Báo cáo thực tập thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án nơi thực tập) - Pdf 48

Chuyªn ®Ò thùc tËp

Phần mở đầu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, tín dụng ngân
hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nó không
chỉ đáp ứng được phân lớn nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nền kinh tế mà thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng còn tạo ra một
phần lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng và chính yếu tố này lại trở thành động
lực thúc đẩy các tổ chức tín dụng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nhân
dân để mở rộng hoạt động cho vay. Kinh tế càng phát triển, nhu cầu về vốn càng
lớn thì vai trò của các tổ chức tín dụng trong việc đáp ứng vốn cho nền kinh tế
trên cơ sở hợp đồng tín dụng càng trở nên quan trọng Chính sách tín dụng ngân
hàng trở thành một vấn đề không thể xem nhẹ trong các chính sách kinh tế của
đất nước.
Một trong những đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng là sự chứa đựng
nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay vì theo cam kết trong hợp
đồng tín dụng bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất
định, nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn, vì thế
mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ
lệ lớn hơn so với các hợp đồng khác.
Trên thực tế hoạt động cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, cụ thể là việc
giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với khách
hàng trong thời gian qua vẫn chưa được quan tâm đúng mức; pháp luật điều
chỉnh lĩnh vực hoạt động này còn nhiều bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu quá
trình áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là cần thiết
nhằm tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật, đồng thời
chỉ ra được những nguyên nhân thực tế dẫn đến các tranh chấp về hợp đồng tín
dụng thường xảy ra. Từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý tháo gỡ những khó
khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, từng bước hoàn



II/ Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tũa ỏn nhõn dõn tỉnh Nghệ
An:
1. Yêu cầu đặt ra trong quỏ trỡnh giải quyết tranh chấp HĐTD của Tũa ỏn:
Trong thực tế, khi thực hiện HĐTD có thể phát sinh những tranh chấp nhất
định do hành vi vi phạm của một trong các bên chủ thể giao kết HĐTD mà các
bên không tự thương lượng, hoà giải được. Việc giải quyết tranh chấp phát sinh
từ HĐTD bằng con đường tài phán được xem như giải pháp cuối cùng để phân
định quyền lợi giữa các bên theo quy định của luật tố tụng. Tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ
HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về
những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD. Một HĐTD chỉ được
coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương diện quyền lợi giữa
các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua những bằng


Chuyªn ®Ò thùc tËp
chứng cụ thể và xác định được. Không phải cứ khi nào có vi phạm hợp đồng thì
khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh
chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một thời gian nhất định hoặc thậm
chí có sự vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không hề có tranh chấp bởi các bên
không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ bằng các
hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ. Trong thực tiễn việc xác định
đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh chấp sẽ có tác dụng rất lớn
trong việc xác định thời hiệu khởi kiện cũng như lựa chọn phương án giải quyết
tranh chấp thật sự đúng đắn và phù hợp với pháp luật, trên cơ sở đó góp phần
đảm bảo lợi ích của nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội.
Toà án là cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân
sự đối với những tranh chấp phát sinh từ HĐTD ký kết giữa các tổ chức tín dụng
với khách hàng mà các bên thoả thuận yêu cầu toà án giải quyết khi có tranh
chấp. Ngoài ra đối với những tranh chấp từ HĐTD nhưng các bên không có thoả

Như vậy, so với số liệu thống kê của các năm trước thỡ số vụ về tranh chấp
HĐTD có xu hướng tăng đáng kể. Cụ thể năm 2007 tổng số vụ tranh chấp mà
Tũa ỏn nhõn dõn tỉnh Nghệ An đó thụ lý và giải quyết là 25 vụ và năm 2006 chỉ
có 19 vụ.
Trong quá trình nghiên cứu các bản án có thể thấy tranh chấp về HĐTD xảy
ra trên thực tế rất nhiều với nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều quan hệ pháp
luật khác. Có thể đưa ra một số vụ điển hình sau:
1. Ngày 25.01.2008, tại trụ sở Toà án nhân dân Tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số 24/2007/TLST ngày 26/6/2007 về tranh chấp HĐTD
theo đơn khởi kiện của Ngân hàng công thương Việt Nam (NHCT VN) đối với
Công ty Cổ phần đá quý và vàng Hà Nội. Đại diện của nguyên đơn là ông Võ
Huy Hạ - Phó giám đốc chi nhánh ngân hàng công thương Bến Thuỷ theo văn
bản uỷ quyền của Tổng giám đốc NHCT VN. Đại diện của bị đơn là ông Cao
Khắc Tấn- Chủ tịch HĐQT của công ty. Theo đơn khởi kiện cũng như tại phiên
toà đại diện cho nguyên đơn trình bày: ngày 11/8/1997, Công ty đá quý và vàng
Nghệ An (sau đó sát nhập vào Công ty cổ phần đá quý và vàng Hà Nội) vay
NHCT VN 1.600.000.000đ, mục đích vay để đầu tư mở rộng xí nghiệp đá quý


