CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG , THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ - Pdf 54

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA LUẬT

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG ,
THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ

Sinh viên thực hiện

:

Lớp

:

Giảng viên hướng dẫn :

ThS. Lê Đình Quang Phúc

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018
LỜI CAM ĐOAN


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
Em xin cam đoan chuyên đề này được hoàn thành trên những kiến thức, tài liệu, số liệu em
thu thập được trong quá trình học tập tại trường và thực tập tại tòa án cùng với những kiến
thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn ThS. Lê Đình Quang Phúc. Các tài liệu,
trích dẫn đều có nguồn gốc cụ thể. Các số liệu phù hợp với số liệu thực tế tại Tòa án nhân

kiện tốt nhất cho em để em có cơ hội học hỏi, tiếp xúc với đương sự, tham dự những phiên
tòa, để em có cơ hội trau dồi những kỹ năng, kiến thức còn thiếu.
Mặc dù đã cố gắng trong việc hoàn thành thật tốt chuyên đề nhưng do kiến thức còn đang
hạn chế cũng như thời gian hoàn thành chuyên đề còn ít nên trong quá trình thực hiện
chuyên đề không thể không có sai sót. Em mong sự góp ý của thầy cô giáo để bài chuyên đề
của em hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời chúc đến quý thầy cô giáo của trường Đại học kin tế - Đại học Đà
Nẵng luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, công tác tốt. Em xin gửi lời chúc đến anh chị cán bộ tòa
án nhân dân quận Sơn Trà dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống.
Sinh viên

3


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
MỤC LỤC

4


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tình hình cấp thiết của vấn đề
Tiền tệ có chức năng làm vật đo giá trị và có vai trò quan trọng trong lưu thông, vì
thế tiền là thứ không thể thiếu trong cuộc sống đối với các cá nhân cũng như tổ chức. Đặc


5


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề này với nhiệm vụ chính là làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến hợp
đồng tín dụng, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại tòa án. Bên cạnh đó, đề tài đưa ra nguyên nhân xảy ra tranh chấp, những
yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chỉ ra thực tiễn áp dụng
pháp luật vào giải quyết tranh chấp. Phân tích pháp luật hiện hành quy định về hợp đồng tín
dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Cuối cùng, từ những khó khăn bất cập khi
giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đưa ra những giải pháp hoàn thiện nhằm khắc phục
hạn chế những rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên tham gia cũng như những
người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận
Chuyên đề nghiên cứu dựa trên cơ sở dựa trên quan điểm của Đảng phát triển kinh tế
nhiều thành phần, kinh tế tư nhân được coi trọng là cơ sở hình thành các giao dịch, trong đó
có hợp đồng tín dụng gồm các chủ thể, một bên là chủ thể kinh doanh, cá nhân và một bên
là ngân hàng, tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp luận triết học của
chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chung về nhà nước và pháp luật.
3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên đề này dựa trên cơ sở các
nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong chuyên đề để làm rõ các quy định
của pháp luật, thực tiễn và các vụ việc đưa ra trong chuyên đề.
- Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng trong chuyên đề để diễn giải các nội
dung của quy định pháp luật và các trường hợp điển hình khi đưa vào phân tích đề tài

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, khắc phục hạn chế khi giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng

7


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm của hợp đồng tín dụng
Theo nghiên cứu của các nhà sử học và nhà kinh tế học thì hoạt động cho vay lấy lãi
đã xuất hiện từ rất lâu vào khoảng 2000 năm trước công nguyên. Kinh tế hàng hóa phát
triển, tiền tệ hình thành nên trong cùng một khoảng thời gian luôn có người dư thừa vốn, có
người thiếu hụt vốn, từ đó nhu cầu cho vay và đi vay hình thành Trong xã hội loài nguời từ
khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về vốn của các chủ thể là nhu cầu mang tính
khách quan. Tuy nhiên, xét tại cùng một thời điểm thì có những người thừa vốn tạm thời lại
có những người thiếu vốn tạm thời. Nếu không có sự luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang
nơi thiếu vốn thì nền sản xuất sẽ bị ngưng trệ. Ðể giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn tạm thời tín dụng đã ra đời. Thực chất tín dụng là sự vay mượn
vốn lẫn nhau giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tín nhiệm. Trên cơ sở đó hình thành nên quan
hệ tín dụng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh “Creditium” có nghĩa là sự tin
tưởng, sự tín nhiệm, nó được thiết lập và tồn tại khi các bên tạo lập được niềm tin, theo từ
điển Tiếng Việt thì “tín dụng” là sự vay, mượn có hoàn trả 1. Như vậy, quan hệ tín dụng
được xây dựng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau từ đó bên cho vay chuyển giao một lượng vốn
tiền tệ ( tài sản) để bên vay sử dụng trong một thời hạn.

