BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MAI THỊ XOAN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN PHÚ XUYÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./.
Hà nội, ngày…. tháng…. năm 2014
Tác giả luận văn Mai Thị Xoan Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 3
1.1.1 Giai đoạn 1945 - 1954 3
1.1.2 Giai đoạn 1995 – 1975 3
1.1.3 Giai đoạn 1976 – 1985 5
1.1.4 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau thời kỳ đổi mới (từ 1986
đến nay) 7
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa 8
1.2.1 Ruộng đất manh mún 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 12
1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phân loại hiệu quả sử dụng đất 16
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất 16
1.3.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất 17
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.3.3 Kết quả thực hiện công tác dồn diền đổi thửa đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Phú Xuyên 54
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 56
3.4.1 Đặc điểm các loại hình sử dụng đất của huyện Phú Xuyên 56
3.4.2 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính tại huyện Phú Xuyên 59
3.4.3 Hiệu quả xã hội 66
3.5 Lựa chọn các LUT có hiệu quả 76
3.5.1 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả 76
3.5.2 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 của
huyện Phú Xuyên 77
3.6 Những khó khăn còn gặp phải trong công tác dồn điền đổi thửa. 79
3.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
sau công tác dồn điền đổi thửa; 80
3.7.1 Giải pháp về thị trường 80
3.7.2 Giải pháp về vốn đầu tư 81
3.7.3 Các giải pháp về nguồn nhân lực 82
3.7.4 Các giải pháp về cơ sở hạ tầng 83
3.7.5 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 84
3.7.6 Giải pháp môi trường 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
Kết luận 86
Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế huyện Phú Xuyên giai đoạn
2000- 2013 33
3.2 Kết quả sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 35
3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế ngành nông nghiệp 36
3.4 Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng chính huyện
Phú Xuyên giai đoạn 2005- 2013 37
3.5 Diễn biến ngành chăn nuôi huyện Phú Xuyên giai đoạn 2005 – 2013 38
3.6 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Xuyên năm 2013 47
3.7 Biến động đất đai theo mục đích sử dụng huyện Phú Xuyên 49
3.8 Một số chỉ tiêu trước và sau DĐĐT tại các xã nghiên cứu 55
3.9 Một số loại hình sử dụng đất chính của huyện trước và sau dồn điền
đổi thửa 57
3.10 Hiệu quả kinh tế các cây trồng tại huyện trước dồn điền đổi thửa 60
3.11 Hiệu quả kinh tế các cây trồng tại huyện sau dồn điền đổi thửa 61
3.12 Hiệu quả kinh tế các LUT trước dồn điền đổi thửa 62
3.13 Hiệu quả kinh tế các LUT sau dồn điền đổi thửa 64
3.14 Mức độ chấp nhận của người dân với các loại hình sử dụng đất 67
3.15 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động
của các kiểu sử dụng đất chính tại các xã nghiên cứu 69
3.16 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn phân bón cân đối và hợp lý 71
3.17 Mức độ sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật 74
3.18 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.
Sự manh mún ruộng đất dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp,
hạn chế, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất gây nên
những khó khăn trong quản lý và sử dụng đất đai.
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, việc đồn đổi ruộng đất từ thửa
nhỏ thành thửa lớn là việc làm rất cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới,
tạo điều kiện cho các hộ nông dân yên tâm sử dụng và khai thác đất đai một cách có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
hiệu quả đồng thời nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa hay công tác chuyển đổi
ruộng đất đã được nhiều tỉnh thực hiện. Tuy nhiên, mức độ thành công ở mỗi địa
phương là khác nhau kể cả trong cách tổ chức, thời gian và kết quả đạt được.
Huyện Phú Xuyên đã thực hiện dồn điền đổi thửa theo kế hoạch số 68/KH-
UBND, ngày 09/5/2012 của UBND thành phố Hà Nội về thực hiện dồn điền đổi
thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2012-2013.