Chuyªn ®Ò thùc tËp
1.Công ty CP đá quý và vàng Hà Nội đã trả nợ gốc 930.000.000đ, đến hôm nay
ngày 25/1/2008 còn nợ tiền gốc 670.000.000; tiền lãi 1.837.880.235đ. Tài sản
bảo đảm cho khoản vay là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà ở và nhà
làm việc tại mỏ Quỳ Châu, nhà khách tại phường Hà Huy Tập- TP Vinh- Nghệ
An. Nay buộc Công ty CP đá quý và vàng Hà Nội phải trả toàn bộ tiền gốc
670.000.000đ, còn tiền lãi miễn giảm cho 514.793.595đ còn lại 1.323.086.640đ.
Cộng vả gốc và lãi phải trả là 1.993.086.640đ. Nếu Công ty CP đá quý và vàng
Hà Nội không trả thì đề nghị Toà án xử lý tài liệu, giấy tờ về quyền sử dụng đất
và nhà 4 tầng trên khuôn viên 160,1m2 đất (số nhà trước đây là 429 nay là số
262-Hà Huy Tập-TP Vinh-Nghệ An) của Công ty cổ phần đá quý và vàng Hà

nợ gốc 700.000.000đ.
Toà án đã kiên trì hoà giải nhiều lần nhưng các bên không thoả thuận được
với nhau. Ngày 4/12/2007, toà án đưa vụ án ra xét xử nhưng các bên lại xin tạm
hoãn phiên toà để các bên về thoả thuận với nhau nhưng cho đến nay các bên
vẫn không thoả thuận được. Theo Khoản 2.3; 2.4 Điều 6 của HĐTD số 01 ngày
11/8/1997 nói rõ: khi bên B thay đổi người đại diện hợp pháp của mình thì
người thay thế phải có trách nhiệm kế thừa hoàn toàn khoản nợ và lãi tiền vay
cùng những cam kết mà người đại diện hợp pháp trước đó đã cam kết. Trước khi
chuyển quyền sở hữu, chia tách, sát nhập bên B phải trả hết nợ và lãi tiền vay
cho bên A. Trường hợp chưa trả hết nợ và lãi tiền vay thì phải làm thủ tục
chuyển nợ và lãi tiền vay cho bên mới nhận nếu được bên cho vay đồng ý bằng
văn bản. Đại diện của bên vay mới phải nhận toàn bộ số nợ và lãi tiền vay, thực
hiện những điều mà bên vay cũ đã cam kết trước đây.
Trong biên bản làm việc ngày 25/4/2006 giữa NHCT VN và Công ty CP đá
quý và vàng Hà Nội thì sau khi trả hết nợ gốc (chậm nhất là 30/9/2006) thì
NHCT VN- Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ sẽ phối hợp với Công ty CP đá quý và
vàng Hà Nội làm thủ tục miễn giảm tiền lãi. Nhưng cho đến nay Công ty CP đá
quý và vàng Hà Nội vẫn chưa trả hết tiền gốc mà trong biên bản cũng chỉ nói
miễn giảm chứ không nói miễn hoàn toàn tiền lãi.
Vì các lẽ trên, áp dụng các điều 29, 34, 36, 131, 134 BLTTDS; điều 472,
474, 342, 355 BLDS; Điều 106 Luật đất đai Toà án đã tuyên bố chấp nhận đơn