đảm bảo, giá trị tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên
thỏa thuận4 .
Từ phân tích trên, hợp đồng tín dụng có thể định nghĩa như sau: “Hợp đồng tín dụng
là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một bên
là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện pháp luật quy định (bên đi vay), theo đó bên cho vay
cấp cho bên đi vay một khoản tiền trong thời hạn nhất định”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng cũng là một loại hợp đồng dân sự, nó cũng sẽ có những đặc
điểm mà hợp đồng dân sự khác thường có, bên cạnh đó nó có những đặc điểm khác biệt so
với những hợp đồng dân sự bình thường.
Một là, chủ thể của hợp đồng tín dụng một bên luôn là tổ chức tín dụng được thành lập theo
quy định của pháp luật, còn gọi là bên cho vay. Bên đi vay là cá nhân có đủ năng lực hành
vi và năng lực pháp luật, còn tổ chức thì phải được thành lập theo đúng quy định.
Hai là, về hình thức hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản vì đây là loại hình hợp
đồng mang lại nhiều rủi ro cho bên cho vay hơn các loại hợp đồng khác bởi nghĩa vụ của
bên đi vay chỉ hình thành khi bên cho vay giải ngân, tức là chuyển tiền cho bên đi vay. Theo
quy định tại Điều 17 Quyết định 1672 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam thì hợp
đồng tín dụng phải lập thành văn bản, trong đó, nội dung hợp đồng tín dụng sẽ là sự thỏa
thuận về lãi suất, hình thức trả nợ, thời hạn vay, phí phạt liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng.
Ba là, đối tượng của hợp đồng tín dụng đặc biệt hơn các loại hợp đồng thông dụng, đó là
hình thức vốn, cụ thể là tiền tệ. Và rủi ro giành cho bên cho vay rất lớn nên bên cạnh hợp
đồng luôn xuất hiện các loại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, hay các giấy tờ liên quan
đến việc chứng minh khả năng trả nợ của bên đi vay như bảng kê khai lương. Việc áp dụng
các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng thường được áp dụng để xử lý
nợ xấu trong trường hợp bên đi vay không có khả năng trả nợ, nhằm đảm bảo hoạt động
kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Bốn là, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong hợp đồng tín dụng, bên
cho vay thực hiện nghĩa vụ của mình, trước đó là chuyển tiền cho bên bên vay rồi mới được

đồng, còn bên vay chỉ có việc ký vào hợp đồng nếu ưng thuận, còn hợp đồng vay tài sản thì
cả hai bên sẽ thỏa thuận về hợp đồng đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Sự tham gia
của tổ chức tín dụng là dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp hợp đồng tín
dụng và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác.Về
đối tượng, tiền là đối tượng của hợp đồng tín dụng, còn hợp đồng tài sản thì ngoài tiền ra
còn có các tài sản như xe, nhà, quyền sử dụng đất cũng là đối tượng của loại hợp đồng này.
Về cơ sở pháp lý, hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều 463 Bộ Luật Dân sự 2015,
còn hợp đồng tín dụng chưa có bộ luật nào quy định cụ thể về hợp đồng tín dụng.
1.1.4. Quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng cũng là một phạm trù kinh tế nó vừa có thể là dân sự, nên cần
được sự điều chỉnh của luật nhằm có tính thống nhất khi hoạt động trong lĩnh vực này. Pháp
luật Việt Nam có những quy định chung về một số điều liên quan đến hợp đồng tín dụng
như chủ thể, lãi suất, nội dung của hợp đồng tín dụng trong các bộ luật như: Luật Các tổ
chức tín dụng, một số điều trong Bộ Luật Dân sự và một số văn bản hướng dẫn như: Các
Nghị định của Chính Phủ, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

