ Di chúc bằng văn bản có công chứng.
Đối với các di chúc bằng văn bản Điều 653 BLDS quy định phải ghi rõ:
- Ngày tháng năm lập di chúc: đây là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực
chủ thể của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc về độ tuổi đã đủ hay chưa, có
khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và minh mẫn sáng suốt hay không? Trong
trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc khác nhau thì ngày tháng năm lập di
18
chúc là một trong những căn cứ để xác định bản di chúc nào là bản di chúc sau cùng
của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc không ghi rõ ngày, tháng, năm nhưng không có ai tranh
chấp về vấn đề này, nội dung di chúc không trái với những bản di chúc khác (nếu
có) thì theo quan điểm của chúng tôi vẫn có thể coi là di chúc hợp pháp.
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc: là căn cứ để xác định thẩm
lợi cho người lập di chúc khi họ có tài sản ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau [21,
tr4]. Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm này, do vậy trường hợp tài sản là
phương tiện giao thông đang hoạt động hoặc đang bị thất lạc mà người lập di chúc
không biết rõ địa điểm hiện có di sản thì di chúc này cũng không vi phạm pháp luật.
- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ: đây là
nội dung thể hiện rõ nét quyền của người lập di chúc đối với những người thừa kế.
Theo ý chí của mình, họ có quyền giao cho người thừa kế những nghĩa vụ có thể
được thực hiện một lần hoặc kéo dài không xác định được thời điểm kết thúc.
Người lập di chúc có thể giao cho một, một số hoặc tất cả những người thừa
kế thực hiện một hay nhiều nghĩa vụ. Ai là người phải thực hiện nghĩa vụ và nghĩa
vụ đó là gì phải được ghi rõ như trả nợ hoặc phải thực hiện một công việc (xây nhà
thờ họ, bốc mộ, nuôi dưỡng một người...). Đối với nghĩa vụ về tài sản thì những
người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mỗi người được
hưởng. Nếu chỉ một số người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà nghĩa vụ đó vượt
quá phần di sản họ được hưởng thì sẽ phải trích thêm từ phần di sản của những
người thừa kế khác để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ.
- Để nội dung di chúc được rõ ràng, dễ hiểu thì người lập di chúc không
được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu...Nhưng nếu di chúc có chữ viết tắt, viết bằng
ký hiệu, bằng tiếng nước ngoài mà những người thừa kế hiểu được và nhất trí công
nhận thì vẫn coi là di chúc hợp pháp.
Đối với di chúc gồm nhiều trang thì người lập di chúc phải đánh số thứ tự và
ký vào từng trang để tránh bị thay thế, giả mạo hoặc thay đổi nội dung di chúc trái
với ý chí của người lập di chúc.
Ngoài ra, đối với mỗi loại di chúc bằng văn bản lại phải đáp ứng được các
yêu cầu khác nhau như sau:
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Nếu người lập di chúc không
thể tự viết được thì có thể nhờ người khác viết và phải có ít nhất hai người làm
chứng; người lập di chúc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước sự chứng
pháp luật một số nước. Ví dụ: Điều 976 BLDS Nhật Bản quy định về điều kiện, thủ
tục lập di chúc miệng rất chặt chẽ: “Trong trường hợp một người đang đứng trước
21
sự nguy hiểm do bệnh tật hay nguyên nhân khác muốn lập di chúc thì có thể làm
việc đó với ít nhất ba nhân chứng bằng cách đọc bằng miệng nội dung của di chúc
cho một trong số họ. Trong trường hợp này người được đọc cho nghe phải ghi chép
và từng nhân chứng sau khi tin chắc những văn bản được chép đúng phải ký và
đóng dấu vào đó.
Di chúc thực hiện phù hợp với các quy định ở phần trên sẽ không có hiệu lực
chừng nào trong phạm vi 20 ngày kể từ ngày lập di chúc mà không có ai trong số
các nhân chứng hoặc người có liên quan đến yêu cầu Toà hôn nhân gia đình xác
nhận di chúc đó. Tòa Hôn nhân gia đình có thể không xác nhận di chúc đó chừng
nào chưa tin chắc rằng nó phản ánh ý muốn thực sự của người lập di chúc.”
Như vậy, pháp luật Nhật Bản quy định rõ di chúc miệng phải có từ ba người
làm chứng trở lên, người lập di chúc phải đọc bằng miệng nội dung di chúc, sau 20
ngày di chúc phải được Tòa Hôn nhân gia đình xác nhận.
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, di chúc miệng là “Di chúc bằng lời nói
(thường gọi là lời trăng trối lúc lâm chung) của người bị cái chết đe dọa do bệnh
tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản”[17, tr49].
Khác với hình thức viết, trong những trường hợp do bệnh tật hay tai nạn, sự cố…
tính mạng bị đe dọa, người lập di chúc có quyền thể hiện ý chí bằng lời nói để lại di
sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết và di chúc này có hiệu lực pháp luật
(Điều 651 BLDS 2005). Tuy nhiên, chỉ trong trường hợp đặc biệt, ngoài lời nói ra
không có cách nào khác thể hiện ý chí của mình thì hình thức di chúc miệng mới
được pháp luật công nhận.
Về hạn chế của hình thức di chúc này có tác giả nhận xét: “di chúc miệng là
một loại di chúc mà nó không có cơ sở vững chắc về chứng cứ, khi có tranh chấp