Chuyªn ®Ò thùc tËp
khởi kiện của NHCT VN, buộc Công ty cổ phần đá quý và vàng Hà Nội phải trả
cho NHCT VN tiền gốc 670.000.000đ; tiền lãi 1.323.086.640đ, cộng cả tiền gốc
và lãi 1.993.086.640đ. Xử lý quyền sử dụng đất và ngôi nhà 4 tầng (diện tích
120m2 nay đo đạc lại là 160,1m2) cùng toàn bộ tài liệu, giấy tờ liên quan đến
quyền sử dụng đất và nhà (số 262-Hà Huy Tập-TP Vinh) của Công ty CP đá quý
và vàng Hà Nội để đảm bảo thi hành án dân sự khoản tiền trên cho NHCT VN.

của bà Nguyễn Thị Đông và ngôi nhà nói trên cũng là của bà Đông. Vì vậy hồ
sơ thế chấp tài sản cho khoản vay trên là không có giá trị pháp lý để xử lý thu
hồi vốn vay theo quy định của pháp luật. Thủ tục của tài sản thế chấp do ngân
hàng giữ nay không còn giá trị vì vậy không cần xử lý trả lại cho người có thủ
tục. Toà án đã quyết định buộc bà Phạm thị Tâm phải trả cho Chi nhánh ngân
hàng công thương Nghệ An tổng số nợ nói trên. Xét bà Tâm hoàn cảnh kinh tế
khó khăn có xác nhận của UBND phường Lê Lợi nên miễn án phí sơ thẩm cho
bà Tâm.
3. Theo bản án số 07/2008/KDTM-ST ngày 26/6/2008 về tranh chấp HĐTD.
Theo đơn khởi kiện của bên nguyên đơn là Ngân hàng công thương Việt Nam
(NHCT VN) đối với ông Nguyễn Hữu Việt- chủ DNTN gương kính Bảo Việt,
trú tại số 107- Phan Chu Trinh-TP Vinh- Nghệ An; người bảo lãnh liên quan là
bà Phạm Thị Mai, bà Phạm Thị Liên và ông Nguyễn Sỹ Hùng, đều trú tại Thị
trấn Đô Lương- Nghệ An về việc ông Việt nhận tiền vay theo 3 HĐTD có thế
chấp tài sản của ông Việt và bảo lãnh tài sản bảo đảm tiền vay của người bảo
lãnh. Đến hạn trả nợ ông Việt và những người bảo lãnh không trả đủ nợ cho
ngân hàng. Cụ thể các khoản vay như sau:
- HĐTD số 205/HĐTD ngày 12/3/2004 ông Việt vay NHCT VN- chi nhánh
ngân hàng công thương Bến Thuỷ 1 tỷ đồng (đã nhận đủ), thời hạn vay 10 năm,
tài sản thế chấp cho khoản vay là nhà ở cấp 4, nhà xưởng, quyền sử dụng đất
313,9m2 thuộc quyền sở hữu của ông Việt theo hợp đồng thế chấp tài sản số
04030205 ngày 3/3/2004. Đến ngày 23/6/2008 đã trả nợ gốc 333.000.000đ, nợ
lãi 416.448.000đ.


Chuyªn ®Ò thùc tËp
- HĐTD số 05030037/HĐTD ngày 12/5/2005 ông Việt vay Chi nhánh ngân
hàng công thương Bến Thuỷ 4tỷ đồng (đã nhận đủ), thời hạn vay 6 tháng sau đó
gia hạn thêm 6 tháng theo hợp đồng sửa đổi ngày 10/11/2005, bảo đảm khoản
vay bằng tài sản thế chấp của ông Việt theo hợp đồng sửa đổi bổ sung thế chấp

