Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp tại tòa án qua thực tiễn tại huyện thường tín và huyện phú xuyên thành phố hà nội - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------***--------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VAY TÀI SẢN CÓ THẾ CHẤP TẠI TÒA ÁN QUA
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN VÀ
HUYỆN PHÚ XUYÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LÊ ANH PHƯƠNG

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------***--------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VAY TÀI SẢN CÓ THẾ CHẤP TẠI TÒA ÁN QUA
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN VÀ
HUYỆN PHÚ XUYÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LÊ ANH PHƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

Nội đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số
liệu để hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Mặc dù đã có sự cố gắng và tận tâm, nhưng do còn hạn chế về kinh nghiệm
thực tiễn, kiến thức nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy, Cô giáo và những người quan tâm để
Luận văn Thạc sỹ của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin kính chúc Thầy, Cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn mạnh
khỏe, hạnh phúc và đạt nhiều thành công trong cuộc sống!
Trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN CÓ THẾ CHẤP .......................................... 6
1.1. Khái quát chung về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế
chấp .................................................................................................................... 6
1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp ............................. 6
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp ............................... 8
1.1.3. Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp và phương thức
giải quyết ............................................................................................................ 9
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có
thế chấp Tại tòa án........................................................................................... 15
1.2.1. Các nguyên tắc chung ........................................................................... 15

tín dụng vay tài sản có thế chấp tại tòa án ...................................................... 63
3.1.1. Một số tồn tại về mặt lý luận................................................................. 63
3.1.2. Một số tồn tại thực tiễn ......................................................................... 63
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng vay tài sản có thế chấp tại Tòa án .......................................................... 64
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng vay tài sản có thế chấp tại tòa án ...................................................... 65
3.3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nội dung .................................... 65
3.3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng....................................... 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật dân sự

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

HĐTD

Hợp đồng tín dụng



LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, vấn đề nâng cao
hiệu quả xét xử của Tòa án luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Chủ trương
này được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ
chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới,
Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020 và
được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch,
vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ
nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà
trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao". Với việc
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như ở Việt Nam hiện nay, các
hoạt động kinh doanh, thương mại đặc biệt là các hoạt động tín dụng của ngân hàng
đang ngày càng phát triển cả về chất và lượng.
Về lý luận, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của
nền kinh tế hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng
hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những
giai đoạn cao hơn. Có thể hiểu tín dụng là:
“ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai
chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử
dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả
theo thời hạn đã thoả thuận.”
Trong các hoạt động tín dụng thì cho vay là một trong những hoạt
động thông dụng. Theo đó, hoạt động cho vay được biết đến với những đặc trưng:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá,
máy móc, thiết bị, bất động sản.

vay tài sản có thế chấp tại Tòa án luôn thu hút được sự quan tâm không chỉ giới
kinh doanh mà còn của các nhà nghiên cứu. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh

2


thương mại thông qua Tòa án không phải là một vấn đề mới trong khoa học pháp lý
Việt Nam. Có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau và ở nhiều khía
cạnh khác nhau như: luận văn tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh tế tại Tòa án và thực tiễn áp dụng” của Lê Thị Huyền năm 2004; luận văn tốt
nghiệp với đề tài “Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong kinh doanh thương mại
tại Tòa án - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Bùi Thái Hà năm 2008; luận
văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Vân với đề tài "Giải quyết tranh chấp công ty
bằng Tòa án ở Việt Nam" năm 2008, Luận văn thạc sỹ của Cung Mỹ Anh với đề tài
"Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục" năm 2008, luận án tiến sỹ với
đề tài "Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam"
của Đào Văn Hội năm 2003…
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành về pháp luật cũng đã có không ít các bài
viết về loại đề tài này như: Ngô Cương (2010), " Áp dụng các quy định của BLTTDS
trong việc giải quyết các vụ án về kinh doanh, thương mại", Tạp chí Tòa án nhân dân,
(14), tr.11/13; Viên Thế Giang (2005), "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
theo quy định của BLTTDS 2004" Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, (12), tr.49-52; Lê
Văn Luật (2008), Về bài " Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân", Tạp chí Toàn án nhân dân (12), tr.35-36; Dương Nguyệt
Nga (2007), " Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo
pháp luật Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Tòa án nhân dân,
(16) tr.4/10; Vũ Thị Hồng Vân (2007), " Một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả các
quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định
của BLTTDS", Tạp chí kiểm sát (15)m tr. 27-30; Vũ Thị Hồng Vân (2006), "Về mở