Để đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Phú
Xuyên. Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện đã đáp ứng được nhu cầu của người
dân chưa? Công tác dồn điền đổi thửa mang lại hiệu quả gì đối với sản xuất nông
nghiệp? Trước những vấn đề trên, với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hữu
Thành, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa trong sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phú Xuyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm được tình trạng dồn điền đổi thửa tại huyện.
Tháng 9/1954 Bộ Chính trị ra quyết định thực hiện hoàn thành cải cách
ruộng đất và kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (1955 – 1957); tháng 5/1955 Quốc
Hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp nhằm khôi phục
kinh tế sau chiến tranh (Khi chiến tranh kết thúc, 140.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang
hóa; 200.000ha không có nước tưới); Tháng 8/1955 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
hành Trung ương Đảng khóa II đã thông qua chủ trương xây dựng thí điểm hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp (HTXSXNN).
Năm 1955 có 6 HTXSXNN được thành lập ở các tỉnh Phú Thọ, Thái
Nguyên, Thanh Hóa; Năm 1956 có 26 HTXSXNN được thành lập; đến tháng
10/1957 có 42 HTXSXNN được thành lập. (Nguyễn Đình Bồng, 2012).
Tháng 11/1958 Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
II đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc
(1958 – 1960): “ Đẩy mạng cuộc cách mạng XHCN đối với thành phần kinh tế
cá thể của nông dân, thợ thủ công và cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế tư
bản tư doanh, đồng thời phải ra sức phát triển kinh tế quốc doanh”; “Hợp tác hóa
nông nghiệp là cái khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo XHCN ở miền
Bắc nước ta. Mục tiêu là đến năm 1960 phải căn bản hoàn thành HTX bậc thấp,
tức là phải thu hút được tuyệt đại bộ phận nông dân cá thể vào HTX”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã đề ra đường lối xây
dựng CNXH ở miền Bắc: “đối với nông nghiệp, phương hướng là tiếp tục thu hút
nông dân cá thể vào HTX bậc thấp, từng bước chuyển lên bậc cao; mở rộng quy mô
HTX, kết hợp hoàn thiện quan hệ sản xuất với phát triển lực lượng sản xuất với phát
triển lực lượng sản xuất. Quá trình hợp tác hóa nông nghiệp đã diễn ra nhanh chóng,
với sự tập trung cao độ ruộng đất, lao động và các tư liệu sản xuất; từ hợp tác xã bậc
thấp chuyển lên hợp tác xã bậc cao, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt để, chế độ sở
hữu tập thể về ruộng đất đã được thiết lập”.
Năm 1965 Hội nghị lần thứ 11,12 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III
thức các tổ hợp tác lao động và tập đoàn sản xuất; ở Nam Bộ thí điểm xây dựng
HTX ở Tân Hội (Tiền Giang), Ô Môn (Hậu Giang), Long Thành (Đồng Nai); Mô
hình tập thể hóa nông nghiệp đạt đến đỉnh cao, hoàn chỉnh, phân công lao động
trong HTX nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa. (Nguyễn Đình Bồng, 2012).
1.1.3. Giai đoạn 1976 – 1985
Đại Hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV tháng 12/1976 quyết định
đường lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Chủ trương xây dựng cấp huyện,
hoàn thiện xây dựng HTX quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn được
tiếp tục khẳng định: “ Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa
bỏ kiểu tổ chức sản xuất và ăn chia theo đội. Thực hiện việc quản lý, sử dụng ruộng
đất tập trung, thống nhất trên quy mô HTX. Các HTX phân phối lại ruộng đất manh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
mún”; “Chuyển sản xuất tập thể từ kiểu làm ăn phân tán, tự cấp tự túc sang sản xuất
theo quy hoạch và kế hoạch thống nhất của huyện”; “ Về cải tiến quản lý, tổ chức
lao động theo hướng tập trung, dưới sự điều hành thống nhất của ban quản trị
HTX”. Trên cơ sở định mức lao động, xếp cấp bậc công việc, tiêu chuẩn tính công,
HTX xây dựng kế hoạch 3 khoán”. (Nguyễn Đình Bồng, 2012).