hợp đồng bảo lãnh số 05030037 ngày 10/5/2005 bà Mai cam kết bảo lãnh cho
ông Việt nghĩa vụ trả nợ 1,5 tỷ đồng trong khoản vay 4 tỷ. Do ông Việt không
trả nợ tiền vay, Chi nhánh ngân hàng công thương Bến Thuỷ yêu cầu bà Mai là
người bảo lãnh phải trả nợ phần nghĩa vụ bảo lãnh, bà Mai đã thực hiện trách
nhiệm bảo lãnh trả cho ngân hàng 1.854.000.666đ bao gồm nợ gốc và nợ lãi
phần bảo lãnh. Bà Mai đã đòi ông Việt hoàn trả lại số tiền này nhưng ông Việt
không trả. Bà khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết, toà án nhân dân tỉnh Nghệ An
đã thụ lý vụ án dân sự số 02/2007/TLST ngày 9/7/2007. Tiếp đó bà Mai làm đơn
với nội dung trên yêu cầu toà án giải quyết trong vụ án KDTM. Toà án nhân dân
tỉnh Nghệ An có quyết định số 01 ngày 7/5/2008 nhập vụ án dân sự vào vụ án
KDTM để giải quyết.
Xét thấy: 3 HĐTD ký kết giữa Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ với ông Việt là
đúng quy định pháp luật, có hiệu lực pháp luật và 2 bên phải thực hiện đúng các
hợp đồng đó. Các tài sản là quyền sử dụng 313,9m2 đất và nhà xưởng là tài sản
bảo đảm thế chấp của 2 khoản vay theo 2 HĐTD 1tỷ và 4tỷ. Khoản 3 Điều 324
BLDS quy định “trong trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ
đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn”.
Khoản 4 Điều 31 Nghị định số 178/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay
quy định “trường hợp tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn thì các nghĩa
vụ trả nợ khác tuy chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn và được xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ”. Mục 1.2 Điều VII HĐTD số 205 hai bên thoả
thuận “thu hồi nợ trước hạn khi B mất khả năng thanh toán, có nguy cơ phá sản,
có các tranh chấp đe doạ đến tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản đảm bảo…”.
Vì vậy, ngân hàng đòi nợ cả khoản vay 1tỷ đồng là có căn cứ pháp luật.


Chuyªn ®Ò thùc tËp
Đối với HĐTD vay 4tỷ và HĐTD vay 800 triệu đồng, hợp đông 2 bên thoả
thuận cũng như pháp luật quy định bên vay phải trả tiền vay đúng hạn. Theo hợp

tỉnh Nghệ An giải quyết trong năm qua.
So với các năm trước không chỉ có sự gia tăng về số vụ tranh chấp HĐTD được
tũa ỏn thụ lý và giải quyết mà qua nội dung cỏc tranh chấp cũn cho thấy sự phức
tạp giữa cỏc chủ thể trong HĐTD cũng như các hợp đồng liên quan thường đi
kèm với HĐTD ( hợp đồng thế chấp, bảo lónh...). Ngoài ra theo xu hướng chung
của nền kinh tế, nhu cầu vay vốn của các cá nhân, tổ chức ở các tổ chức tín dụng
ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Do đó các tranh chấp HĐTD cũng
có xu hướng tăng nhanh về số vụ và số tài sản trong các HĐTD cũng ngày càng
có giá trị lớn gây ảnh hưởng nhiều đến quá trỡnh sản xuất kinh doanh của các tổ
chức, cá nhân vay vốn cũng như hoạt động của các ngân hàng cho vay.
III/ Một số nhận xét và kiến nghị về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An:
1. Đánh giá chung:
Thông qua các bản án đã được đọc và nghiên cứu về tranh chấp HĐTD cùng
với quá trình tìm hiểu thực tế các phiên toà xét xử trong thời gian thực tập tại toà
án nhân dân tỉnh Nghệ An có thể đưa ra một số nhận xét sau:
Nhìn chung Toà án đã tuân thủ tương đối đầy đủ các quy định của pháp luật
trong suốt quá trình giải quyết các tranh chấp HĐTD, đặc biệt là việc áp dụng
pháp luật nội dung. Từ nội dung của các vụ tranh chấp và cách thức giải quyết
của toà án trong các bản án đã được giải quyết (như các ví dụ nêu trên) có thể
thấy Toà án đã nghiên cứu tương đối kỹ lưỡng các căn cứ trước khi đưa ra quyết
định , áp dụng một cách linh hoạt các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực
hợp đồng tín dụng ( chủ yếu được quy định trong BLDS năm 2005) và bám sát
các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã được các bên ký kết trong quá trình
phân xử. Trong quá trình thụ lý cũng như tại phiên toà xét xử, toà án đã xem xét
một cách khách quan và tổng quát vụ tranh chấp, đưa ra hướng giải quyết căn cứ
vào các chứng cứ đã thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên


Chuyªn ®Ò thùc tËp


Chuyªn ®Ò thùc tËp
đối với những vụ án phức tạp, các thẩm phán thường tiến hành hoà giải nhiều
lần trước khi xét xử để các đương sự tự thoả thuận việc giải quyết tranh chấp
nhằm hạn chế những chi phí cũng như thời gian cho việc giải quyết tranh chấp.
Nhưng nhìn chung việc hoà giải thường không mang lại kết quả, kéo dài vì trước
khi đưa vụ việc ra giải quyết tại toà án thì quan hệ giữa các bên tranh chấp đã
đến giai đoạn căng thẳng, mặt khác phía bên bị đơn thường gây khó khăn cho
việc hoà giải, không tuân theo giấy triệu tập của toà án.
Về tính dứt điểm của các vụ án về tranh chấp HĐTD được giải quyết tại toà
án tỉnh Nghệ An, qua các số liệu tổng hợp cho thấy các vụ án về tranh chấp
HĐTD do toà án giải quyết thường không cao. Sau khi toà án giải quyết, đương
sự thua kiện thường tiếp tục kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm vì những lý do
khác nhau như: không tin tưởng vào phán quyết của toà án cấp sơ thẩm hoặc cố
tình kéo dài thời gian thi hành án hoặc có khi đó là một vụ án phức tạp mà còn
có những quan điểm giải quyết khác nhau…Trong số 33 vụ mà toà án Nghệ An
thụ lý và giải quyết trong năm qua thì có 8 vụ có kháng cáo. Kết quả giải quyết
của toà án cấp phúc thẩm cũng tương đồng với toà án cấp sơ thẩm: huỷ án 0 vụ,
y án sơ thẩm 6 vụ, sửa một phần án sơ thẩm 2 vụ.
2. Một số khó khăn trong quá trỡnh giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tũa
ỏn:
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp HĐTD nói riêng cũng như các tranh
chấp kinh doanh thương mại nói chung Toà án thường gặp một số khó khăn sau:
2.1. Về pháp luật: cũn nhiều hạn chế và bất cập trong các quy định pháp luật
điều chỉnh nội dung HĐTD cũng như quá trỡnh giao kết, thực hiện hợp đồng.
Do đó khi có tranh chấp xảy ra giữa các bên Tũa ỏn thường gặp khó khăn trong
việc xem xét tính pháp lý của HĐTD vỡ sự thiếu rừ ràng trong các quy định
pháp luật nội dung. Việc giải quyết các tranh chấp về HĐTD hiện nay được quy
định khá nhiều trong các văn bản pháp luật: Luật ngân hàng nhà nước, Luật các
tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự và được hướng dẫn cụ thể trong các văn bản

được cấp giấy quyền sử dụng đất chính thức mà chỉ là giấy tạm thời nên cũng
không thể đem thế chấp để vay vốn. Mặc dù vậy, các tổ chức tín dụng cũng


Chuyªn ®Ò thùc tËp
không thể ngừng cho vay đối với 30% số hộ chưa có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và vẫn cứ cho vay là sai luật. Vấn đề đặt ra là cần giải quyết thế nào để
tháo gỡ những ách tắc trên.
Trong quỏ trỡnh thực hiện quy chế cầm cố tài sản để vay vốn ngân hàng cũng
có những vướng mắc cần loại bỏ. Đối với những tài sản phải đăng kí quyền sở
hữu như xe máy, pháp luật quy định xe được cầm cố vốn ngân hàng phải thuộc
sở hữu của chính chủ. Trên thực tế,hiện nay hầu hết xe máy đựoc mua, bán, sang
tên chỉ bằng hỡnh thức viết tay cho nhau chứ khụng phải làm thủ tục sang tên
chính thức. Nghị định 163/2006/CP ban hành ngày 29/12/2006 của Chính phủ
quy định về nội dung cách thức, thời gian xử lý tài sản bảo đảm nhưng chưa có
văn bản hướng dẫn và cũng không có cơ sở để yêu cầu cơ quan thi hành án
tham gia cưỡng chế thu hồi tài sản trong trường hợp người thế chấp không tự
nguyện giao tài sản. Ngõn hàng muốn thu hồi nợ, rỳt cuộc vẫn phải làm theo
cỏch cũ là khởi kiện ra tũa để yêu cầu thi hành án. Qua những bất cập nêu ở trên
đây đũi hỏi phỏp luật cần thỏo gỡ để hoàn thiện hơn tạo điều kiện thuận lợi cho
tũa ỏn trong việc giải quyết cỏc tranh chấp H ĐTD.
(*): Theo thống kê của Bộ Tài nguyên - môi trường

2.2.

