Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện tại quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ XUÂN VĨ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TẠI QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ XUÂN VĨ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TẠI QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

huyện tại Quảng Nam................................................................................................55
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TẠI QUẢNG NAM
...................................................................................................................................64
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại ở
Việt Nam hiện nay ....................................................................................................64
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam ...................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

LTM

Luật thương mại

LTTTM

Luật tố tụng Thương mại

đồng rất phổ biến, đây là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất trong việc xác lập các
quan hệ thương mại. Từ những phát sinh đó, việc lựa chọn một phương thức để giải
quyết các tranh chấp của Hợp đồng thương mại là rất cần thiết. Việc giải quyết các
tranh chấp trong lĩnh vực này cần kịp thời và nhanh chóng. Mặc dù Nhà nước luôn
khuyến khích các chủ thể kinh tế giải quyết mâu thuẫn với nhau thông qua việc
cùng nhau thỏa thuận, trong trường hợp không giải quyết được thì mới lựa chọn
phương thức giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án, đây là phương thức lựa chọn
cuối cùng.
Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, để giải quyết các tranh chấp Hợp đồng thương
mại thì các chủ thể thường chọn phương thức giải quyết bằng Tòa án nhằm đảm bảo
hiệu quả trong việc giải quyết cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Điều này cũng lý giải được rằng Tòa án là công cụ bảo đảm cho các bên thực hiện
nghĩa vụ của mình thông qua biện pháp cưỡng chế thi hành bởi các phán quyết của
Tòa.
Tại tỉnh Quảng Nam, hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng
thương mại tại Tòa án cũng mang ý nghĩa quan trọng không chỉ đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp mà có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Nếu giải quyết
tranh chấp có hiệu quả thì góp phần không nhỏ trong môi trường kinh doanh an
toàn, lành mạnh.
Trước đây, việc áp dụng pháp luật được thay đổi qua các thời kỳ tuy cũng
mang lại kết quả cao trong công tác giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại tại

1


tỉnh Quảng Nam nhưng vẫn còn một số vướng mắc. Thực tiễn thực tiễn áp dụng
pháp luật để giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại ở Tòa án nước ta nói
chung và các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng
cũng còn một số vướng mắc và bất cập cần phải nghiên cứu. Việc hạn chế, bất cập
trong khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn xét xử còn thiếu đồng bộ, chưa thống

PGS.TS Nguyễn Như Phát, TS Lê Thị Thu Thủy nghiên cứu về đề tài: “ Một
số lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”.
Đề tài: “Tranh chấp hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng” và đề tài “Tăng cường vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh tế” của TS. Phan Chí Hiếu.
Tại tỉnh Quảng Nam có Th.s Trần Thị Như Mơ đã nghiên cứu về đề tài: “Giải
quyết tranh chấp thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam”.
Th.s Nguyễn Văn Hợp với đề tài:“Lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án”.
Đề tài: “Hoàn thiện thủ tục pháp lý về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án” của Th.s Tăng Thị Nhớ.
Th.s Võ Thị Ngọc Huyền nghiên cứu: “Giai đoạn chuẩn bị xét xử trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại”.
Và rất nhiều đề tài của các nhà khoa học đã nghiên cứu về giải quyết tranh
chấp hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng tín dụng, mua bán hàng hóa, cho
thuê,… nói riêng. Đồng thời, các đề tài nghiên cứu trên hầu hết đều nghiên cứu
chung về lĩnh vực tranh chấp kinh doanh thương mại, tuy nhiên các bài viết chủ yếu
dừng lại trên phương diện lý thuyết chưa thật sự áp dụng trong thực tế công tác giải
quyết. Ngoài ra, việc nghiên cứu về giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại
bằng con đường Tòa án vẫn còn hạn chế và nghiên cứu đề tài pháp luật về giải
quyết tranh chấp thường mang tính chất thời sự, bởi lẽ những vấn đề mâu thuẫn
càng đa dạng, phức tạp vì vậy vấn đề này vẫn còn bất cập.
Dựa trên cơ sở tiếp thu từ những đề tài đã nghiên cứu nêu trên, tôi muốn mô tả
rõ hơn về việc giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh trong hợp đồng thương
mại bằng con đường Tòa án cũng như việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh
chấp chấp này. Và cùng với tình hình thực tiễn, các hiểu biết trong học tập đưa ra