Thực hiện Chỉ thị 57 CT-TƯ ngày 14/3/1978 Bộ Chính Trị “về việc nắm
vững và đẩy mạnh công tác cải tạo nông nghiệp miền Nam” và Chỉ thị 43 CT-
TƯ ngày 15/11/1987 Bộ Chính Trị “về việc xóa bỏ các hình thức bóc lột của phú
nông, tư sản nông thôn và tàn dư bóc lột phong kiến, thực sự phát huy quyền
làm chủ của nông dân lao động, đẩy mạnh cải tạo XHCN đối với nông nghiệp ở
các tỉnh phía Nam”.
Ngày 13/1/1980 Ban Bí thư TƯ Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100 về “Cải
tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong
HTX nông nghiệp”. Chỉ thị nêu rõ: “HTX nông nghiệp phải quản lý chặt chẽ và sử
dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, sức kéo, phân bón, các
công cụ và cơ sở vật chất kỹ thuật tập thể”; “Tổ chức tốt việc giao diện tích ruộng
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh
vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai đã ra đời.
Những chính sách quan trọng nhất là Luật Đất đai năm 1993, sau đó là Luật đất đai sửa
đổi năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định
phân bố đất rừng và đất nông nghiệp. Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên
quan đến hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề về đất đai.
Theo Luật đất đai năm 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng
đất lâu dài với 5 quyền: Quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê,
quyền thừa kế và quyền thế chấp. Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong
thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm. Việc giao đất
sẽ được tiến hành tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn
có nhu cầu sử dụng. Luật đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân,
cụ thể như quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm là 2 ha đối với các tỉnh miền
Bắc và miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh ở miền Nam Cùng với việc giao đất
nông nghiệp thì việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan
chức năng xem xét và cấp cho các hộ nông dân. Đến năm 1998, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
trên 90%. (Ban Kinh tế, 2004).
Đối với đất rừng ở khu vực Trung du và Miền núi nơi có rất nhiều phong tục
tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm
hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục. Vào năm 2003, người nông dân được
giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu
tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất. (Luật Đất đai năm 2003).
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay
đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu
vực nông thôn. Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn
1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003. An toàn lương thực quốc
nhỏ ruộng đất cho nông dân, đó là:
- Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, ruộng xa, tốt, xấu, cao, thấp. Có như
vậy mới thể hiện tính công bằng;
- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ;
- Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải chia
đều ruộng đất cho các hộ;
- Có những chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua,
mặn Do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong khi
chia ruộng.
1.2.1.3. Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông
nghiệp và quản lý Nhà nước ở địa phương
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây nhiều khó khăn cho người nông dân
và các nhà quản lý. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động tiêu cực của sự
manh mún ruộng đất, cụ thể như sau:
- Manh mún ruộng đất dẫn đến giảm sản xuất nông nghiệp do bờ ngăn, bờ
thửa (theo tính toán có thể giảm từ 2,4 – 4% diện tích đất nông nghiệp);
- Manh mún ruộng đất làm tăng chi phí sản xuất cao hơn, chi phí lao động
cao bởi nông dân phải tốn nhiều công để đi từ mảnh ruộng này đến mảnh ruộng
khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều mảnh nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu
vào và đầu ra cao hơn;
- Manh mún ruộng đất làm hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hóa nông
nghiệp, hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất;
- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ
địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Tóm lại, manh mún ruộng đất dẫn đến tình trạng hiệu quả sản xuất thấp, chấp
lượng sản phẩm thấp, thiếu khả năng cạnh tranh, không đáp ứng được việc xây
dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH – HĐH nông
Bảng 1.1. Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Nước
Quy mô trang trại (ha)
Năm 1950 Năm 1970 Năm 1990
Mỹ 86,00 151,00 185,00
Anh
36,00
55,00
75,00
Pháp 14,00 23,00 29,00
Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm 1998
1.2.2.2. Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Các nước thuộc Châu Á, bình quân ruộng đất ít, quy mô trạng trại nhỏ nên
việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như ở các nước Âu, Mỹ. Ngay ở Nhật Bản là
một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có tình
trạng như vậy. Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, Chính phủ có chủ
trương hạn chế việc bán ruộng đất, đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất. Về
sau đã thay đổi chủ trương này, nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp. Tuy
nhiên, ở Nhật Bản có kinh nghiệm đáng quan tâm là họ có giải pháp hạn chế việc
chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân. Một hộ có nhiều con trai, theo tập
quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng
và chăm sóc bố mẹ già, còn các con khác phải đi làm nghề khác ngoài nông nghiệp,
không chia ruộng cho tất cả các con.