Về ý thức của người đi vay:

Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ
chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một

phụ thuộc rất nhiều vào cỏc cơ quan hữu quan khi con nợ chây ỳ,cố tỡnh trỡ
hoón thời gian xử lý tài sản bảo đảm để ngân hàng không thể thu hồi nợ. Một
thực tế là khi ký hợp đồng vay vốn, người vay đó chấp nhận giao nhà nếu như
không trả được nợ song nhiều khi ngân hàng không thể tiến hành phát mại được
vỡ thủ tục sang tờn trước bạ quy định phải có sự đồng ý của chủ sở hữu. Do sự
thiếu chặt chẽ trong quy định của pháp luật đó đẩy ngân hàng vào thế bị động và
bất lợi. Một khi khách hàng không thiện chí, cố tỡnh khụng đồng ý ký tên làm
sang tên trước bạ thỡ ngõn hàng phải đón nhận nguy cơ rủi ro rất cao, không thể
hoàn thành thủ tục xử lý tài sản để thu hồi nợ dẫn đến quá trỡnh khởi kiện giải
quyết ở toà ỏn mất nhiều thời gian và cụng sức hơn.
Theo quy định của pháp luật cho phép ngân hàng được xử lý tài sản bảo đảm
tiền vay để thu hồi nợ nhưng trên thực tế ngân hàng không thể chủ động xử lý
được số tài sản này. Liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp, Nghị định 163/CP


Chuyªn ®Ò thùc tËp
cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn hỡnh thức xử lý đa dạng như bán
tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp
thế chấp quyền đũi nợ, phương thức khác do các bên thỏa thuận. Trường hợp các
bên không thỏa thuận được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất thỡ cỏc tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực
hiện được, các bên lại phải ký hợp đồng ủy quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm
quyền. Nhiều trường hợp bên thế chấp không chấp nhận thỡ khụng thể bỏn đấu
giá, khi đó cũng không có cơ chế cho tổ chức tín dụng được tự bán đấu giá tài
sản để thu hồi nợ. Ngoài ra, việc xử lý tài sản bảo đảm cũn gõy khú khăn cho
quá trỡnh giải quyết tranh chấp khi một số đơn vị, cá nhân thực thi pháp luật cũn
chưa nghiêm túc. Sau khi các khoản nợ đó được cơ quan pháp luật xét xử, bản
án đó cú hiệu lực phỏp luật và được chuyển cho cơ quan thi hành án ra quyết
định thi hành án thỡ việc thu hồi nợ ở khõu này cũn quỏ chậm. Người phải thi
hành cố tỡnh khụng chấp hành ỏn. Bên cạnh đó đơn vị thi hành án không thường

thời hạn như quyết định của bản án.
Bên cạnh đó, một khó khăn nữa trong cơ chế giải quyết tranh chấp là không
có sự qua lại, phối hợp giữa cơ quan cấp lại giấy đăng ký quyền sở hữu và ngân
hàng. Vỡ 2 cơ quan này hoạt động độc lập với nhau nên có một thực tế xảy ra là
nếu một người đó thế chấp ở ngõn hàng quyền sử dụng đất,nhưng lấy lý do làm
mất giấy chứng nhận quyền sử dung đất để yêu cầu cơ quan cấp giấy chứng
nhận sử dụng đất cấp lại. Hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm
chưa hoàn chỉnh, đồng bộ và thiếu thống nhất giữa các văn bản, việc đăng ký
giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở trong
quản lý.
2.5. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng của toà án:
Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được quy định tại Chương X
của BLTTDS. Tuy nhiên khi thực hiện những quy định này vẫn gặp một số khó
khăn nhất định trong việc triệu tập đương sự nhất là trong trường hợp đương sự
cố tình trốn tránh không nhận giấy triệu tập của toà án hoặc đương sự đang ở
nước ngoài…Mặt khác, sự hỗ trợ của các cơ quan hành chính địa phương