3



4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy phạm pháp luật về giải quyết
tranh chấp hợp đồng thương mại và những bản án của tòa án nhân dân cấp huyện tại
Quảng Nam về vấn đề này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tranh chấp hợp đồng thương mại và việc giải quyết tranh chấp này là vấn đề
rất rộng lớn, có thể nhìn nhận đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi
nghiên cứu đề tài luận văn, tôi chỉ nghiên cứu chủ yếu về mặt lý luận, đồng thời đưa
ra thực trạng của pháp luật căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đề cập đến các vụ án
được xét xử bởi một số tòa án nhân dân cấp huyện trong thực tiễn điển hình: Duy
Xuyê, Điện Bàn, Tp. Hội An tại tỉnh Quảng Nam nhằm tháo gỡ những vướng mắc
đồng thời đưa ra giải pháp để hoàn thiện.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp lý luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin; quan điểm của Đảng và nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu nêu trên chủ yếu vận dụng nghiên cứu theo phương
pháp truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, đó là:
- Phương pháp khai thác tài liệu sẵn có như Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng
dân sự 2015, Luật thương mại 2005, Luật Trong tài thương mại và các Văn bản pháp
luật khác có liên quan đến nội dung cần nghiên cứu tại Chương 2 của luận văn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tranh
chấp hợp đồng thương mại và việc giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng thương



Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp hợp đồng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh có quan hệ kinh tế thương
mại chặt chẽ và khắng khít với nhau. Các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh tế đều
muốn giữ lòng tin, duy trì sự hợp tác lâu dài nhằm đảm bảo tình đoàn kết, phát triển
ổn định. Tuy nhiên, vì lý do nào đó, mối quan hệ kinh tế giữa họ lại có sự bất đồng
dẫn đến tranh chấp trong kinh tế thương mại, đặc biệt là tranh chấp Hợp đồng
thương mại.
Để hiểu như thế nào là Tranh chấp hợp đồng thương mại thì cần tìm hiều rõ
các khái niệm về Tranh chấp là gì? Hợp đồng là gì? Thương mại là gì? từ đó ta có
thể hiểu rõ hơn về Tranh chấp Hợp đồng thương mại.
a, Tranh chấp là gì?
Khi các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế đều không tránh những mâu thuẫn,
việc tranh chấp thường phát sinh từ những mâu thuẫn đó. Như vậy, mâu thuẫn được
hiểu là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển – đây
là quan điểm theo chủ nghĩa - Mac Lênin. Trong cuộc sống, mâu thuẫn luôn tồn tại,
đó là điều tất yếu ở mọi nơi, trên mọi lĩnh vực tạo nên sự phát triển của xã hội. Và
tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi
ích của các bên tranh chấp muốn đạt được nhằm bảo về quyền lợi của mình.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co
khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” [1,66,
tr1024].
b, Hợp đồng là gì?

hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp
đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do
tuyệt đối.
Tóm lại, theo quan điểm của bản thân thì cho rằng Hợp đồng là sự thỏa thuận

8


giữa hai hay nhiều bên với mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ
của các bên. Đồng thời, khi giao kết một hợp đồng nào đó thì đây là một hành vi
pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ.
Ngoài ra, các chủ thể trong hợp đồng luôn đóng vai trò quan trọng và cần có
sự thống nhất của giữa các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm
phát sinh các nghĩa vụ nên có sự ràng buộc giữa các bên với nhau.
c, Thương mại là gì?
Đối với thương mại thì thường được hiểu: Thương mại là khâu nối liền sản
xuất với tiêu dùng thông qua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và
người mua bao gồm những hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,…giữa hai hay
nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay
bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại trao đổi hàng hóa.
Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ...
cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương
nào đó.
Hiện nay, các quan hệ kinh tế trong hợp đồng thương mại cũng thay đổi theo
sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và trở nên
phong phú hơn. Hợp đồng thương mại thể hiện được nguyên tắc các chủ thể tự
nguyện, bình đẳng với nhau và trở thành phương tiện nhằm phục vụ cho mục đích
kinh doanh. Tóm lại, trong nền kinh tế thì trường thì đây là hình thức pháp lý chủ
yếu giúp các quan hệ giữa các chủ thể kinh tế thực hiện công việc của mình.