10


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
Về chủ thể của hợp đồng tín dụng bao gồm bên cho vay và bên đi vay. Bên cho vaycó thể là
các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng được hình thành và hoạt động theo quy
định của luật các tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan. Bên đi vay (gọi là khách hàng
bao gồm khách hàng có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân là các nhân,
doanh nghiệp tư nhân.
Còn về nội dung của hợp đồng có nói đến điều kiện vay vốn, chủ thể bên vay phải có mục
đích sử dụng vốn vay hợp pháp, không được sự dụng để làm những gì pháp luật nghiêm
cấm. Đây là điều kiện bắt buộc được điều chỉnh thể hiện cụ thể ở phương án vay: sử dụng

5 Khoản 4 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng 2010

11


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
Đối với phương thức cho vay, trên thực tế có nhiều phương thức thực hiện như việc cho
vay : Cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay trả góp. Phương
thức cho vay tùy vào từng ngân hàng cụ thể, họ có những chính sách cho vay khác nhau
cũng như phương thức cho vay khác nhau nhằm thu hút khách hàng.
Những quy định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng: Lãi suất là nội dung cơ bản của hợp
đồng tín dụng, lãi suất là mục đích sinh lời của các tổ chức tín dụng, cũng là điều mà khách
hàng quan tâm khi vay vốn. Nó cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp hợp đồng
tín dụng khi người vay không trả được vốn bởi khi đi vay họ đang rất cần tiền nên miễn có
tiền họ không hề quan tâm đến lãi suất, đến khi vỡ nợ mới phát hiện ra, lãi suất khá cao, dẫn
đến tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, quy định của lãi suất không được đồng nhất
giữa các ngành luật. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không được quá 20%/ năm (quy
định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015), ở đây lãi suất không được quy định rõ, riêng
biệt cho hợp đồng tín dụng. Trong khi đó luật các tổ chức tín dụng 2010 (tại Điều 91, 92) lại
quy định cơ chế lãi suất theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Thời hạn vay được quy định tại của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHN ngày 31/12/2001
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ
sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thoả thuận về thời hạn cho vay. Đối với các
pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại
theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước
ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt
Nam.6 . Thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn được xác định trước và ghi trong hợp đồng tín
dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay, chia thành vay ngắn hạn (dưới một năm, 12

được đảm bảo bởi đặc trưng của loại hợp đồng này khá rủi ro. Tuy nhiên, nó cũng phải đảm
bảo xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên đi vay. Khi các bên đã thỏa
thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì các bên phải có nghĩa vụ thực
hiện đúng những điều đã cam kết. Nếu một trong hai bên vi phạm cam kết gây thiệt hại cho
bên kia, họ phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm. Như vậy khi giải quyết
tranh chấp thì hợp đồng tín dụng là bằng chứng để quy trách nhiệm cho các bên.
Cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Ðối với các hợp đồng khác, quyền và nghĩa vụ của các
bên thường xuất hiện đồng thời như: hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng lao động…còn
với hợp đồng tín dụng ngân hàng nghĩa vụ chuyển giao tiền (giải ngân) của tổ chức tín dụng
bao giờ cũng phải thực hiện trước tạo cơ sở pháp lý tiền đề cho bên vay thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình. Tổ chức tín dụng chỉ có quyền yêu cầu bên vay thực hiện các nghĩa
vụ như cam kết trong hợp đồng tín dụng (như: sử dụng tiền vay đúng mục đích, trả nợ đúng
hạn…) khi tổ chức tín dụng chứng minh được rằng họ đã chuyển tiền cho bên vay theo đúng
cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín
dụng và khách hàng vay, nó là cơ sở để giải quyết mọi tranh chấp liên quan sau này. Xuất
phát từ tính chất và vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín dụng có
những nét đặc thù riêng biệt. Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên
phải thực hiện đúng tất cả nghĩa vụ được ký kết trong hợp đồng nhằm đảm bảo tính hiệu lực
của hợp đồng cũng như hạn chế rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quan hệ hợp đồng.
1.2.
Tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1. Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nền kinh tế đang trên đà phát triển, người dân có nhu cầu vay vốn càng cao, vậy nên
hợp đồng tín dụng ngày càng phổ biến hơn trong nền kinh tế thị trường. Vậy nên, tranh chấp
hợp đồng tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Hợp đồng tín dụng, bản chất của nó là một
hợp đồng dân sự nên tranh chấp hợp đồng tín dụng sẽ có những đặc điểm mà một hợp đồng
dân sự bình thường có. Tuy vậy, hợp đồng tín dụng có tính chất đặc thù nên tranh chấp hợp
đồng tín dụng sẽ có những đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại hợp đồng
dân sự khác. Sau đây là những đặc điểm mà hợp đồng tín dụng sẽ có.