Chuyªn ®Ò thùc tËp
(UBND xã, phường, thị trấn) trong việc tống đạt giấy triệu tập của toà án cho
đương sự chưa được quan tâm đúng mức.
2.6. Về điều kiện vật chất, trang thiết bị của Toà án:
Hiện nay toà án nhân dân tỉnh Nghệ An chưa có trang thiết bị dành riêng để
giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và các tranh chấp
HĐTD nói riêng. Để giải quyết các tranh chấp HĐTD, toà án cần có những
phòng xử án thiết kế hiện đại như có laptop, máy điều hoà, máy chiếu để công
bố các tài liệu do các bên cung cấp. Phòng xử án, vị trí chỗ ngồi của các bên, hệ
thống đèn điện cũng cần được nâng cấp để đảm bảo việc giải quyết vụ án mang
tính thân thiện và hiện đại chứ không trang nghiêm như phòng xử án hình sự.
Toà án cũng cần xây dựng phòng hoà giải phục vụ cho việc giải quyết án tranh

chuyển nhượng cần có thiện chí, có trách nhiệm tạo điều kiện hỗ trợ khi có yêu
cầu của ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm nhanh chóng và đơn giản hoá thủ
tục vốn đó rườm rà hiện nay.
Về pháp luật nội dung, cần hoàn thiện các quy định pháp luật trong giải
quyết tranh chấp HĐTD. Trong quy chế cho vay có quyết định 1627/2001/QĐNHNN ngày 31/12/2001 và quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 sửa
đổi quyết định 1627 quy định quyền hạn của ngân hàng trong việc xử lý tài sản
bảo đảm cũn chung chung, chưa rừ ràng.Vỡ vậy, cần sửa đổi các văn bản pháp
luật trên quy định cụ thể hơn về quyền hạn của ngân hàng trong việc định giá tài
sản để xử lý thu hồi nợ. Có như vậy mới tạo nên cơ sở pháp lý rừ ràng, tránh gây
ra mâu thuẫn trong việc giải quyết tranh chấp. Để bảo vệ quyền và lợi ích của
các bên liờn quan thỡ việc định giá tài sản bảo đảm phải tuân theo nguyên tắc
nhất định. Trước hết, ngân hàng và bên bảo đảm thoả thuận về giá xử lý tài sản
bảo đảm tại thời điểm xử lý và lập biên bản thoả thuận việc định giá. Trường
hợp các bên không thoả thuận được thỡ việc định giá do ngân hàng quyết định.
Nhưng trước khi ngân hàng quyết định giá xử lý tài sản bảo đảm, ngân hàng
thuê hoặc tham khảo giá đó được tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định
giá thực tế tại địa phương, giá quy định của Nhà nước và các yếu tố khác về giá
(nếu có).


Chuyªn ®Ò thùc tËp
Bên cạnh đó, để góp phần giải quyết tranh chấp HĐTD được tốt hơn đũi hỏi
cỏc nhà làm luật sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm tiền vay, nghị định
163/2006/NĐ-CP và pháp luật đăng ký giao dịch bảo đảm, nghị định
08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 làm cơ sở pháp lý rừ ràng trong việc giải quyết
tranh chấp HĐTD. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất khi thế chấp hay dùng
để bảo lónh chỉ cần đăng ký giao dịch bảo đảm, không nhất thiêt phải làm thủ
tục công chứng. Việc có công chứng tài sản bảo đảm hay không là do tổ chức tín
dụng và khách hàng tự thoả thuận.
Các nhà làm luật cần ban hành văn bản hướng dẫn nghị định 163/2006/ NĐCP về bảo đảm tiền vay về cách thức, thời gian xử lý tài sản bảo đảm rừ ràng,cụ

Để tạo điều kiện tốt nhất trong giải quyết tranh chấp HĐTD, tũa ỏn nhõn dõn
tỉnh Nghệ An cần cú sự đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện
đại góp phần vào việc giải quyết tranh chấp của tũa ỏn được tiến hành một cách
nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Các tranh chấp xảy ra trong việc thực hiện HĐTD thường xuất phát từ
nguyên nhân ý thức của người dân chưa cao. Để xảy ra các tranh chấp khởi kiện
tại toà án thỡ người đi vay đó khụng tự giỏc thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến
hạn, họ đó khụng cú tinh thần trỏch nhiệm cao trong giao kết và đó khụng chấp
hành tốt thoả thuận cỏc bờn trong hợp đồng. Vấn đề đặt ra là ý thức người dân
cần phải được nâng cao hơn nữa, họ phải thực hiện trên tinh thần tự nguyện và
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mỡnh trong hợp đồng. Có nâng cao được
ý thức của người dân như vậy thỡ cỏc tranh chấp sẽ phần nào giảm đi và hơn
nữa sẽ giúp quá trỡnh giải quyết tranh chấp HĐTD ở toà án sẽ nhanh chóng hơn
một khi người dân đi vay đó cú ý thức tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mỡnh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status