Ở Đài Loan, có kinh nghiệm đáng chú ý về biện pháp tích tụ ruộng đất trong
điều kiện ruộng đất có hạn. Thời gian bắt đầu công nghiệp hoá, nông dân đi làm
ngoài nông nghiệp có thu nhập cao hơn làm nông nghiệp, nhưng không muốn giao
triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. (Bộ Tài nguyên & Môi trường, năm 2003).
Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là, để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia
vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn;
Hai là, thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại
ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định. Theo cách này, các địa phương đều
xác định dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với
ruộng đất đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này
có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi
khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau.
Từ những hạn chế của vấn đề manh mún ruộng đất cho thấy chủ trương và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
việc tiến hành dồn điền đổi thửa là rất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa.
1.2.3.2. Tình trạng ruộng đất manh mún ở Việt Nam
Nghị quyết 10-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 10”) đã giúp Việt Nam từ nước nhập khẩu lương
thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Tuy nhiên, đến nay
“Khoán 10” đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi đất nước bước vào công cuộc
CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Khảo sát của Viện Quy hoạch và thiết kế
nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân cho rằng ruộng đất manh mún đã gây
cản trở cho sản xuất. (Viện quy hoạch và phát triển nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, năm 2003).
Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993 về việc giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài với mục đích sản xuất
nông nghiệp theo phương châm có tốt, có xấu, có gần, có xa. Điều này đã làm cho
số thửa ruộng tăng lên đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998,
7 Đồng bằng sông Cửu long 3 10 3000 - 5000 500 – 1000
(Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)
1.2.2.3. Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh trong nước.
Quy mô diện tích đất sản xuất của các hộ nông dân sau khi được giao đất và
cấp GCNQSDĐ là rất nhỏ bé, nhất là đối với các tỉnh miền Bắc. Thực trạng này đặt
ra yêu cầu phải tập trung lại đất nông nghiệp đối với mỗi hộ sản xuất, giảm số thửa
và tăng quy mô mỗi thửa ở từng hộ để tạo ra những diện tích sản xuất tập trung
cùng loại sản phẩm ở từng địa phương. Đặc biệt khi sản xuất hàng hóa đã bắt đầu
phát triển, người sản xuất phải tính toán hiệu quả kinh tế, tìm các giải pháp để giảm
chi phí sản xuất.
Nhận thức được sản xuất manh mún, chưa tạo ra được những vùng sản xuất
lớn, tập trung nên sản phẩm nông nghiệp chưa thực sự trở thành hàng hóa, giá trị
nông nghiệp chưa cao. Thái Bình xác định công tác dồn điền đổi thửa là nhiệm vụ
quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã
phê duyệt Đề án số 214/QĐ-UBND ngày 15/2/2011 về việc dồn điền đổi thửa đất
nông nghiệp, thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới và Kế hoạch số 20/KH-
UBND ngày 16/8/2011 về kế hoạch dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp thực hiện
quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Kết quả đến hết quý I năm 2013, Thái Bình cơ
bản đã thực hiện xong dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng. Tỉnh đã
giảm được 499.930 thửa, chỉ còn 462.187 thửa, bình quân chung toàn tỉnh là 1,79
thửa/hộ. Cùng với kết quả dồn điền đổi thửa, người dân đã tự nguyện góp trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
2.000ha đất để làm công trình giao thông, thuỷ lợi nội đồng. Khối lượng đào đắp
giao thông, thuỷ lợi nội đồng bình quân mỗi xã khoảng 50.000m
3
. Hệ thống giao
thông, thuỷ lợi nội đồng được các xã thực hiện theo đúng quy hoạch. Cụ thể, thiết