tranh chấp hợp đồng thường chỉ phát sinh khi bên đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
của mình.
Ba là, tranh chấp hợp đồng tín dụng có giá trị hợp đồng rất lớn. Hợp đồng tín dụng được
hình thành là do một bên thiếu hụt vốn, có nhu về vốn mà mình không thể huy động được,
thường thì nhằm bổ sung vốn để kinh doanh. Số tiền này không dễ dàng vay được từ người
thân, bạn bè, tổ chức mà không phải là tổ chức tín dụng. Về phía bên cho vay là tổ chức tín
dụng, bởi với đặc thù của tín dụng là sự cung cấp nguồn vốn đến những cá nhân nhân tổ
chức trên cơ sở huy động vốn của những cá nhân tổ chức có thừa vốn trong lưu thông và
đưa cho bên kia sử dụng số vốn đó. Và tổ chức tín dụng thực ra chỉ là trung gian trong hoạt
động tín dụng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì còn đóng vai trò
là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại. Trong hoạt động tín dụng thì tổ chức tín
dụng đóng vai trò trung gian nhằm để luân chuyển nguồn vốn. Để đạt được lợi nhuận cao thì
các tổ chức tín dụng thường kí kết các hợp đồng có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm
bảo tại thời điểm cho vay. Do bên đi vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho
hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng,
không trả nợ cho các tổ chức tín dụng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tổ chức tín
dụng. Thực tế không hiếm các trường hợp lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ
xấu’. Một khi bên đi vay không thể thanh toán được nợ, và tranh chấp xảy ra thì tổ chức tín
dụng sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn nhất, điều này làm ảnh hưởng đến rất nhiều cá nhân tổ
14


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
chức khác, có thể gây nên hiệu ứng dây chuền. Đặc biệt, nếu tranh chấp mà phải khởi kiện
tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho tổ chức khi muốn thu hồi vốn. Bởi khi đã bị khởi kiện
tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ. Mặt khác, khi tranh
chấp xảy ra thì sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn đối với tổ chức tín dụng đó , các hoạt
động tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài
chính của mình. Do đó, có thể nói tranh chấp hợp đồng tín dụng là loại tranh chấp có giá trị

được hết các quỹ đen của khách hàng, cũng như các khoản vay nặng lãi của người đi vay.
Thậm chí, còn có trường hợp nhân viên ngân hàng khi cho vay không nắm giữ được giấy tờ
gốc của khách hàng nên khi khách hàng bán tài sản đã thế chấp cho người thứ ba dẫn đến
xảy ra tranh chấp giữa người thứ ba và ngân hàng. Nhưng những trường hợp này trên thực
15


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
tế xảy ra không nhiều vì nghiệp vụ của chuyên viên tài chính tại các ngân hàng là vô cùng
tốt, chỉ có một số trường hợp sai sót mới dẫn đến điều đó.
Khi một bên trong quan hệ hợp đồng tín dụng vi phạm thì bên còn lại có quyền thực
hiện quyền yêu cầu chấm dứt hành vi, đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc đòi bồi thường
thiệt hại theo thực tế. Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng tín dụng chưa được chặt chẽ và thống nhất. Đặc biệt, vấn đề thực hiện
quyền và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng tín dụng đã ký kết chưa thực sự khách quan và
công bằng cho hai bên đó là mấu chốt gây ra nhiều mâu thuẫn và xung đột về quyền lợi giữa
hai bên. Do đó, vấn đề tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của các bên vẫn cứ xảy ra.
1.2.3. Giải quyết tranh chấp hợp dồng tín dụng

Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể nên
việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết một cách kịp thời, nhanh
chóng, chính xác, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất về rủi ro để các chủ thể
tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới, giảm sự tổn thất đến mức tối thiểu giành cho
mình. Trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí mật về hoạt động
kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ tranh chấp. Bởi vì, các bên còn nhiều
đối tác trong quan hệ kinh doanh khác, nên việc giữ uy tín là hết sức quan trọng.Và một
điều nữa, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của
các bên với chi phí giải quyết thấp. Hiện nay có các phương thức giải quyết tranh chấp phát

với quy định của pháp luật.
Hai là, hoà giải, đây là phương thức mà các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận
để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng khác với thương lượng là hoà giải có sự hỗ trợ
của bên thứ ba là hòa giải viên. Phương thức hòa giải với những ưu điểm như: thủ tục, thời
gian, địa điểm hoà giải dựa trên sự thỏa thuận và điều chỉnh của các bên tham gia, các bên
có quyền tự định đoạt và lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải. Hòa giải mang
tính thân mật nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của
cả hai bên. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh
chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu căng thẳng thắng thua như quá trình kiện tụng tại tòa
án, bên cạnh đó còn duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên. Do hòa giải xuất phát từ
sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn hướng
tới lợi ích của tất cả các bên. Mặt khác, là khi giải quyết bằng con đường này các bên đảm
bảo được những bí mật của mình bởi hòa giải được tổ chức kín, trong khi giải quyết tại Tòa
án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công
khai. Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng phương
pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: cũng giống như thương lượng,
việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải
viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với
các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của
Trọng tài thương mại hay của Tòa án. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa
giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện
của các bên. Vì vậy, phương pháp này ít được sự dụng nếu các bên không có sự tin tưởng
với nhau.
Thứ ba là trọng tài thương mại, thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại cho thấy có một số ưu điểm sau: Phương pháp giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại với nguyên tắc xét xử kín nếu các bên không có
thỏa thuận khác, quyết định của Trọng tài thương mại là quyết định cuối cùng, bắt buộc các
bên phải thực hiện theo. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện tính linh hoạt và mềm
dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm
được thời gian, rút ngắn thủ tục tố tụng, trong trường hợp có yếu tố nước ngoài thì không

chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án cũng có những nhược điểm nhất
định so với các hình thức khác như: với đặc trưng là các thủ tục nghiêm ngặt, khá cứng nhắc
nên thời gian để giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Hơn nữa, với nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án
có thể làm giảm uy tín của các bên trong hoạt động kinh tế sau này; đồng thời có thể lộ các
bí mật kinh doanh cản trở hoạt động trong kinh doanh đối với các chủ thể bên vay là doanh
nghiệp. Ngoài ra, bản án xét xử sơ thẩm chưa được thi hành ngay mà các bên còn có quyền
kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh
của các bên.
1.3.

Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại tòa án thì phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền quyết
định và tự định đoạt của các đương sự, các đương sự có quyền lựa chọn tòa án làm cơ quan
giải quyết tranh chấp, cũng như việc lựa chọn tòa án giải quyết trong trường hợp có nhiều
7 Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, giải quyết các tranh
chấp thương mại như thế nào?, NXB Tài chính, 2001,tr78.
8 Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, giải quyết các tranh
chấp thương mại như thế nào?, NXB Tài chính, 2001,tr79.

18


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
tòa án cùng có thẩm quyền. Thứ hai, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ và chứng minh, mọi phán quyết của thẩm phán dựa trên những chứng cứ, tài liệu liên
quan do các bên cung cấp, cơ quan tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ, tài liệu liên

kiểm sát thì bản án sơ thẩm sau 30 ngày kể từ ngày ra bản án thì có hiệu lực áp dụng. Giai
đoạn xét xử phúc thẩm, nếu trong vòng 15 ngày có kháng cáo của các đương sự thì vụ án sẽ
được xét xử phúc thẩm.