Tranh chấp hợp đồng thương mại thể hiện qua các loại hợp đồng thương mại
cụ thể như: các thỏa thuận về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; những hợp
đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù khác ví dụ: hợp đồng giao
nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị mới, khu nhà ở, dự án
hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp....
1.1.1.2. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau
và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Với cách hiểu về hợp đồng thương mại như
trên, hợp đồng thương mại mang những đặc điểm đặc thù như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thì hợp đồng thương mại được giao kết giữa các chủ thể

10


là thương nhân. Việc xác định tranh chấp thương mại thì cần xác định trong đó có ít
nhất một bên chủ thể là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có thể các cá nhân, tổ chức
hoạt đông liên quan đến thương mại, chẳng hạn: tranh chấp giữa các thành viên
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia,
tách…công ty hoặc tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty. Vì vậy, một
tranh chấp được coi tranh chấp hợp đồng thương mại thì phải có ít nhất một bên là
thương nhân trong giao kết hợp đồng. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp, các cá
nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp này.
Thứ hai, về hình thức thì hợp đồng thương mại được thực hiện theo cách thức
mà hai bên thỏa thuận. Hợp đồng có thể được thể hiện qua lời nói, bằng văn bản hay
hành vi cụ thể của các bên giao kết. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp nhất định
thì hợp đồng phải được thiết lập bằng văn bản, ví dụ như hợp đồng quảng cáo, hợp
đồng ủy thác mua bán hàng hóa, triển lãm thương mại, đại lý thương mại,… Thông
thường các hợp đồng thương mại được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn
và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với những hợp đồng đơn giản,

liền với đất đai.
Như vậy, hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa đang tồn tại
hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động sản
được phép lưu thông trong thương mại.
Ngoài ra, còn có hợp đồng dịch vụ là hợp đồng cung ứng dịch vụ liên quan
trực tiếp đến mua bán hàng hóa (hợp đồng trong các hoạt động xúc tiến thương mại,
trung gian thương mại, các hoạt động thương mại cụ thể khác); các hợp đồng cung
ứng dịch vụ chuyên ngành (hợp đồng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đào
tạo, du lịch...). Những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù
khác (hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị
mới, khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp...).
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, bản chất, vai trò của giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại tại Tòa án
1.1.2.1. Khái niệm của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án
Mối quan hệ trong hoạt động kinh tế tương đối đa dạng và phức tạp vừa mang
tính xung đột, vừa mang tính hợp tác. Tuy nhiên, khi các chủ thể kinh tế tham gia
trong quan hệ hợp đồng đều biết rằng việc có thể xảy ra tranh chấp và việc lựa chọn

12


phương thức giải quyết tranh chấp đó cũng là vấn đề đặt lên hàng đầu, có thể ngay
trong thỏa thuận tại Hợp đồng cũng có thể tại thời điểm có tranh chấp. Phương thức
giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành
theo trình tự, thủ tục nhất định, nghiệm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của
Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi
hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Như vậy, giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án là khi các
tranh chấp hợp đồng phát sinh do bất đồng giữa các chủ thể trong quá trình thực
hiện hợp đồng mà các bên không thể tự thỏa thuận, tự liên hệ với nhau để hòa giải,

hợp hợp cho mình, tùy thuộc vào phạm vi và mức độ khác nhau. Kể cả khi đưa vụ
án ra giải quyết thì các đương sự vẫn có quyền thay đổi, bổ sung hoặc thậm chí có
thể rút yêu cầu khởi kiện.
Ngoài ra, trước khi khởi kiện, đương sự có quyền mời Luật sư hay người nào
đó chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, phương án khởi kiện và có thể thay mặt đương sự tham
gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án mà không cần trực
tiếp phải có mặt tại Tòa khi khởi kiện.
Thứ ba, tính cưỡng chế khi giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại
Tòa án
Sau khi được Tòa án ra Bản án hoặc Quyết định thì buộc các bên phải thực
hiện đúng theo Bản án hoặc Quyết định đó. Đồng thời, việc thi hành này sẽ có biện
pháp cưỡng chế nêu các bên không tự nguyện thi hành án. Đây là điểm là một ưu
điểm so các phương thức giải quyết khác trong tranh chấp thương mại, lợi ích của
bên bị xâm phạm được đảm bảo.
Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án thì
cũng có một số điểm hạn chế nhất định. Các thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua
tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Đồng thời, trong
hoạt động kinh doanh thì việc xét xử công khai tại tòa án không phù (có thể làm sút
giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ các bí mật kinh doanh…). Ngoài ra,
bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo khiếu
nại nên thời gian kéo dài.