Chương 1: Khái quát chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay
tài sản có thế chấp
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế
chấp tại TAND huyện Phú Xuyên và huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và hoạt động giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp tại Tòa án.

5


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN CÓ THẾ CHẤP

1.1. Khái quát chung về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp
1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp
Trong khoa học pháp lý còn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hợp đồng
tín dụng vay tài sản có thế chấp như: Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng thương mại hay
Hợp đồng kinh doanh, thương mại. Mỗi khái niệm đều có nội hàm rộng hẹp khác
nhau. Nhìn chung, chúng đều được hiểu là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể trong quan hệ tín dụng vay có thế chấp tài sản.
Về bản chất, hợp đồng là sự ghi nhận thỏa thuận của hai hay nhiều bên làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo đó, hợp đồng tín
dụng vay tài sản có thế chấp là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho vay và
nhận thế chấp là tổ chức tín dụng (Ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài
chính….) có đủ điều kiện hoạt động cho vay do pháp luật quy định với bên vay là tổ
chức, cá nhân và bên thế chấp tài sản (có thể là chính bên vay thế chấp hoặc người
thứ ba thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cho bên vay). Căn cứ vào hợp đồng, tổ
chức tín dụng chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi và bên vay hoặc bên thế chấp phải thế

lãnh, kỹ quỹ bằng tài sản của khách hàng vay hoặc bằng tài sản, tín chấp của bên
thứ ba.
Như vậy, hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp có thể hiểu là thỏa thuận
vay tài sản giữa một bên là tổ chức tín dụng trong quá trình hoạt động cho vay nhằm
mục đích sinh lợi (gọi là bên cho vay) với bên vay; bên vay phải đảm bảo nghĩa vụ
thanh toán tiền vay bằng tài sản của mình hoặc tài sản của người thứ ba (gọi là bên
thế chấp).

7


1.1.2. Đặc điểm hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp
Mỗi loại hợp đồng đều mang những đặc điểm riêng, phụ thuộc vào tính chất
của mối quan hệ pháp luật, chủ thể của các mối quan hệ đó cũng như lợi ích của
mối quan hệ đó mang lại. Hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp mang những
nét đặc trưng cơ bản sau đây:
- Phải được lập thành văn bản, có nội dung về điều kiện vay vốn, mục đích
sử dụng vốn, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức
bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác.
- Khác với các hợp đồng vay khác, hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp
quy định về mục đích sử dụng vốn vay. Trong thời hạn vay vốn, nếu bên vay sử
dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận thì bên cho vay được phép chấm
dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn.
- Hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp luôn đi kèm hợp đồng bảo đảm
tiền vay và phương thức xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên vay không thực
hiện đúng nội dung thỏa thuận.
- Hợp đồng tín dụng vay có tài sản thế chấp vô hiệu mà các bên chưa thực
hiện hợp đồng thì giao dịch đảm bảo chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc
toàn bộ hợp đồng thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt trừ trường hợp có thỏa
thuận khác.

tín dụng vay tài sản có thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng của Nhà nước với
doanh nghiệp Nhà nước để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được các cơ quan Nhà
nước phê duyệt từ trước. Các tranh chấp tín dụng vay tài sản trong giai đoạn này
không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh doanh, thương mại. Tranh chấp phát
sinh do xung đột lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất
phát từ quyền lợi thiết thực của các bên mà chủ yếu vì sự ổn định, hài hòa chung
cho cả nền kinh tế.
Trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh
tế thế giới. Với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007, ngày
càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh các doanh nghiệp Nhà
nước và hợp tác xã, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu

9


tư nước ngoài, các loại hình công ty và hộ kinh doanh cá thể. Các quan hệ tín dụng
vay tài sản xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú và tích chất phức
tạp. Trong điều kiện đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường kinh doanh lành
mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự
do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của
mình. Trong giai đoạn này, kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là
mục tiêu của các doanh nghiệp. Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh
chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham quan hệ
tín dụng. Đồng thời cũng đặt ra nhu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của
khái niệm về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng, tranh chấp hợp đồng tín dụng vay
tài sản có thế chấp là một trong những tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương
mại theo quy định của BLTTDS 2004. Nội dung của tranh chấp được liệt kê tại
Điều 25, Điều 29 BLTTDS 2004, trong đó bao gồm cả tranh chấp hợp đồng tín

Để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thực
hiện biện pháp bảo đảm là thế chấp bằng tài sản. Trong HĐTD vay có tài sản thế
chấp, tổ chức tín dụng cho vay luôn có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để
thu hồi nợ, bất luận tài sản bảo đảm đang nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai.
Quyền này của các tổ chức tín dụng được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức
tín dụng (bên nhận thế chấp) với khách hàng vay hoặc người thứ ba có tài sản (bên
thế chấp). Với tư cách là một chủ nợ và là bên nhận thế chấp, khi đến hạn mà khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín
dụng được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp trước các chủ nợ
được bảo đảm đăng ký sau hoặc trước những chủ nợ không được bảo đảm bằng tài
sản đó.
Qúa trình xác lập, thực hiện giao dịch thế chấp và xử lý tài sản thế chấp được
quy định tại các Điều từ 236 đến Điều 371 BLTTDS 2004, Nghị định của Chính
phủ số 11/2012/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật,
nên rất dễ phát sinh tranh chấp.
Dạng tranh chấp liên quan đến định giá, xử lý tài sản thế chấp cũng chiếm
một tỷ lệ khá lớn. Trên thực tế có những tranh chấp phát sinh do tài sản thế chấp

11


không thuộc quyền sử hữu hợp pháp của người thế chấp hoặc chỉ thuộc sở hữu hợp
pháp một phần của người thế chấp, cũng có trường hợp một tài sản nhưng được thế
chấp tại nhiều ngân hàng.
Dạng tranh chấp nữa của HĐTD vay có tài sản thế chấp là tranh chấp về chủ
thể xác lập, thực hiện hợp đồng. Trên thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh do bên vay
ký HĐTD không đúng thẩm quyền, ví dụ như Công ty Cổ phần A do ông B – Phó
giám đốc công ty đứng ra ký kết HĐTD vay tiền của Ngân hàng B, trong khi đó ông
C – Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật Công ty Cổ phần A không phân

mặt thời gian như trong thủ tục tố tụng tại Tòa án; hòa giải mang tính thân thiện
nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai
bên; hòa giải là mong muốn của các bên dàn xếp vụ việc sao cho không có bên nào
bị thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng
tại Tòa án.
Các bên trong vụ việc tranh chấp hoàn toàn có quyền chủ động trong việc
tìm kiếm một hòa giải viên có đủ hiểu biết để tham gia giải quyết tranh chấp.
Nhưng trong thực tiễn kiện tụng tại Tòa thì các bên không có quyền lựa chọn cán bộ
giải quyết trừ một số trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án hoặc Hội
đồng xét xử theo quy định của pháp luật. Một điều quan trọng khác mà các nhà kinh
doanh cũng rất quan tâm là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát
được các tài liệu chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) trong khi giải
quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo hoàn toàn do Tòa án thực
hiện xét xử theo nguyên tắc công khai, trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật
quy định thì Tòa án mới thực hiện xét xử kín.
Bên cạnh những ưu điểm trên, giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng
tín dụng bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định:
Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên,
hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ
vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi
hành như phán quyết của trọng tài hay của tòa án. Thủ tục này ít được sử dụng nếu
các bên không có sự tin tưởng với nhau.