19


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
2.1. Thực trạng về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
2.1.1. Thực trạng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng ngày càng phổ biến, nên tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Theo
thống kê, trong các tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, hợp đồng dân sự thì hợp
đồng tín dụng chiếm tỉ lệ lớn nhất và không có dấu hiệu giảm về số lượng. Án tranh chấp
hợp đồng tín dụng có chiều hướng gia tăng rõ rệt, nó chiếm khoảng 40% trong các tranh
chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp hợp đồng dân sự. Sự gia tăng về mặt số lượng này
đã phản ánh đúng thực trạng tranh chấp hiện nay, tranh chấp hợp đồng tín dụng đang chiếm
con số lớn. Một số năm trở lại đây tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp.
Điều này tác động bất lợi đến kinh tế cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng.
Các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các biến động về kinh
tế, chính trị trong thời gian này. Người dân, cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
thành phố Đà Nẵng gặp một số khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày cũng như hoạt động sản
xuất kinh doanh như thiếu vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao, khả năng thu hồi vốn chậm từ
các dự án, công trình xây dựng điều này dẫn đến các cá nhân, các doanh nghiệp đi vay vốn
ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác ngày càng tăng cao.Trong đó lãi suất cho vay liên tục

trường hợp có lý do chính đáng, chưa có đủ điều kiện khởi kiện thì tòa án trả lại đơn cho
nguyên đơn. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn
khởi kiện.
Tiếp đó, Tòa án sẽ tiến hành các bước như: Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ
các nội dung đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2, Điều 189 Bộ luật Tố dụng dân sự
2015 thì Tòa án tiến hành yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không được
quá ba mươi ngày; trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn, nhưng không quá mười
lăm ngày. Khi nguyên đơn bổ sung đầy đủ đơn khởi kiện thì Toà án tiếp tục thụ lý vụ án;
nếu họ không thực hiện theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện và bên nguyên đơn nộp đầy đủ án phí thì tiến hành việc thụ
lý vụ án: Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo thì Toà án thông báo
ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong
trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào
phiếu báo và thông báo cho nguyên đơn để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười
lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người
khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp lại cho
Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu thuộc trường hợp được miễn tiền án phí. Trong thời hạn ba
ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án ra thông báo bằng văn bản cho bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về
việc Toà án đã thụ lý vụ án. Sau khi vụ án được thụ lý thì phân công thẩm phán giải quyết:
Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một
Thẩm phán giải quyết vụ án.
Hòa giải và chuẩn bị xét xử: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập các đương sự
để tiến hành lấy lời khai. Trong trường hợp vụ án không thuộc trường hợp không được hòa
giải (quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng dân sự 2017) hoặc không tiến hành hòa giải được
thì Tòa án ra Thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của
đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà
giải. Thành phần phiên hòa giải gồm: thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký Tòa án ghi

thuận của các đương sự nếu hòa giải thành; tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp
các bên bổ sung tài liệu chứng cứ liên quan; đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp
nguyên đơn rút đơn khởi kiện; hoặc đưa vụ án ra xét xử: trong thời hạn một tháng kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án mở phiên toà; trong trường hợp có lý do
chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm: Phiên toà sơ
thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án
ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên toà trong trường hợp phải hoãn phiên toà.Phiên
tòa được mở xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục và được công khai. Phải có sự có mặt
của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong
trường hợp khi tòa triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nếu các đương sự có người vắng mặt thì Hội
đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Khi
hoãn phiên tòa, Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự
kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt
mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường
hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời
22


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
hiệu khởi kiện vẫn còn. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu
độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không
có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án
quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó, trừ trường hợp

các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Sau đó, xét về
phạm vi lãnh thổ: tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc nếu bị đơn là cá nhân, còn nếu bị đơn là
tổ chức thì sẽ là tòa án nơi có trụ sở của bị đơn. Trong trường hợp không biết nơi cư trú, làm
việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có
trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động
của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi
23


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.S Lê Đình Quang Phúc
tổ chức có chi nhánh giải quyết; Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác
nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ
sở giải quyết9. Vì vậy nếu tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại mà bị đơn cư trú
hoặc có trụ sợ tại quận Sơn Trà trong trường hợp biết được nơi cư trú của bị đơn; nếu không
biết nơi cư trú thì nếu quận Sơn Trà là nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở cuối cùng, nơi bị đơn
có tài sản giải quyết thì sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân quận Sơn Trà.
2.2.3. Tình hình giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng tại quận Sơn