14


1.1.2.3. Bản chất của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại thông qua
Tòa án
Về bản chất, phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án là một phương thức
mang ý chí quyền lực nhà nước, tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết
tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật. Khi vụ án tranh chấp có Quyết

khác qua xét xử công khai còn có tác dụng tuyên truyền pháp luật cho quần chúng
nhân dân trong nhận thức về pháp luật.
Như vậy, có thể thấy xét xử công khai nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra và giám
sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử và tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật
cho người dân.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét
xử: sơ thẩm và phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo
thủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vì khi bản án hoặc quyết định giải quyết vụ
án tranh chấp của Tòa án sơ thẩm khi ban hành sẽ chưa có hiệu lực pháp luật ngay
mà được dự liệu một thời gian nhất định cho các đương sự suy nghĩ về quyền lợi
của mình có đã đảm bảo hay chưa và các đương sự có thể kháng cáo; đồng thời
Viện kiểm sát có thể kháng nghị khi cho rằng nhận định của Tòa án chưa chính xác.
Chính vì vậy, bản án hoặc quyết định của Tòa án có thể sẽ phải được xét xử lại theo
thủ tục phúc thẩm và có thể xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm
đảm bảo quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đảm bảo Tòa án giải quyết đúng
vấn đề cần giải quyết và đưa ra phán quyết cuối cùng chính xác nhất.
Thứ năm, tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo
đa số.
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ,
khách quan của việc nghiên cứu, giải quyết các vụ án dân sự và bảo đảm tính đúng
đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được
tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử. Đồng thời, pháp luật tố
tụng dân sự nước ta chỉ thừa nhận việc xét xử do Hội đồng xét xử thực hiện, mà
không thừa nhận việc xét xử do một cá nhân thực hiện.
Hội đồng xét xử giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng thương mại cũng như
các vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật gồm: một Thẩm phán và hai Hội
thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai

16



17


1.1.2.5. Các yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương
mại tại Tòa án
Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói chung và hoạt động giải quyết các
tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân nói riêng là hoạt động áp
dụng pháp luật. Chủ thể có quyền áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhân dân bao
gồm các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng xét xử. Bản án và quyết định
của Toà án là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Toà án đang là phương
thức giải quyết thông dụng và phổ biến nhất. Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS
Việt Nam năm 2005 thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án liên quan đến nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh doanh,
thương mại, để đảm bảo hiệu quả, chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân cần có những điều kiện nhất
định, trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đưa ra một số yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan
Một trong những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, chính là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp dụng pháp luật
nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Toà án nhân dân nói riêng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải áp dụng các quy định
của Hiến pháp, pháp luật tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản pháp luật khác có
liên quan như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Xây
dựng… nhằm đưa ra bản án và quyết định dân sự chính xác, đúng pháp luật, có hiệu
quả và hiệu lực cao. Chính vì vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt
động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại không
hoàn thiện, thì chất lượng áp dụng pháp luật sẽ không cao, thậm chí không thực
hiện được. Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh

việc xét xử các vụ án tranh chấp này, họ nhân dân quyền lực của Nhà nước để bảo
vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia hoạt động
kinh tế nói riêng và các đương sự nói chung. Trong họ cần phải có những tố chất
nghề nghiệp nhất định, vì ở đây ngoài việc thay mặt cho quyền lực Nhà nước thì họ
còn là tấm gương trong lòng của công dân. Chính vì vậy, với vai trọ vị trí quan
trọng như vậy thì đòi hỏi bản thân những người tham gia xét xử nhằm giải quyết

19


tranh chấp phải được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ chuyên môn, lý luận chính
trị và đặc biệt là có đạo đức tốt,…
Chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia xét xử là sự tổng hợp chất lượng của
từng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… tham gia xét xử được đánh giá thông qua
các tiêu chuẩn về chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức; khả năng hoàn thành
nhiệm vụ được giao theo qui định của pháp luật và theo qui định của ngành.
Là người giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử tại Toà án, Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân phải là những người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn
và kỹ năng xét xử. Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền của Toà án. Xét xử là một công việc phức tạp, nó đòi hỏi người tham gia phải
có trình độ am hiểu về pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có kỹ năng sống, có khả
năng nắm bắt được diễn biến phức tạp của vấn đề. Chính vì vậy, ngoài những tiêu
chuẩn “cứng” về điều kiện trở thành Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã được pháp
luật qui định thì họ còn phải có những năng lực "đặc biệt” được hình thành thông
qua quá trình giao tiếp xã hội, qua học tập... Có thể kể đến một số kỹ năng cơ bản
như:
Nắm vững các qui định pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công đảm nhiệm
một cách chuyên sâu; thu nhận và xử lý thông tin để phục vụ việc thực hiện có hiệu
quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status