13


c. Giải quyết bằng Trọng tài thương mại
Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo
quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút
ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết

uy tín nhất là đối với doanh nghiệp.
Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án là: Do là cơ
quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế cao; trong
trường hợp bên vay không tự tiến hành định đoạt tài sản để trả nợ cho tổ chức tín
dụng thì phán quyết của Tòa án là cơ sở vững chắc nhất để cơ quan Thi hành án tiến
hành cưỡng chế phát mại tài sản thế chấp thu hồi nợ cho tổ chức cấp tín dụng. Do
đó, phương thức giải quyết bằng Tòa án là phương thức tối ưu nhất mà các tổ chức
tín dụng sử dụng khi giải quyết tranh chấp với bên vay trong quan hệ hợp đồng tín
dụng vay tài sản có thế chấp.
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế
chấp Tại tòa án
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản có thế chấp
tại Tòa án chính là những nguyên tắc giải quyết tranh chấp dân sự được quy định tại
Bộ luật TTDS năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011).
1.2.1. Các nguyên tắc chung
1.2.1.1 Nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu đó.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt,
thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không
trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Tranh chấp HĐTD vay tài sản có thế chấp đòi hỏi phải được giải quyết thỏa
đáng bằng một phương thức chọn lựa phù hợp để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên tranh chấp, vừa đảm bảo trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, giáo
dục được ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần chủ động ngăn ngừa
các vi phạm Hợp đồng.

15

16


bảo sự khách quan của những người tiến hành trong tham gia tố tụng, đảm bảo
quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.
1.2.1.5 nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên
Khi giải quyết tranh chấp, cơ quan giải quyết phải dựa trên sự thật khách
quan và hồ sơ vụ án. Các bên đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tín
ngưỡng tôn giáo, trình độ... tạo mọi điều kiện để các bên thực hiện quyền của mình
cũng như đảm bảo quyền tự bảo vệ của đương sự.
1.2.2. Các nguyên tắc cụ thể khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài
sản có thế chấp tại Tòa án
1.2.2.1 Nguyên tắc bảm đảm tính độc lập, khách quan
Yêu cầu đặt ra của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản
có thế chấp tại Tòa án phải luôn đảm bảo tính độc lập của Tòa án. Trong bất kỳ
trường hợp nào, Tòa án xét xử phải hoàn toàn độc lập và chỉ căn cứ vào các quy
định của pháp luật để thực hiện chức năng của mình. Cụ thể:
- Trong hoạt động xét xử Tòa án không bị lệ thuộc, bị áp lực từ phía cơ quan
khác kể cả cơ quan Đảng và Ngân hàng Nhà nước.
- Tòa án cấp dưới khi xét xử phải không lệ thuộc vào sự chỉ đạo cũng như ý
kiến chỉ đạo của cơ quan Tòa án cấp trên. Đối với từng tranh chấp, Tòa án phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật và những gì diễn ra tại phiên tòa để phán
xét. Nếu thấy vướng mắc về vấn đề tố tụng, đánh giá chứng cứ…Tòa án cấp dưới
có quyền làm văn bản xin ý kiến của Tòa án cấp trên để được hướng dẫn. Trong
thẩm quyền của mình, nếu thấy có sự xung đột luật hay mâu thuẫn trong văn bản
áp dụng thì Tòa án cấp trên chưa hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa đầy đủ thì Tòa
án cấp trên phải hướng dẫn cho Tòa án cấp dưới cách áp dụng pháp luật sao cho
chuẩn xác nhất.
- Thành viên Hội đồng xét xử phải độc lập với nhau: Do Tòa án xét xử tập
thể và quyết định theo đa số. Trong quá trình xét xử Thẩm phán và các Hội thẩm

- Nghị định 116/CP/1994 về thẩm quyền giải quyết của Trọng tài kinh tế;
- Nghị định 70/HĐBT/1991 về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp
đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status