Trà
Theo số liệu được thống kê sau đây thì tranh chấp hợp đồng tín dụng chiếm tỉ lệ rất lớn so
với các loại tranh chấp khác. Và loại tranh chấp này có xu hướng ngày càng tăng. Số liệu
sau đây sẽ nói lên số vụ án dân sự, kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng
được giải quyết tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà qua ba năm 2015, 2016 và 2017. Năm
2015, tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã giải quyết tổng cộng 66 vụ việc liên quan đến tranh
chấp hợp đồng tín dụng, trong đó hòa giải thành 16 vụ việc, đạt tỷ lệ 24,24%So với năm
2014, số án đã giải quyết tăng lên 13 vụ. Số vụ còn lại đều trong thời hạn giải quyết theo quy
định của pháp luật. Năm 2016, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã giải quyết tổng cộng 78 vụ
việc về hợp đồng tín dụng, trong đó hòa giải thành 20 vụ, việc, đạt tỷ lệ 25,64%. So với
năm 2015, số án giải quyết tăng 22 vụ việc. Năm 2017, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã

lợi cho hai bên, các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng trong những năm qua không bị
kháng cáo.
Thực trạng giải quyết, xét xử các vụ án liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân
hàng ở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà trong những năm gần đây từ năm 2015 – 2017 thì các
vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng xảy ra ở địa phương không còn ít. Cho thấy tranh chấp
xảy ra ngày càng nhiều và người dân ngày càng tin tưởng vào Tòa án để giải quyết tranh
chấp khi các bên giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết do các bên có lựa chọn cơ quan
giải quyết, nhưng trên thực tế việc giải quyết tranh chấp ở Tòa án là khá lâu, mất nhiều thời
gian cho cả phía ngân hàng và khách hàng đi vay. Khi các vụ án được giải quyết ở Tòa án
thì mất từ 4 – 6 tháng thậm chí lâu hơn, điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu
hồi nợ, người dân cũng mất nhiều thời gian trong việc kinh doanh, sản xuất của mình. Nên
khi có tranh chấp hợp đồng tín dụng xảy ra thì các bên thường thương lượng, hòa giải , tự
giải quyết với nhau, khi các bên không thể thương lượng được với nhau thì các bên mới làm
thủ tục khởi kiện ở Tòa án để giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó còn một số hạn chế đó là:
Đơn vị vẫn còn án để quá hạn luật định. Một số vụ tranh chấp để kéo dài, qua nhiều lần xét
xử vẫn không tìm được phương án giải quyết thoả đáng, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích
của các bên.Trong quá trình giải quyết tranh chấp, do việc nghiên cứu tài liệu,chứng cứ
không đầy đủ, rõ ràng, đánh giá chứng cứ không đúng với sự thật khách quan, thậm chí các
Thẩm phán còn xác định sai tư cách tố tụng của đương sự hoặc triệu tập không đầy đủ
những người bắt buộc phải thamgia phiên toà dẫn đến nhiều phiên toà vi phạm nghiêm tr ng
thủ tục tố tụng và kết quả là bản án được tuyên bị huỷ vì vi phạm thủ tục tố tụng. Một số
văn bản pháp luật đã có hiệu lực thi hành trong một thời gian khá dài nhưng nhiều quy định
trong các văn bản đó chưa được Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
cùng các cơ quan hữu quan trong phạm vi thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn
chi tiết thi hành nên có tình trạng các toà áp dụng không thống nhất và kết quả các bản án
hoàn toàn trái ngược nhau giữa các toà. Đội ngũ cán bộ Toà án hiện nay còn thiếu về số
lượng và yếu kém về năng lực, có một số cán bộ Toà án sa sút về phẩm chất, đạo đức và
trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao nên đã có những hành vi vi phạm làm ảnh hưởng không
nhỏ tới danh dự, uy tín của ngành tư pháp. Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
hoạt động của Toà án còn nhiều hạn chế. Những khuyết điểm, tồn tại nêu trên có nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status